Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Mù mờ và hội nhập cùng GS. Phong Lê

(Tiếp theo số báo 549, ngày 6-6-2019)

 

Giáo sư Phong Lê không phải là một ngoại lệ. Một số giáo sư đầu ngành văn học, giáo dục và sử học, ở những hình thức và mức độ khác nhau đã đưa ra những luận điểm, không còn là mù mờ mà là quá mù ra mưa như các GS. Phan Huy Lê, Hồ Ngọc Đại, Trần Đình Sử… Trước hết, hãy tìm hiểu quá trình từ sáng láng đến mù mờ của GS. Phong Lê là như thế nào.

Từ Đổi Mới (1986) đến nay, GS. Phong Lê đăng đàn rất nhiều về lý luận văn học trên cả tầm vĩ mô và vi mô, đặc biệt về văn hóa dân tộc, bản sắc dân tộc trong đối sánh – chữ thường dùng của GS. Phong Lê – với nhân loại, truyền thống với hiện đại, dân tộc với hiện đại…

Về bản sắc văn hóa dân tộc, ngay từ tháng 6-1996, GS. Phong Lê viết:

“Bản sắc dân tộc trong văn hóa Việt Nam là gì? Đó quả là vấn đề thật rộng lớn, bao trùm nhiều mặt sinh hoạt tinh thần và vật chất của con người, với những nét riêng, những đặc sắc riêng, không lẫn với bất cứ ai, thể hiện trong ca dao, dân ca, chèo, tuồng; trong ca nhạc, hội họa, kiến trúc; trong đền miếu, đình chùa; trong phong tục tập quán, nếp sống, ứng xử… Trong xã hội hiện đại, mỗi dân tộc cần giữ cho được cái riêng của mình, vẫn cần được là mình – đó là điều tưởng chừng như đơn giản, nhưng quả là không dễ”.

(Văn học trên hành trình của thế kỷ XX. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 1997. Trg.490)

Mười ba năm sau, chính xác là đến ngày 9 và 10-4-2009, tại Thái Hà, ông cũng đặt lại câu hỏi “Bản sắc dân tộc trong văn hóa Việt Nam là gì?” với đúng như luận điểm đã đưa ra hồi tháng 6-1996, không thay đổi, thêm bớt một chữ nào. Bạn đọc có thể đối chiếu ở công trình Đến với tiến trình văn học Việt Nam hiện đại. NXB Hội Nhà văn – 2009. Trg.382. Sách Nhà nước đặt hàng, không đề giá bán. Về phương diện tin cậy, là cao hơn Văn học trên hành trình của thế kỷ XX do NXB Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành – 1997. Giá bìa 17.500 đồng.

Nhưng đến 20-4-2019, GS. Phong Lê lại tỏ ra còn rất mù mờ. Giáo sư có thể phản biện rằng ông viết trên Văn Nghệ số 16, ngày 20-4-2019 là viết về cái riêng của dân tộc, không phải về Bản sắc dân tộc. Về hình thức văn bản thì đúng như thế. Nhưng về nội dung văn bản, chúng tôi thiết nghĩ, cũng chỉ là một. Bản sắc dân tộc với cái riêng của dân tộc là cùng chung một nội hàm. Tại sao GS có sự thay đổi ngược chiều như thế. Chúng tôi hiểu, trong lời diễn giải năm 1996 và 2009, GS đứng ở vị thế nhà lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu về Bản sắc dân tộc, vạch ra phương hướng nghiên cứu cho cán bộ thuộc cấp, cho nghiên cứu sinh, thực tập sinh… Nào, hãy đi tìm cái riêng, nét riêng đặc sắc riêng không lẫn với bất cứ ai trong ca dao dân ca… Còn khái quát thành một hay một vài đặc trưng có thể định danh được là công việc của đám học trò. Dẫu vậy, GS cũng phải hiểu được ít nhiều về cái riêng nét riêng đó.

Sau hơn 20 năm nhất quán với luận điểm Bản sắc dân tộc (từ 1996) bỗng đến 2019, GS khẳng định ngược lại. Tình hình này chỉ có thể cắt nghĩa được vào hai trạng thái:

- Giáo sư tuyên ngôn rất hùng hồn nhưng rất chung chung về Bản sắc dân tộc mà không “nhận diện” được cụ thể nó như thế nào, dù chỉ ở một vài khía cạnh. Do đó, khi chạm vào cuộc sống thực tiễn thì GS thấy rối tung rối mù, thấy mù mờ cả ra. Nghĩa là GS rất quen lý thuyết còn thực tiễn thì không. Cho nên lớn tiếng chê cây thảo quyết minh sao lại không có củ! (Cây thảo quyết minh – cũng gọi là cây muồng muồng, có lá rất giống lá cây lạc).

- Giáo sư đã bị mất phương hướng trước thực tại phức tạp hiện nay nên cảm thấy hoang mang, mù mờ.

Trong bài trước, chúng tôi có đưa ra nguyên nhân là GS đã trở lại cái nhìn xã hội học chất phác, nên trước sự phức tạp đa chiều đa chất, không làm chủ được tư duy của mình.

So-550--Anh-minh-hoa---Mu-mo-va-hoi-nhap-cuang-GS-Phong-Le---Anh-1

GS. Phong Lê nói rất nhiều về sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, về sự không còn phe này phe kia, về nhất thể hóa, toàn cầu hóa và hội nhập… nhưng GS ít nói đến thế giới và dân tộc đang như thế nào. Và lựa chọn nào là tối ưu cho đất nước và dân tộc trong một thế giới đa phương đa cực. Đây cũng là tình hình không phải một số ít người như GS mà chúng tôi sẽ nói cụ thể dưới đây.

Trước hết, chúng tôi muốn tham khảo GS. Phong Lê một số điểm sau:

- Mục tiêu chung của nhân loại:

Giáo sư tưởng thế giới đã nhất thể hóa, toàn cầu hóa thì nhân loại cũng có chung mục tiêu!

Chúng tôi nghĩ đó là một niềm tin quá vội vàng dễ dãi. Có thể nói đến khát vọng chung của nhân loại nhưng chưa thể có mục tiêu chung của nhân loại đâu. Làm sao 13 siêu tỷ phú lại có mục tiêu chung với 3,8 tỷ người dân nghèo khổ trên toàn thế giới được. Làm sao bà Nguyễn Thị Nhung, người miệt mài lai tạo ra giống lúa mới chịu mặn thích hợp cho vùng Đồng Tháp Mười, vừa được Giải thưởng Khoa học kỹ thuật, quốc gia, cùng mục tiêu với những người chế tạo ra siêu bom 14 tấn có sức xuyên qua đá và xi măng đến hàng chục mét? Làm sao Hoa Kỳ, Iran, Triều Tiên… có mục tiêu chung. Làm sao Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á có mục tiêu chung về Biển Đông hiện nay? Làm sao Bộ Công an và Nhà nước Việt Nam có chung mục tiêu với các Tập đoàn xuyên quốc gia sản xuất và buôn lậu ma túy, đang đưa hàng tấn ma túy vào Việt Nam? Nói đơn giản, làm sao các đại gia bất động sản có chung mục tiêu với những người dân bị thu hồi đất!

- Về Hội nhập hay Toàn cầu hóa:

Chúng tôi thấy GS. Phong Lê và những người ở Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trước đây (vì đã tự giải tán rồi) rất sính dùng mấy chữ Hội nhập toàn cầu, Toàn cầu hóa, nhất thể hóa… mà cuộc Toàn cầu hóa lần thứ nhất là vào năm 1492 khi Christophe Colombus tìm ra châu Mỹ, kéo dài đến 1800, sau Cách mạng Tư sản Pháp (1789). Cuộc thứ hai từ 1800 đến 2000, sau khi Bức tường Berlin đổ (1989). Cuộc thứ ba bắt đầu từ năm 2000 với Kỷ nguyên Thông tin và Cách mạng số.

Không nên vẽ rắn thêm chân, khoác áo Công cho Quạ. Trong tiếng Việt, chữ Hội bao giờ cũng mang nghĩa tốt lành: Hội làng (Hội chùa, Hội mùa, Hội nghề), Hội thi, Hội thao, Hội chợ… vui như trẩy hội… Đến với Hội bao giờ cũng là niềm vui, tự nguyện. Từ năm 1492 đến 2000, không có Hội nhập, Toàn cầu hóa gì đâu mà là những cuộc bành trướng xâm lược, đối đầu trên nhiều chiều mà chủ yếu là bạo lực, tiêu biểu là ở Việt Nam cho đến 1975. Và sự kiện Thế giới sau Việt Nam (1954 và 1975), người ta thấy nên đến với nhau bằng giao thương kinh tế – văn hóa hơn là bằng chiến hạm và pháo đài bay.

Toàn cầu hóa hiện nay nói là xu thế chung của nhân loại cũng đúng, nhưng đúng hơn là xu thế sản xuất của nền tư bản chủ nghĩa, của các nước giầu mạnh. Họ muốn xóa bỏ thuế quan để tự do buôn bán và phần thắng là thuộc về kẻ giầu, mạnh, trường vốn, kỹ thuật, công nghệ cao… Đâu phải là Ngày hội cho các dân tộc, các quốc gia còn nghèo nàn, lạc hậu.

Toàn cầu hóa là cơ hội vàng cho nền văn hóa côca-côla. Cứ xem sản lượng rượu bia ở Việt Nam hiện nay, xem các thiếu nữ Việt Nam hiện nay từ móng chân móng tay đến mái tóc lông mi, đến phim ngoại (80%) và trang phục của cô người mẫu N.T ở Liên hoan phim Cannes (Pháp – 2019) thì sẽ thấy mục tiêu chung của nhân loại, của Toàn cầu hóa là như thế nào! Toàn cầu hóa! Đó là các quốc gia siêu cường ném nhân loại xuống biển cạnh tranh để bán áo phao. Biết bơi, cố học bơi thì sống, mà không thì không chết nhưng mà chết sống, là nô lệ. Dẫu có là đại gia vẫn cứ là nô lệ khi bị chìm ngập trong biển văn hóa côca-côla.

Mong các Giáo sư bơn bớt niềm hân hoan Toàn cầu hóa đi, chứ dân tình khổ lắm. Họ đưa hàng ế hàng kém chất lượng hàng quá đát, rác thải đủ loại vào thì con em GS reo mừng. Mà ngọn rau con cá hạt gạo quả cam của người nông dân vào được xứ họ thì trầy da tróc vảy. Thuế chống phá giá đủ loại có phải là niềm vui Toàn cầu hóa không, thưa GS!

Dưới đây, xin hầu chuyện các GS về Toàn cầu, hội nhập.

* GS. Trần Đình Sử

Nguyên Trưởng khoa Ngữ văn ĐH Sư phạm Hà Nội. Danh hiệu Nhà giáo nhân dân. Giải thưởng Nhà nước. Tổng chủ biên và Chủ biên SGK Trung học phổ thông, Trưởng ban Văn bản Hội kiều học Việt Nam…

Chúng tôi đã được hầu chuyện nhiều lần, gần nhất là trên VNTP.HCM số 548 (Bài Tư duy đội ngũ…), nên chỉ tóm tắt: GS. Trần Đình Sử không còn mù mờ mà là đoạn tuyệt hẳn với Lý luận Văn học Nhà nước, với Lý luận Văn nghệ Mác-xít, giờ đây ông đã giải trung tâm để ra đường biên lý luận mà làm lý luận. Chức năng của văn học phải là khám phá cái khả năng, cái vô thức chứ không phải là con người trong mối tổng hòa của các quan hệ xã hội.

* GS. Phan Huy Lê

Nguyên Chủ tịch Hội KHLSVN nhiều năm trước khi là Chủ tịch Danh dự của Hội này. Nhà giáo nhân dân. Giải thưởng Hồ Chí Minh.

GS. Phan Huy Lê cũng không mù mờ mà đã vượt qua rào cản ý thức hệ để có cái nhìn trung thực vào lịch sử. Theo đó, Gia Long – Nguyễn Ánh là người có công thống nhất đất nước hơn cả Quang Trung – Nguyễn Huệ và Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh… Ông đề cao Tạ Chí Đại Trường và than khóc cho nỗi oan trăm năm của Trương Vĩnh Ký. Ông lại noi theo tấm gương của Trung Quốc để biên soạn lịch sử, nhất là quan niệm về lãnh thổ hiện thời… (Xem loạt bài viết Tri thức và lương thức trong sử học và GS. Phan Huy Lê trên VNTP.HCM, năm 2018).

* GS. Hồ Ngọc Đại

GS. Hồ Ngọc Đại cho rằng ngày nay là thời đại của con người cá nhân. Giáo dục phải làm cho con người cá nhân phát triển như chính nó… Vâng, như N.H.Linh, như diễn viên N.T, như các sao có nhà tỷ đô, xe hòm triệu đô, trang trại bất chấp tất cả… Trong khi vị Anh hùng dân tộc – Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh kêu gọi Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân thì GS. Hồ Ngọc Đại chủ trương một cuộc cách mạng ngược lại về giáo dục thì đâu phải mù mờ!

* PGS.TS Nguyễn Bá Thành

Cho rằng nền văn học quốc gia là toàn bộ tác phẩm tác giả không phân biệt khuynh hướng tư tưởng, vùng miền… Rằng khảo sát Thơ Việt Nam 1945-1975 phải theo phương pháp loại hình tác giả mới thấy Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền đều là tiêu biểu như nhau. Rất giống một bức ảnh (tưởng tượng): Nguyễn Hữu Huân, Trần Cao Vân, Nguyễn Thái Học… là tiêu biểu cho loại hình nhà yêu nước bị xử chém. Cụ Ngáo – đao phủ của triều đình Huế (thơ Tố Hữu); Bát Lê (chém treo ngành hay Bữa rượu máu của Nguyễn Tuân) và Ngô Đình Diệm, tác giả Luật 10-59… là tiêu biểu cho loại hình đao phủ qua các thời đại… Độc đáo hơn, PGS.TS Nguyễn Bá Thành cho rằng Chính phủ Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp hoạt động như một chính thể bất hợp pháp. Trong khi Chính phủ Quốc gia Việt Nam có thủ đô ở Sài Gòn, Quốc trưởng Bảo Đại có biệt điện ở Đà Lạt. Thế thì có thể suy luận theo phương pháp loại hình tác giả rằng Chính phủ Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiêu biểu cho chính thể bất hợp pháp. Còn Chính phủ Quốc gia Việt Nam và Quốc trưởng Bảo Đại là tiêu biểu cho sự ngược lại. Vậy thì, Loại hình tác giả muôn năm! Toàn cảnh Toàn cầu Hội nhập theo phương pháp loại hình bách chiến bất bại muôn năm! Vì, bằng phương pháp luận loại hình tác giả, có thể đảo lộn mọi nền văn học. Đúng là điểm tựa mà Ác-si-mét (hay A-ri-stốp) cầu mong!

Như thế, chúng tôi có thể chia sẻ với GS. Phong Lê: Ông không phải là kẻ lữ hành cô độc trên hành trình hội nhập Toàn cầu hóa. Mà Toàn cầu hóa, như chúng tôi quan niệm, là chúng ta bị ném vào biển cả cạnh tranh. Biết cạnh tranh hòa nhập thì tồn tại. Bản sắc dân tộc chính là bảo bối trong cuộc hội nhập toàn cầu. Mù mờ về chỗ này thì tai hại tức thì. Tệ nạn xã hội và bạo lực học đường hiện nay chính là do còn mù mờ hoặc “mù mờ” theo kiểu “trình độ hạn chế xin rút kinh nghiệm” gây nên. Vì vậy, xin nhắc lại là Giáo sư và chúng tôi và chúng ta phải nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng mù mờ này. Thoát ra như thế nào, bằng cách nào, kỳ sau xin được tham kiến Giáo sư.

(Còn tiếp)

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 550

Ý Kiến bạn đọc