Người tốt - Việc tốt

Một vài đặc trưng văn hóa dân gian Nam bộ qua ca dao

 

Nam bộ là vùng đồng bằng rộng lớn nhất của nước ta cùng với nhiều kênh rạch chằng chịt trên mặt đất. Do đó, nó được mệnh danh là “xứ sở của những dòng sông” với khoảng 54.000km chiều dài sông rạch. Đây là một vùng đất đai màu mỡ nhưng được con người khai thác và thuần hóa chưa bao lâu. Trong quá trình phát triển, Nam bộ trải qua sự đứt gãy lịch sử. Mãi cho đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, khi người Việt vào đây khai phá thì vùng đất Nam bộ mới được hồi sinh.

Nói đến văn hóa Nam bộ là nói đến văn hóa của các tộc người nơi đây. Vì thế, văn hóa của họ là văn hóa của vùng đất mới, trẻ tuổi hơn so với Bắc bộ và Trung bộ. Văn hóa ở vùng đất này vừa có nét giống lại vừa có nét khác với nền văn hóa ở vùng đất cội nguồn; của cùng một tộc người.

Quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa nơi đây diễn ra với một tốc độ mau lẹ. Sự tiếp biến giữa những tộc người cùng sinh sống trên địa bàn. Ngoài ra, điều này còn xảy ra trong quá trình giao lưu với văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp. Vì thế mà văn hóa Nam bộ sẽ có những đặc điểm mà vùng khác không có.

Về tôn giáo, Nam bộ là vùng đất với nhiều tôn giáo, tín ngưỡng đan xen lẫn nhau. Ngoài các tôn giáo lớn du nhập vào nước ta thì Nam bộ còn là quê hương của những tôn giáo, tín ngưỡng địa phương như Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… Trong ứng xử với tự nhiên, các tộc người Nam bộ có những nét khu biệt với các vùng văn hóa khác, lạ lẫm và huyền bí. Cơ cấu bữa ăn của người Việt Nam bộ có nét khác biệt. Với các lợi thế về tự nhiên, nơi đây có nhiều món ăn làm từ thủy hải sản, rất phong phú và đa dạng.

Không thua kém Bắc bộ, vùng văn hóa Nam bộ cũng có sự phát triển về văn hóa bác học. Từ rất sớm, Nam bộ đã rất quan tâm đến việc phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài. Từ đó cho đến nay, vùng đất này đã là quê hương của biết bao nhà Nho, nhà giáo ưu tú, là nơi cho ra đời những tác phẩm văn hóa văn học có giá trị. Dòng văn hóa bác học ở Nam bộ là một nhân tố quan trọng trong tiến trình văn hóa của vùng và góp phần rất đáng kể vào diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam.

Nhìn chung, văn hóa Nam bộ có nhiều nét riêng so với vùng khác. Vùng đất này vừa có bề dày trong diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam lại là vùng đất giàu sức trẻ của cả các tộc người ở đây. Điều này đã tạo cho vùng văn hóa Nam bộ có những đặc thù riêng và trở thành một gương mặt riêng khó lẫn trong diện mạo các vùng văn hóa ở nước ta.

Nam bộ là một vùng văn hóa mới. Khá trễ hơn so với vùng Bắc bộ và Trung bộ, mãi đến khoảng thế kỷ XVII mới có những người Việt đến khai phá và làm sống dậy vùng đất hoang sơ này. Cảnh tượng về một vùng đất hoang vu, huyền bí đã đi vào trong rất nhiều bài ca dao Nam bộ:

- Chiều chiều én liệng trên trời
Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây.
- U Minh, Rạch Giá, thị quá sơn trường,
Dưới sông cá lội, trên rừng cọp đua.
- Cà Mau khỉ khọt trên bưng,
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um.

Trước một thiên nhiên hoang vu u tịch chỉ toàn là những bầy thú hoang dã, những con người đặt dấu chân khai phá nơi đây đã không thể tránh khỏi cảm giác sợ hãi như những lời tâm sự trong những bài ca dao:

- Chèo ghe sợ sấu cân chân
Xuống bưng sơ đỉa lên rừng sợ ma.
- Tới đây xứ sở lạ lùng,
Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê.

Sấu và cọp – những loài tượng trưng cho sức mạnh hoang dã, là mối đe dọa cho con người đã xuất hiện khá nhiều trong các bài ca dao mở đất Nam bộ. Không chỉ trong ca dao, cọp và sấu còn “sống” trong những câu chuyện dân gian Nam bộ về những con người đi khai phá cải tạo thiên nhiên, “sống” trong đời sống văn hóa tinh thần, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân Nam bộ.

tapchi25--Anh-minh-hoa---Mot-vai-dac-trung-van-hoa-dan-gian-Nam-bo-qua-ca-dao---Anh-1

Hoang vu, đáng sợ là thế nhưng Nam bộ vẫn thật xứng đáng để thu hút con người tìm đến khi nơi đây được ưu ái bởi mẹ thiên nhiên. Sự ưu đãi này được xem như một món quà đắt giá khi được con người chinh phục, đó chính là sự giàu có và phong phú của những sản vật tự nhiên lẫn do bàn tay con người tạo ra.

Nam bộ là mảnh đất trù phú luôn được nhiều ưu đãi mưa thuận gió hòa, nơi nổi tiếng là vựa lúa của cả nước, kèm theo nhiều sản vật phong phú đa dạng; cá tôm dồi dào, cây trái 4 mùa trĩu quả. Sự trù phú ấy đã đi vào ca dao Nam bộ qua những bài ca dao gắn với những địa danh cụ thể của vùng đất này:

- Ai ơi về miệt Tháp Mười
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn.
- Hết gạo thì có Đồng Nai
Hết củi thì có Tân Sài chở vô.
- Ai về Gia Định thì về
Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.

Sản vật “trời cho” vùng đất Nam bộ thật là phong phú, đó đều là những vật sẵn có nơi đây. Những thức quà này đã trở thành những món đặc sản, những hương vị riêng biệt của mỗi địa phương, gây thương gây nhớ cho những ai trót đến nơi đây.

Không chỉ phong phú về các sản vật mà Nam bộ còn nổi tiếng với các làng nghề thủ công. Những làng nghề truyền thống đã làm sự độc đáo cho cả một vùng đất, một cộng đồng, làm phong phú thêm truyền thống văn hóa Nam bộ. Với bản tính cần cù chịu thương chịu khó cộng với sự sáng tạo cùng những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, các làng nghề truyền thống Nam bộ đã làm nên những nét đặc trưng mà không phải nơi nào cũng có:

- Ai về thăm tỉnh An Giang,
Tân Châu xứ lụa là làng quê tôi.
- Ai về Cao Lãnh, Hòa An,
Nhớ mua bánh thuốc về làng biếu cha.
- Phú Tân chuyên nghiệp là đây,
Lò rèn Phú Mỹ, thợ thầy uốn câu.

Mỗi một tỉnh nơi Nam bộ đều có cho riêng mình những làng nghề thủ công, phản ánh nét độc đáo riêng biệt của mỗi địa phương. Những câu ca dao nói về làng nghề đã gói ghém thông tin về những làng nghề thủ công trên mảnh đất phía Nam của Tổ quốc và toát lên sự khéo léo, giỏi giang cùng phẩm chất chịu thương chịu khó của con người nơi đây.

Được mệnh danh là “xứ sở của những dòng sông”, ca dao Nam bộ đã phản ánh những đặc trưng môi trường tự nhiên cùng văn hóa sông nước trong đời sống người dân nơi đây.

Sông nước Nam bộ dọc ngang chằng chịt.

Đặc điểm tự nhiên này đã hình thành ở nơi đây nét văn hóa trong ứng xử với tự nhiên. Trong quá trình cải tạo, tận dụng tự nhiên, người dân Nam bộ đã học cách thích nghi, sinh sống với địa hình nơi đây. Để thuận tiện cho việc di chuyển giữa những vùng sông nước, ngoài đường bộ thì hệ thống đường thủy cũng đóng vai trò rất quan trọng với người dân nơi đây. Về Nam bộ, đặc biệt là Tây Nam bộ, ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh những ngôi nhà nằm dọc theo các dòng sông, kinh rạch, những chiếc xuồng, ghe qua lại dập dìu theo sóng nước. Các phương tiện sông nước đã trở thành những hình ảnh rất độc đáo trong ca dao Nam bộ:

- Tàu Nam Vang mũi đỏ, ghe Sa Đéc mũi đen.
- Sông Tiền, sông Hậu cùng nguồn,
Thuyền bè xuôi ngược bán buôn dập dìu.
- Búng Bình Thiên nước trong vanh vách,
Đò Cồn Tiên khách lại khách qua.

Bằng sự khéo léo và thông minh, người dân Nam bộ đã có thể lao động, sinh sống và mua bán nơi sông nước này. Vùng đất này cũng đã ban tặng cho con người nơi đây thức quà từ trong những con nước. Đó là những cá những tôm rất dồi dào. Những sản vật này trở thành những món ăn đặc sản trong bữa cơm của người dân:

- Muốn ăn bông súng cá kho,
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm.
- Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng,
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua.
- Rau đắng nấu với cá trê
Ai đến lục tỉnh thì mê không về.

Tận dụng sự dồi dào này, người dân nơi đây đã tìm ra những cách để chế biến các sản vật ấy thành những món ăn khác để có thể lưu trữ được lâu. Cá, tôm, cua thì đi làm mắm còn các loại rau củ thì có thể đem đi muối chua. Đó đã trở thành những món ăn dân dã nhưng đậm đà hương vị quê hương:

- Ai về Châu Đốc mà chơi,
Ăn mắm Châu Đốc ghiền ơi là ghiền.
- Điên điển mà đem muối chua,
Ăn cặp cá nướng đến vua cũng thèm.

Ca dao Nam bộ còn thể hiện nét đặc trưng trong văn hóa miệt vườn. Trong công cuộc khai phá và xây dựng miền đất mới của cư dân người Việt ở Nam bộ, dưới tác động của thiên nhiên, con người càng có ý thức cải tạo thiên nhiên. Lập vườn là công việc lao động đầy sáng tạo của những người mở đất. Khác với vườn ở đồng bằng sông Hồng, vườn ở đồng bằng Cửu Long rộng lớn, ở từng nơi vườn thường tập trung lại với nhau thành những không gian vườn tược rộng lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Là một nơi đầy hứa hẹn, vì vậy mà về vườn là ước mơ của nhiều người:

- Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh.

Đặc trưng vườn Nam bộ là những mảnh vườn quanh năm sai cây trái:

- Hòa An phong cảnh mơ màng
Có vườn mận đẹp, có làn nước xanh.
- An Giang hết nắng rồi mưa,
Cho cam lắm trái cho dừa thêm bông.
- Biên Hòa bưởi chẳng đắng the.
Ăn vào ngọt lịm như chè đậu xanh.

Quá trình hình thành miệt vườn không chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà còn tạo ra những yếu tố văn hóa tinh thần phù hợp với đặc điểm tự nhiên và tư duy sáng tác ca dao của người Nam bộ. Sáng tạo đó đã góp phần phát triển thể loại văn học dân gian nói chung, làm phong phú và đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc Việt.

Nam bộ là vùng đất có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Mỗi dân tộc có bề dày văn hóa đặc sắc, độc đáo đã tạo cho nơi đây cuộc sống sinh hoạt gắn với những lễ hội văn hóa truyền thống. Không đứng ngoài cuộc, ca dao Nam bộ cũng đã đi vào phản ánh nét văn hóa độc đáo này:

- Ai về Phú Mỹ tháng giêng,
Mà coi lễ hội linh thiêng đêm rằm.
- Tri Tôn có hội đua bò
Vàm Nao có hội đua đò sang sông.

Lễ hội là dịp để mọi người được nghỉ ngơi sau một thời gian lao động, đó còn là dịp để có thể gặp gỡ, giao lưu và kết bạn với mọi người từ khắp nơi đổ về. Không khí sôi động, nhộn nhịp của ngày lễ hội dường như cũng vang ra từ trong âm điệu của những bài ca dao Nam bộ. Những lễ hội Nam bộ còn gắn với văn hóa tín ngưỡng của người dân. Hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng Nam bộ rất đa dạng. Trong những bài ca dao đã xuất hiện hình ảnh những ngôi đền, ngôi chùa để thờ Trời, Phật, các vị Thần linh, các vị Anh hùng có công với quê hương.

- Tới đây lạ bến đậu nhờ
Lạy trời bớt gió cho sóng trong bờ đừng chao.
- Ai về chợ Thủ, Long Điền
Ghé đền Quan Thánh, thăm chùa Bửu Linh.
- Ai về Chợ Mới cùng ta,
Vui ngày giỗ lớn Ông Ba nơi này.

Nhắc đến Nam bộ phải nhắc đến một lễ hội vô cùng quan trọng mà bất kì ai cũng biết đến. Lễ hội vía Bà chúa Xứ núi Sam được tổ chức vào tháng 4 âm lịch hàng năm ở thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Lễ hội lớn nhất miền Nam này đã xuất hiện trong rất nhiều bài ca dao Nam bộ:

- Châu Đốc có hội chùa Bà,
Có đồi Tức Dụp, vía Bà tháng tư.
- Ai về Châu Đốc cùng ta,
Đón ngày lễ hội tắm Bà núi Sam.
- Vía Bà chúa Xứ núi Sam,
Ai mà cầu cúng làm ăn lên liền.

Có thể thấy, các bài ca dao Nam bộ đã ghi dấu về vùng đất, địa danh gắn với những phong tục truyền thống địa phương. Nó minh chứng cho sức sống và vị thế của văn hóa tín ngưỡng nói riêng và bản sắc văn hóa địa phương nói chung. Đó là những “món ăn tinh thần” không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng và tâm linh của người Nam bộ.

Không chỉ thể hiện những đặc trưng văn hóa của vùng đất Nam bộ, ca dao Nam bộ còn là tấm gương phản chiếu những vẻ đẹp, nét độc đáo trong tính cách con người. Nét độc đáo trong tính cách của người dân Nam bộ là bộc trực, thẳng thắn, phóng túng, yêu ghét rất rõ ràng. Điều này xuất phát từ chính những đặc điểm lịch sử, những cuộc khai khẩn đất hoang, trong cuộc sống sinh hoạt gắn với văn minh miệt vườn hay văn hóa sông nước nơi đây. Nét tính cách này của người Nam bộ xuất hiện hầu hết trong các chủ đề của ca dao. Trong mảng ca dao về lao động sản xuất, có thể thấy người Nam bộ đã thể hiện sự ngang tàng, tự tin và cần cù lao động. Con người Nam bộ chỉ tin vào sức mạnh của bản thân, sức mạnh của lao động mà ít khi dựa dẫm vào một thế lực siêu nhiên:

- Lúa khô, nước cạn ai ơi!
Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu.
- Ví dầu áo tả quần tơi
Một sương hai nắng mà thảnh thơi trong lòng.

Họ luôn cất cao tiếng hát, câu hò trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh dù không miếng đất cắm dùi hay phải sống cảnh màn trời chiếu đất, cốt sao vui vầy, hạnh phúc là được. Những câu ca dao đã cho thấy tinh thần lạc quan của người dân nơi đây:

- Chiều chiều rủ bạn đi câu,
Cá khôn không đớp, rủ nhau hát hò.
- Đất là giường, trời là màn
Nghêu ngao ta hát câu ân tình thủy chung.

Trong cuộc sống chiến đấu, bảo vệ quê hương đất nước, chảy trong ca dao Nam bộ là dòng máu đỏ tươi từ những trái tim dũng cảm, nồng nàn tình yêu Tổ quốc. Chứng kiến cảnh tượng mảnh đất quê hương dưới sự giày xéo của giặc, những con người với lòng yêu nước, khí phách anh hùng đã cùng đứng lên khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước. Chiến tích của những trận đấu oanh liệt đã được ghi lại trong những câu ca dao:

- Đồi Tức Dụp anh hùng chiến đấu,
Chùa Vông Thành nuôi giấu quân ta.
- Chừng nào còn nước Đồng Nai,
Anh còn giết giặc chẳng sai lời thề.
- Bảy Thưa chiến tích còn ghi,
Người xưa tuy vắng nhưng bi vẫn còn.

Chiến tranh đã qua đi, đã lùi vào dĩ vãng nhưng còn đó biết bao những chiến công vang dội của con người Nam bộ. Qua những năm tháng chiến tranh và xây dựng, Nam bộ đã lưu vào lịch sử nhiều địa danh gắn với những chiến công của dân tộc. Những câu ca dao viết về những chiến công đó đã gợi nhắc lại một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc và còn tô đậm thêm vẻ đẹp khí phách trong con người Nam bộ.

Trong tình yêu lứa đôi, ca dao Nam bộ thể hiện niềm thương nỗi nhớ, thể hiện tình yêu bằng ngôn ngữ rất tự nhiên, bộc trực và giản dị. Các chàng trai đã bộc bạch:

- Dao phay kề cổ máu đổ anh không màng
Chết anh chịu chết buông nàng anh không buông.
- Thương mình chặt tóc mình thề
Chỉ trời vạch đất chớ hề bỏ nhau.

Các cô gái cũng thể hiện tình cảm một cách quyết liệt. Tình cảm được bộc lộ một cách rất thẳng, không bóng gió xa xôi như để diễn tả cho hết cái thương đang cháy bỏng, cuộn trào trong lòng:

- Phải chi cắt ruột đừng đau,
Chiều nay tui cắt ruột, tui trao anh mang về.
- Anh về em nắm vạt áo em la làng,
Phải bỏ chữ thương, chữ nhớ giữa đàng cho em.

Trong các bài ca dao Nam bộ, các phương ngữ Nam bộ xuất hiện một cách dày đặc tạo nên sắc thái riêng cho các tác phẩm này. Các tác giả dân gian đã đưa những lời ăn tiếng nói trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của mình vào ca dao như một cách để họ sống thật, một cách để giãi bày những tâm tư tình cảm.

Có thể thấy, các yếu tố trong ca dao Nam bộ từ thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, kết cấu cho đến nội dung thể hiện đã phản ánh rất rõ cho tư duy, tâm hồn, ngôn ngữ của nhân dân các miền trên mảnh đất này. Những yếu tố văn hóa Nam bộ chứa đựng rất nhiều trong ca dao. Vì thế, nghiên cứu ca dao theo vùng văn hóa lịch sử là hướng đi nhằm giải mã các vẻ đẹp văn hóa của dân tộc ẩn chứa bên trong. Để từ đó mỗi chúng ta thấy trân trọng hơn, yêu quý hơn vốn văn hóa lâu đời và quý giá của dân tộc.

ĐĂNG NGUYÊN
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 25

Ý Kiến bạn đọc