Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Một vài chi tiết trong bài viết “Về hai bản văn của vua Lê Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi”

Đọc bài viết của tác giả Trần Nhuận Minh trên Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 385 ngày 24-12-2015, cảm giác đầu tiên về bài viết là sự trao đổi và góp ý thật chân thành, nhẹ nhàng và đầy tính thuyết phục. Đúng như tác giả đã viết: “Vì danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của các thế hệ, nên các tư liệu về ông càng chính xác thì càng tốt hơn”. Do đó, xin trao đổi một vài chi tiết nhỏ trong bài viết này để mong góp thêm tiếng nói tham khảo.

1. Tôi đồng ý với tác giả Trần Nhuận Minh là Thánh Tông là MIẾU HIỆU chứ không phải NIÊN HIỆU. Tác giả cũng cho rằng: “Hầu hết các bài viết về lịch sử hiện nay đều lấy MIẾU thay cho NIÊN hiệu (chỉ riêng về nhà Nguyễn thì các sách đều dùng niên hiệu đúng với niên hiệu của nhà vua, không dùng miếu hiệu, không hiểu vì sao điều ấy lại không xảy ra với các triều đại trước như Lê, Lý, Trần chẳng hạn”. Đúng như tác giả viết, vì MIẾU HIỆU là tên mà quần thần căn cứ vào công đức của nhà vua mà dâng lên. Thông thường khi người ta đã nằm xuống, nhất là một ông vua, các quần thần dựa vào công đức của nhà vua để dâng miếu hiệu. Vì vậy, gọi theo miếu hiệu là để tỏ sự tôn kính. Thực ra, chỉ có các sách sau này của chúng ta mới gọi các vua nhà Nguyễn đúng với niên hiệu, còn các sách viết trước kia vẫn gọi theo miếu hiệu của nhà vua. Ví dụ, Quốc triều chính biên toát yếu do Cụ Cao Xuân Dục soạn vẫn ghi: Đức Thế tổ Cao hoàng đế, niên hiệu Gia Long; Thánh tổ Nhơn hoàng đế, niên hiệu Minh Mạng; Đức Hiến tổ Chương hoàng đế, niên hiệu Thiệu Trị… Trong Việt Nam sử lược, học giả Trần Trọng Kim cũng viết: Thế tổ, niên hiệu Gia Long; Thánh tổ, niên hiệu Minh Mệnh; Hiến tổ, niên hiệu Thiệu Trị… Lý giải về vấn đề này, có ý kiến cho rằng vì các triều đại xưa có nhiều vị vua trong suốt quãng đời trị vì thường đổi nhiều niên hiệu nên gọi tên theo miếu hiệu để khỏi nhầm lẫn. Riêng triều Nguyễn, các ông vua dù thời gian làm vua dài hay ngắn cũng đều chỉ có một niên hiệu. Đây cũng là một ý kiến hay để tham khảo thêm.

Le-Thanh-Tong
Vua Lê Thánh Tông 

2. Về CHIẾU, CHẾ, BIỂU

Tất cả các sách lịch sử đều ghi lại sự kiện 22 năm sau ngày Nguyễn Trãi phải chịu thảm án oan khiên lớn nhất của lịch sử dân tộc, vào năm Quang Thuận thứ 5 (1464), vua Lê Thánh Tông đã chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi. Các sách đều chép nhà vua xuống chiếu minh oan cho ông và ca ngợi Nguyễn Trãi là Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo là chưa chính xác như tác giả Trần Nhuận Minh đã chỉ ra. Vì các tài liệu đời sau cơ bản đều viết như trên nên đã gây sự hiểu lầm không đáng có. Đa số đều hiểu rằng khi Lê Thánh Tông giải oan cho Nguyễn Trãi cũng là lúc nhà vua viết câu thơ ca tụng này. Tuy nhiên, đúng như tác giả Trần Nhuận Minh đã chỉ ra, câu thơ này trong tập Quỳnh Uyển Cửu ca viết vào năm Hồng Đức thứ 25 (1494). Như vậy có thể thấy từ khi Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi đến khi nhà vua viết câu này là 30 năm. Sau đó 3 năm, vào niên hiệu Hồng Đức thứ 28 (1497) vua Lê Thánh Tông băng hà. Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam sử lược… đều không viết chi tiết nhà vua xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi. Các sách khác đều có viết. Ví dụ, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục viết: “Trước kia, Nguyễn Trãi bị tru di cả họ, lúc ấy người vợ thiếp của ông là Phạm Thị đương có mang, trốn đi Bồn Man, sinh con là Anh Vũ. Lớn lên, Anh Vũ thi đỗ hương cống. Đến nay, nhà vua thương Nguyễn Trãi phải tội oan, truy tặng tước Tán trù bá, cấp trả lại 100 mẫu tự điền, hạ chiếu lục dụng người con, bổ Anh Vũ chức Đồng tri châu (Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục – chính biên – quyển XIX, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 477). Sách này cũng chép năm 1467, nhà vua “hạ lệnh sưu tầm văn thơ của Nguyễn Trãi” (tr. 491). Tác giả Trúc Khê Ngô Văn Triện trong tác phẩm Nguyễn Trãi, anh hùng dân tộc viết: “Năm Quang Thuận thứ 5 (1464), vua xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Ức Trai, truy tặng chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tước Tán trù bá và cho tìm hỏi con cháu sót lại để lục dùng (…). Sau khi tẩy tuyết, vua Thánh Tông trong năm Quang Thuận thứ 8 (1467) xuống chiếu tìm kiếm những thơ văn của Nguyễn Ức Trai để chứa vào gác Bí thư (…). Đời Vua Tương Dực năm Hồng Thuận thứ 4 (1512), gia phong Ức Trai tước Tế văn hầu. Sau đấy, không rõ đời vua nào, gia tặng Thái bảo Khê quận công. Năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767), vua Hiển Tông gia phong là Tuyên Linh Duyên Khánh Đại vương”. Sách Văn học Trung đại Việt Nam do tập thể tác giả Đoàn Thị Thu Vân, Lê Trí Viễn, Lê Thu Yến, Lê Văn Lực, Phạm Văn Phúc viết: “Nỗi oan thảm khốc ấy hơn 20 năm sau mới được giải tỏa. Năm 1464, Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tước Tán trù bá, cho sưu tầm lại thơ văn ông và tìm người con trai còn sống sót cho làm quan, đến đời Lê Tương Dực, năm 1512, ông lại được truy phong tước Tế văn hầu” (Nxb. Giáo dục, năm 2008, tr. 72).

Như vậy, có thể thấy, Lê Thánh Tông minh oan cho ông là sự kiện có thật, nhưng như tác giả Trần Nhuận Minh viết đó là CHẾ. Vậy thật ra để minh oan cho Nguyễn Trãi, nhà vua dùng CHIẾU, hay CHẾ? Trong trường hợp minh oan cho Nguyễn Trãi, tôi cho rằng dùng CHIẾU là phù hợp.

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, CHIẾU, CHẾ, BIỂU là “các văn bản trao đổi giữa nhà vua và thần dân được quy phạm hóa, dùng trong các triều đình phong kiến thời trước. Chiếu là lời (hoặc thay lời) nhà vua ban bố mệnh lệnh cho thần dân. Chế là lời của vua ban thưởng cho công thần. Biểu là bài văn của thần dân dâng lên vua” (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam: Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, Nxb. Từ điển Bách khoa, năm 2007, tr. 591).

Vụ án oan của Nguyễn Trãi đúng là “nỗi oan chuyển động đất trời” (Truyện Kiều) và ngay lúc đương thời đa số người dân không tin Nguyễn Trãi mưu giết vua và đều nghi ngờ vụ án này do gian thần lập mưu để hại bậc anh hùng. Vì lẽ ấy, 22 năm sau tất nhiên vụ việc vẫn chưa “nguội”. Và, để tẩy oan cho Nguyễn Trãi, để ban bố cho thần dân biết, trong trường hợp này nhà vua ban hành CHIẾU là phù hợp. Sau đó, để ban thưởng (truy tặng) tước Tán trù bá cho ông có thể nhà vua sẽ ban một CHẾ.

Trong bài viết, tác giả Trần Nhuận Minh có tư liệu đáng quý là “Bài chế phong tặng tước Tế văn hầu cho Lê Trãi” và tác giả cho rằng đây là bản chế mà vua Lê Thánh Tông ban ra để minh oan cho Nguyễn Trãi vào năm Quang Thuận thứ 5 (1464). Hình như tác giả có thể có chút nhầm lẫn ở đây, nếu tác giả trích dẫn y nguyên trong sách như tác giả nói thì có lẽ sách đã nhầm lẫn. Bởi trong thực tế mãi đến năm Quang Thuận thứ 4 (1512) đời Lê Tương Dực, Nguyễn Trãi được truy phong tước Tế văn hầu, tức lên một bậc so với truy phong của Lê Thánh Tông (tước bá). Có thể xem đây là sự ban thưởng của nhà vua đối với Nguyễn Trãi. Trong trường hợp này thì đương nhiên phải dùng CHẾ bởi tẩy oan Lê Thánh Tông đã làm, đã ban chiếu để thần dân biết, còn đây là ban thưởng (tất nhiên là truy tặng) cho công thần.

Xung quanh việc này hiện vẫn còn câu hỏi lớn của lịch sử rất cần tìm lời giải đáp, đó là tại sao khi Lê Thánh Tông giải oan cho Nguyễn Trãi nhưng chỉ truy phong cho ông tước Tán trù bá, tức thấp hơn tước HẦU mà Nguyễn Trãi được phong khi ông còn sống. Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ không có con chung nên đã xin Ngô Chi Lan, cháu Thái bảo Ngô Từ làm con nuôi (Ngô Từ là cha của bà Ngô Thị Ngọc Dao, tức Quang Thục Văn hoàng hậu, bà Ngọc Dao chính là thân mẫu của vua Lê Thánh Tông). Ngoài ra, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ chính là người có công cứu hoàng tử Lê Tư Thành, tức vua Lê Thánh Tông thoát khỏi sự hãm hại của hoàng hậu Nguyễn Thị Anh. Như vậy, xét về nhiều mặt, Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ có mối quan hệ thân thiết, có mối ân tình lớn – ân cứu mạng – đối với vua Lê Thánh Tông. Thế nhưng không hiểu tại sao lúc đương thời nhà vua chỉ truy tặng Nguyễn Trãi tước Tán trù bá. Nguyên nhân có phải chính những công thần có dính líu vào vụ “tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây” (Truyện Kiều) này vẫn còn sống và còn nhiều thế lực? Ngay trước cả Lê Thánh Tông, vua Nhân Tông là con bà Nguyễn Thị Anh mặc dù đã khẳng định công lao của Nguyễn Trãi rằng bản triều không ai sánh bằng nhưng vẫn chưa chính thức minh oan cho ông.

Nguyễn Trãi là một nhân vật quá lớn đối với lịch sử dân tộc, vì vậy mặc dù bản thân không chuyên về lịch sử và chỉ là bậc con cháu của nhà thơ Trần Nhuận Minh (ba tôi kém nhà thơ 3 tuổi); nhân bài viết của tác giả, xin có đôi lời trao đổi cùng nhà thơ để góp thêm tiếng nói tham khảo.

Kính.

Vũ Trung Kiên
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 388

Ý Kiến bạn đọc