Tản văn

Một trời quê hương ở Sài Gòn

Thổn thức Thanh mai

Tôi nhớ, lâu rồi, xa, rất xa; trước nhà nội tôi có cội mai đơm đầy nụ, rất đặc biệt. Đặc biệt vì hoa của cây mai có màu biếc xanh như ngọc bích. Nội tôi đặt tên cho loài mai này là “Thanh mai”. Cứ mỗi độ Tết về, hàng xóm lũ lượt kéo đến nhà tôi xin cắt vài cành mai về chưng. Thanh mai trân mình hứng chịu những đòn cắt nát thân thể, bởi nó biết những nụ hoa xanh sẽ mang lại niềm vui cho ai đó, hay ít ra sự hiện hữu…màu xanh chớ không phải màu vàng đặc chủng của hoa mai khuấy động được đôi chút tò mò, ngạc nhiên người ngắm nhìn nó. Màu xanh của hoa mai gợi lên chút bứt phá những chuẩn mực thông thường, trong thời buổi hàng hóa hợp tác xã đơn điệu. Nhưng niềm vui không kéo dài được bao lâu. Đất nước chuyển mình theo nền kinh tế thị trường, làng quê biết bao thay đổi. Những món đồ cổ quê tôi bị săn lùng, được mua bằng giá rẻ mạt. Nội mất. Khu vườn thuộc quyền thừa kế của anh tôi. Thanh mai lọt vào tầm ngắm của một nhà buôn cây kiểng. Ông ta ngỏ ý mua nó với giá một cây vàng. Anh tôi mừng quýnh, nhanh chóng cho người ta bứng nó đi. Nơi Thanh mai đứng ngày nào giờ chỉ là cái hố trống hoác. Mất Thanh mai rồi, linh hồn khu vườn cũng không còn. Tôi buồn tê tái trước sự mất mát, hụt hẫng này. Khu vườn trở nên tiêu điều xơ xác, mãi mãi không còn có được khí sắc năm xưa. Vậy đó, nhiều thứ quý báu đã mất đi, không gì bù đắp nổi.

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---Mot-troi-que-huong-o-Sai-Gon---Anh-1

Nhà văn và gió chướng

Là nhà văn ở đồng bằng mà không viết về gió chướng thì thật thiếu sót. Đó đây trong những truyện ngắn, tiểu thuyết, mùa gió chướng vẫn len lỏi thổi về, khuấy động tâm hồn tôi, chảy thành câu chữ. Mùa gió chướng giữa phố phường đầu thế kỷ XXI mang đầy chất hoài cổ. Chỉ mới 4 thập niên, chưa đến nỗi “vật đổi sao dời”, “ruộng dâu hóa bể” nhưng quê hương có biết bao thay đổi. Xưa kia, đồng đất lúa quê tôi canh tác mỗi năm một vụ lúa, bởi chế độ thủy văn vùng ngập mặn ven biển: 6 tháng ngọt, 6 tháng mặn. Gạo Thanh Trà thơm phức, dẻo, ngọt ngào. Dứt sữa, mẹ nuôi tôi bằng thứ nước cơm quánh đặc, giàu có hàm lượng vitamin B. Giờ đây, những giống lúa mùa ngon nức nở nhưng năng suất thấp ấy gần như tiệt chủng, thay vào đó là các giống lúa cao sản ngắn ngày. Tôm cá cũng ra đi cùng với Thanh Trà, Bảy Đảnh,…Nàng Tiêu… Biết sao được, những nhà kinh tế gật gù: “Chúng ta phải chấp nhận “mất” để được”. Những giống lúa cao sản đã giúp cho Việt Nam trở thành một trong các “cường quốc” xuất khẩu gạo. Nhưng nhiều thứ cũng mất đi. Giống lúa cao sản ngắn ngày không cần đến quang cảm vẫn trổ bông. Còn giống lúa mùa, “thì con gái”… phải đợi đến gió chướng về, ngày ngắn đi… mới bừng lên sức sống. Chỉ riêng chuyện đợi gió, đợi nắng của đòng lúa cũng là một bài thơ tuyệt vời của thiên nhiên trao tặng tâm hồn con người. Thuở ấy, tôi chỉ là… một cô bé con, chưa hiểu biết sự đời, vậy mà mỗi khi làn gió chướng thổi về, lúa bắt đầu trổ bông là có gì đó làm tôi trở nên thật xao xuyến. Có gì đó thật vô hình, thật huyền diệu thổi vào tâm hồn, tôi chợt nghe lòng buồn mênh mông, sâu thẳm vì câu hát:

“Sông dài cá lội biệt tăm
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ”
“Cá sầu cá trở đầu đuôi,
Người sầu, lên ngược xuống xuôi vẫn sầu”

Ở tuổi dậy thì, tôi bắt đầu biết rưng rưng thương cảm trước những nghịch lý của số phận. Tôi biết thương mẹ hơn khi nhớ lại lời ru một thời đẫm nước mắt, trĩu nặng bầu tâm sự của mẹ:

“Bồng bồng con ngủ cho ngoan
Dưới sông cá lội, trên ngàn chim bay
Ước gì mẹ có mười tay
Tay kia bắt cá, tay này bắt chim
Một tay xe chỉ luồn kim
Một tay hái lúa, tay tìm hái rau
Một tay ôm ấp con đau
Một tay vo gạo, tay cầu cúng ma
Một tay vung vãi đàng xa
Một tay bếp núc, cửa nhà nắng mưa
Một tay quơ củi, muối dưa
Một tay để vâng lệnh, để bẩm thưa đỡ đòn
Tay này mẹ giữ lấy con
Tay nào lau nước mắt… mẹ còn thiếu tay”

Tôi lớn lên theo những mùa gió chướng, theo những chén cơm gạo lúa mùa, theo mùa sinh sản tôm cá đồng đất quê nhà, theo những câu ca… Tôi đâu ngờ nỗi đa cảm từ những mùa gió chướng trở thành gia tài của tôi, đã mở cánh cửa cho tôi đi vào văn nghiệp…

Mang hồn quê lên Sài Gòn

Không có thứ cao lương mỹ vị nào thay thế được món ăn quê nhà. Ngày Tết, tôi hạnh phúc biết bao khi từ những nhân chứng phụ nữ mà tôi được gặp khắp miền đất nước, gởi cho tôi những món đặc sản: Chị Năm Chinh – người phụ nữ thuộc lòng lời giới thiệu chương trình văn nghệ dự định đọc cho đồng bào nghe xuân Mậu Thân 1968 mang cho tôi mấy hũ mắm tép và mấy đòn bánh tét; chị Năm Điều – người phụ nữ xây hệ thống hầm bí mật trong lòng nội đô gởi cho tôi khô cá sặc, nước mắm rươi, trứng vịt muối… ở Trà Vinh; chị Nhường – Mặt trận Tổ quốc Long An gởi cho tôi bọc gạo Nàng Thơm Chợ Đào chính gốc; chị Lắm – người nữ chiến sĩ cụm bến tàu không số ở Bến Tre gởi cho tôi mấy lít rượu nếp chị tự tay nấu lấy, kèm theo lời nhắn gởi chắc nịch: “Rượu sạch, uống tới bến luôn!”. Còn cô em dâu đã công phu phơi tôm đất gởi cho tôi – thứ tôm khô Bình Đại đỏ au, ngọt, dẻo, đậm đà chẳng nơi nào sánh được. Bà chị dâu gởi cho tôi chục bánh tráng gạo đầy mè, thơm phức nước cốt dừa. Bà chị ruột đã làm sẵn cho tôi nồi thịt heo hột vịt kho tàu sóng sánh màu hổ phách. Những trái dừa, cầu, đủ, xoài, sung tôi hái ở vườn nhà. Không còn Thanh mai, tôi cắt mai vàng lên Sài Gòn chưng… Bao nhiêu thứ đó, tôi đã mang cả Tết quê hương lên Sài Gòn. Tôi thấy mình thật hạnh phúc, giàu có khi được sống ngập trong tình yêu thương chan chứa, từ những món ăn, cây trái thấm đẫm hồn quê. Và có lẽ chỉ có tình thương mới mong hàn gắn, san lấp được những gì đã bị bứng đi, như Thanh mai cứ làm lòng tôi thổn thức mỗi độ xuân về.

Trầm Hương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc