Tản văn

Một thời áo trắng không quên

Năm 1954, sự kiện tác động đến những lớp trẻ chúng tôi ngày đó là việc Cao Lãnh được chọn là 1 trong 3 điểm tập kết chuyển quân ra Bắc theo tinh thần của Hiệp định Genève. Hòa An quê hương tôi là một trong những điểm đóng quân chính. Những ngày đó, cặp theo sông Cao Lãnh từ Cầu Đúc lên đến Tân Thuận Tây bây giờ, đâu đâu cũng có bộ đội của ta. Ảnh hưởng của sự kiện 100 ngày tập kết ở Cao Lãnh đối với nhân dân ta khi đó hết sức to lớn. Tác phong sinh hoạt cùng ăn, cùng ở, cùng làm và những hành động, những ứng xử với nhân dân của anh em bộ đội đã trở thành dấu ấn không phai trong lòng người dân Cao Lãnh. Riêng chúng tôi lúc đó chỉ mới là những đứa trẻ “hỉ mũi chưa sạch” nhưng nhờ các anh dạy hát múa các bài hát của Vệ quốc đoàn nên cũng ít nhiều ngấm vào lòng những tình cảm tốt đẹp về những chiến sĩ cộng sản (khi ấy còn gọi chung là Việt Minh). Nhứt là những buổi diễn văn nghệ, triển lãm tranh ảnh, chiếu phim đã để lại cho lớp trẻ chúng tôi lòng yêu nước sâu sắc.

Bộ đội ta dần dần rút đi. Cuối tháng 10-1954, cả Cao Lãnh trầm buồn, vắng lặng. Ai ai cũng cảm thấy 100 ngày trôi qua thiệt là ngắn ngủi. Rồi lại hồi hộp, lo âu không biết chuyện gì sẽ đến. Mọi người nhìn nhau trong tâm trạng dè dặt, muốn nói, muốn chia sẻ mà không dám mở lời. Vẫn còn đây văng vẳng trong lòng chúng tôi những lời ca tiếng hát của các anh như ngày nào. Lúc nầy, Quốc trưởng Bảo Đại bị phế truất. Chính quyền Ngô Đình Diệm được củng cố và bắt tay vào xây dựng nền móng cho chế độ mà chúng gọi là Cộng hòa Đệ nhất và tổ chức bầu cử vào ngày 26-10-1955, chính thức phá vỡ Hiệp định Genève. Nhân dân miền Nam nói chung và Cao Lãnh nói riêng bước vào một giai đoạn khốc liệt nhứt trong lịch sử đấu tranh cách mạng để thống nhứt đất nước.

Một sự kiện lôi cuốn được học sinh chúng tôi tham gia. Đó là sự kiện biểu tình chống đập phá Đài Liệt sĩ. Đây là nơi tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ do bộ đội ta xây dựng trước khi xuống tàu ra Bắc nằm ở trên phần đất thuộc Siêu thị Đồng Tháp ngày nay. Sáng hôm đó, đang giờ chơi thì có nhiều học sinh hô to: Chúng phá Đài Liệt sĩ. Cả trường ùa ra, ùn ùn kéo lên Đài Liệt sĩ. Nhân dân Cao Lãnh thấy vậy cũng tháp tùng theo và biến thành một cuộc biểu tình lớn khiến chúng chùn tay và ngưng đập phá trong một thời gian dài.

So-528--Nghe-si-Hoang-Dung-chup-cung-Doan-van-cong-Giai-phong-mien-Nam
Nghệ sĩ Hoàng Dũng (dấu x) chụp cùng Đoàn Văn công Giải phóng miền Nam.

Năm 1955, Cao Lãnh chưa có trường trung học. Học sinh chúng tôi phải học chung với các anh trung học ở trường Tiểu học Mỹ Trà (gần tượng Thống Linh, nay là đường Hùng Vương). Ngày đầu tiên của năm học, học sinh tụ tập trong sân trường hát vang những bài hát cách mạng. Cả tiếng đồng hồ sau, giám thị mới tập trung lại và bắt chào cờ chính quyền Ngô Đình Diệm. Một giám thị hô to: Chào cờ, chào, và bắt nhịp bài quốc ca “Này công dân ơi…” thì cả trường đồng loạt hát bài Tiến quân ca. Cả giám thị cùng thầy cô nhốn nháo la hét: Đừng, đừng hát nữa. Nhưng chúng tôi vẫn hát hết bài rồi cười rần lên và giải tán về lớp học. Tuy chỉ là việc làm tự phát nhưng khiến cho nhà trường cả tháng trời không dám tổ chức chào cờ vào sáng thứ hai hàng tuần. Và cũng suốt trong thời gian đó, học sinh chúng tôi vẫn hát những bài ca cách mạng trong khắp sân trường mà giám thị và thầy cô giáo không cách nào khống chế được.

Ngày 22-10-1956, Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Kiến Phong và lấy Cao Lãnh làm tỉnh lỵ. Hàng loạt các trường học ra đời như trường Trung học Bán công Lê Quý Đôn, trường Trung học Công lập Kiến Phong, trường Trung học Tư thục Thiên Hộ Dương. Trong thời gian này, nhiều hoạt động của học sinh diễn ra sôi nổi như: chống mặc đồng phục, đòi giảm học phí, chống giám thị hống hách, hà hiếp học sinh. Đặc biệt là sự kiện học sinh trường Trung học Bán công Lê Quý Đôn đánh dằn mặt tên Thạch, một mật vụ đội lốt giáo viên dạy tiếng Pháp để theo dõi các phong trào đấu tranh trong học đường.

Tại trường Trung học Công lập Kiến Phong một đội văn nghệ được thành lập gồm có tôi, anh Hồng Doãn, anh Nguyễn Văn Thôi, chị Thúy, chị Huỳnh Mai, chị Mai Huê và nhiều anh chị khác. Chúng tôi thường xuyên tập dợt những tiết mục mang nội dung yêu nước, ca ngợi quê hương, dân tộc để biểu diễn trong những ngày lễ khai giảng, bế giảng và vào dịp Tết nhằm hạn chế những bài hát ca ngợi chế độ Ngô Đình Diệm và chống Cộng.

Lúc nầy, chánh quyền Kiến Phong chủ trương vào đêm thứ bảy hàng tuần sẽ tổ chức một chương trình ca nhạc trên Đài truyền thanh thị xã Cao Lãnh. Tôi bàn với anh Phạm Nhứt Thống là cựu học sinh trường Nguyễn Văn Tố của khu 9 trước đây (Trường Trung học Kháng chiến Nguyễn Văn Tố thành lập tháng 7-1948 tại xã Thới Bình – sông Trẹm, sau dời qua rạch Hàng Nhỏ – sông Cái Tàu thuộc tỉnh Cà Mau. Trường tổ chức được 3 khóa với tổng số 450 học sinh, do giáo sư Nguyễn Văn Nghĩa làm Hiệu trưởng, giáo sư Lê Văn Chí làm Hiệu phó, nhà văn Rum Bảo Việt làm Tổng giám thị – NV) hiện đang làm giáo viên dạy nhạc trong trường Trung học Công lập Kiến Phong tìm cách nhận làm chương trình này. Nhóm ca nhạc truyền thanh chính thức được thành lập gồm có thầy Phạm Nhứt Thống làm trưởng nhóm đàn violon, anh Nguyễn Văn Thôi đàn mandolin, anh Nguyễn Thanh Liêm đàn guitare, anh Phạm Văn Thuận đàn banjo. Tất cả đều là ca sĩ của nhóm. Ngoài ra, chúng tôi còn mời thêm các anh chị em học sinh khác tham gia. Chương trình chọn lựa những bài hát không chống Cộng, không ngợi ca chế độ Ngô Đình Diệm. Thỉnh thoảng chen vào những bài hát ca ngợi quê hương, đất nước của một số nhạc sĩ đang ở miền Bắc.

Tháng 3-1957, tại trường chúng tôi bọn mật vụ đội lốt giám thị, giáo viên có thái độ rất hống hách, gây khó dễ và dòm ngó, theo dõi các hoạt động của học sinh. Chúng tôi tự nghĩ, mình cứ hoạt động. Nếu được thì chắc sẽ có tổ chức đến liên hệ. Vậy là một tổ chức tự phát hình thành với mục đích viết truyền đơn, tờ rơi hạ uy thế những tên mật vụ đội lốt giám thị, gợi ý hướng dẫn cách học sinh đấu tranh với những thầy cô giáo gây khó dễ. Tổ chức gồm anh Nguyễn Văn Thôi ở Tân Thuận Tây (sau là Trưởng đoàn Văn công tỉnh Kiến Phong – đã mất), anh Nguyễn Đắc Lộc (sau là Giám đốc Sở Tài chính Đồng Tháp – đã mất), tôi và một số anh em khác. Nhóm phân công tôi có nhiệm vụ thảo truyền đơn, anh Thôi sửa chữa, anh Lộc viết (vì anh Lộc không đi học trong trường nên chúng không biết nét chữ). Các anh em khác như anh Ẩn, anh Liêm, chị Mai Huê, chị Huỳnh Mai chịu trách nhiệm rải. Từ năm 1957 đến 1958, gần như tuần nào trong trường Trung học Công lập Kiến Phong cũng có truyền đơn in bột rải khắp nơi khiến chánh quyền tỉnh Kiến Phong hết sức hoang mang. Công an và mật vụ cho điều tra nhưng không phát hiện ra nên kết luận do đám học sinh ghét thầy cô mà làm chớ chẳng có Cộng sản gì. 

Tháng 2-1958, một người anh bà con của tôi là Phạm Văn Thuận đến gặp tìm hiểu và hứa một tuần nữa sẽ có người đến bàn bạc, hướng dẫn cách làm để tránh tai mắt của công an và mật vụ. Chúng tôi biết là tổ chức của ta đã đến móc liên lạc. Nhưng mãi hơn tháng sau, anh Phạm Thành Tây (tức Đáng – sau này là cán bộ cơ yếu của tỉnh Kiến Phong hy sinh trong trận 37 tàu ở Thanh Mỹ năm 1967) đến gặp và công nhận tổ chúng tôi là một cơ sở cách mạng ở Cao Lãnh. Chúng tôi không còn viết truyền đơn theo kiểu cảm tính nữa mà có nội dung do tổ chức giao cho đồng thời tuyên truyền cách mạng cho học sinh nhằm phát triển lực lượng.

Cuối năm 1958, tại trường Trung học Công lập Kiến Phong có khoảng 50 học sinh được đưa vào cơ sở, trong đó có các anh Phạm Minh Thành (tự Hồng Việt – sau là Thường vụ Trưởng ban Tuyên huấn huyện Cao Lãnh – hy sinh), anh Phạm Văn Rằng (sau phụ trách cơ yếu của Văn phòng đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ở Nam Vang – hy sinh), anh Nguyễn Văn Nghiệp (Tiền Giang), anh Nguyễn Khương Ninh (Việt Hùng), anh Lê Ngọc Rạng (Quốc Việt), chị Bé, chị Sàng…

Một trong những sự kiện đáng nhớ là nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3-2-1959, nhóm học sinh chúng tôi được phân công treo cờ Đảng, dán áp phích và rải truyền đơn trong nội ô Cao Lãnh. Sáng 3-2-1959, khắp nơi từ sân vận động đến Thánh thất Cao Đài, rồi nhà thầy thuốc Lư ra tận Miễu Trời Sanh đâu đâu cũng có treo cờ búa liềm khiến bọn địch hết sức hoang mang. Đến tận 12 giờ trưa hôm đó, chúng mới hạ xuống hết. Sau đó, tôi cùng anh Thôi và anh Minh Thành được anh Phạm Minh Thuận kết nạp vào Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Tiếp theo là anh Phạm Thành Tây, anh Nguyễn Khương Ninh, anh Lê Ngọc Rạng và nhiều anh em khác. Khi chi đoàn được 20 người thì các anh cho thành lập Ban chấp hành gồm anh Phạm Thành Tây – Chi đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Thôi – Chi đoàn phó, và tôi – Ủy viên Ban chấp hành.

Cuối năm 1959, do cách tổ chức không giữ nguyên tắc bí mật triệt để nên một số bị lộ và bị bắt. Tháng 2-1959, tôi và đồng chí Thôi thoát ly về hoạt động với chi bộ bán hợp pháp ở vùng Hòa An, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây do đồng chí Nguyễn Văn Bé (Bảy Hùng làm Bí thư) rồi chuyển sang chi bộ hoạt động hợp pháp ở Hòa An do đồng chí Út Sương làm Bí thư. Ngoài nhiệm vụ cùng với các đồng chí ở xã trừ gian, phá ấp, diệt tề… Sau đó, chúng tôi được phân công thành lập tổ in truyền đơn, tài liệu, áp phích cho các tổ chức ở thị xã Cao Lãnh chuẩn bị Đồng khởi. Đầu năm 1960, các anh Tây, Lộc, Rạng, Ninh, Minh Thành… cũng lần lượt thoát ly. Riêng tôi và anh Thôi từ tháng 5-1960 được điều về công tác tại văn phòng Huyện ủy Cao Lãnh nên không còn quan hệ với các tổ chức học sinh ở thị xã Cao Lãnh nữa.

Mới đó, mà nay đã 60 năm. Chúng tôi, những người con của Cao Lãnh may mắn còn sống đến hôm nay, mỗi khi gặp nhau lại nhắc nhớ về những kỷ niệm của tuổi học trò ngày ấy. Chúng tôi đã có một thời “áo trắng” không thể nào quên.

Mai Hồng Châu (Hoàng Dũng) kể
Hữu Nhân ghi
(Hội LH VHNT Đồng Tháp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 528

Ý Kiến bạn đọc