Tản văn

Một thoáng Phú Yên

Trong Chuyến Về Nguồn Tỉnh Phú Yên Của Một Số Anh Chị Em Báo Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh (10.10 Đến 14.10.2020), Chúng Tôi Đã ĐI Qua Nhiều Vùng Đất Miền Trung, Bao Lần Lắng Lòng Xúc Động Vì Không Nơi Nào Là Không Ghi Lại Lịch Sử Đấu Tranh Dựng Nước Và Giữ Nước Của Dân Tộc Ta…

 

Về nguồn là dịp trở về tắm lòng mình cùng những trang sử bi hùng của dân tộc, đất nước qua mỗi vùng miền trên quê hương cong cong hình chữ S này. Chúng tôi đã từng về miền Tây Nam bộ để thấy chín nhánh yêu thương bãi bồi phù sa, từng nổi tiếng với “hỏa hồng Nhật Tảo” Nguyễn Trung Trực, về lại Đồng Tháp viếng mộ cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc thân sinh của Hồ Chủ tịch, lặng yên bên những nỗi đau Ba Chúc – An Giang và bao nhiêu cảnh, bấy nhiêu tình của con người vượt qua chiến tranh, thiên tai cùng gầy dựng cho hôm nay đẹp lên từng ngày. Chúng tôi cũng từng ra miền Đông về bên chiến khu Đ, đỏ lòng bên nén nhang tri ân đến bao lớp cha ông, đồng chí, đồng bào đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Xa xa là những đụn cát miền Trung duyên hải còn nhiều khó nhọc. Những Nghĩa trang Trường Sơn, những tên đất, tên người đều khắc họa bức tranh Đất nước Anh hùng.

Lần này, chúng tôi tập trung ra ga hỏa xa từ Thành phố Hồ Chí Minh về Phú Yên trong những ngày đầu tháng 10.2020. Phú Yên như chiếc đòn gánh hai đầu thương yêu của miền Trung, giữa Bình Định đất võ trời văn và Khánh Hòa mộng mơ biển đẹp. Phú Yên cách thủ đô Hà Nội 1.160 km về phía Bắc và cách TP. Hồ Chí Minh 560 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A. Đường bay từ Phú Yên về TP. Hồ Chí Minh là 381km. Nơi đây có ba mặt là núi, phía Bắc có dãy Đèo Cù Mông, phía Nam là dãy Đèo Cả, phía Tây là mạn sườn đông của dãy Trường Sơn, phía Đông là biển Đông. Đồng bằng thành phố Tuy Hòa được xem là vựa lúa của miền Trung. Núi Đá Bia và núi Chóp Chài được sáu huyện, thị, thành phố Tuy Hòa thấy rõ.

Nhịp gõ hỏa xa làm tôi nhớ dịp trước từng đi ra Hà Nội cũng bằng tàu lửa, đi qua cụm tỉnh nào đó hoặc vùng miền quê hương đều có tiếng còi rít lên và những bài ca quê hương hào sảng, da diết được cất lên. Tôi ấn tượng nhất là “Tàu anh qua núi” do NSND Thanh Hoa thể hiện, rồi khi tàu về đến địa phận Thành phố mang tên Bác, màn ảnh ti vi lại vang lên nhịp khúc hào hùng “Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh” của nhạc sĩ Xuân Hồng viết năm nào. Hôm nay, chúng tôi đi trong đêm, thành phố tiễn đoàn bằng cơn mưa nhẹ. Âm thanh của những toa tàu vang lên từ đường ray gợi nhớ xa xăm xưa và nay…

Nếu tính mốc lịch sử từ năm 1611 cho đến 2020 là 409 năm Phú Yên đã được hình thành và phát triển. Đó là nhờ vào tài thao lược Nam tiến của chúa Nguyễn Hoàng, tướng dũng tài ba Lương Văn Chánh khai khẩn, dựng thôn lập làng buổi sơ khai đầy gian khó và lớp lớp tướng, quân, dân đã gầy dựng nên một Phú Yên như hôm nay yên bình và từng bước hòa nhịp phát triển cùng nước nhà.

Sớm mai ra, đoàn chúng tôi đã tới thành phố Tuy Hòa, nắng hửng. Cả đoàn hai mươi mốt người nghiêm trang vào Nhà thờ Bác Hồ thắp nén nhang, mặc niệm tưởng nhớ tiền nhân khai khẩn đất này, nhớ bao nhiêu lớp cha ông đã bảo vệ giang sơn trong thời chống giặc giữ nước, anh linh còn đâu đây dưới mây trời, làng xóm. Di tích lịch sử Nhà thờ Bác Hồ thuộc xã Sơn Định, huyện Sơn Hòa. Nơi đây, ngày 9.9.1969, Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Phú Yên, các đoàn thể và lực lượng vũ trang của tỉnh cùng cán bộ và nhân dân các dân tộc vùng căn cứ Sơn Hòa đã lập Nhà thờ và tổ chức trọng thể Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ năm 2003, chính quyền và nhân dân địa phương đã xây dựng lại khang trang hơn, để giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

So-618--Mot-thoang-Phu-Yen---Anh-1
Tuần báo Văn Nghệ ở tháp Nhạn, di tích kiến trúc – nghệ thuật quốc gia đặc biệt ở Phú Yên.

Sau đó chúng tôi viếng chùa Thanh Lương. Đây là ngôi cổ tự với lối kiến trúc khá lạ, đá núi làm nên sự uy nghiêm của dáng chùa. Mỗi người thầm cầu nguyện cho miền Trung mau qua cơn lụt, lũ, ảnh hưởng bão… Những bước chân nhẹ đi trên nền đất cổ xưa nghe từng cánh nhạn bay về trên tháp. Nằm trên đỉnh Bảo Sơn, phía đông thị xã Tuy Hòa, người ta gọi là núi Nhạn. Trong số những di tích Chămpa còn sót lại tỉnh Phú Yên, tháp Nhạn không chỉ là tháp còn nguyên vẹn nhất mà còn có cả về mặt lịch sử cũng như nghệ thuật. Tuy nhiên tháp Nhạn cũng bị hư hại khá nhiều, đặc biệt là vào thế kỷ thứ XIX, khi Pháp mới chiếm nước ta một tàu chiến Pháp khi đi qua cửa biển Tuy Hòa nhìn thấy tháp Nhạn, thủy quân Pháp tưởng là pháo đài của ta nên đã nã pháo vào làm cho đỉnh tháp bị sụp đổ và cổng tháp cũng bị vỡ. Hiện nay cách tháp 30m là đỉnh tháp bằng đá cao 1,6m, mỗi cạnh rộng 0,9m, đó là một chỏm đá có chân hình vuông được chạm hình cánh sen phía dưới, đỉnh có bầu nhọn. Tháp Nhạn là một trong những tháp lớn của Chămpa, mỗi cạnh dài 11m, cao gần 20m, thuộc loại tháp tầng. Trên các mặt tường của chân tháp được trang trí bằng các cửa giả như mô típ vốn có của tháp… cửa chính ra vào quay vào hướng đông vẫn còn một trám cửa bằng đá thể hiện hình SiVa đang múa điệu múa vũ trụ. Giống các tháp thuộc phong cách chuyển tiếp giữa phong cách Mỹ Sơn A1 và phong cách của Bình Định, trên mặt tường của tháp Nhạn không hoa văn trang trí, các cột đứng song song, khoảng tường giữa các cột ốp chỉ là khung chữ nhật trơn. Vòm cửa giả hình cung nhọn có đầu hình quái vật Kala trên đỉnh. Các tầng trên là cấu trúc thu nhỏ dần của phần thân tháp. Do hư hại nhiều nên người ta dùng xi măng che kín cả chân tháp nên ta không thể thấy được hình dáng trang trí ở phần này. Theo các nhà nghiên cứu của tháp Nhạn được xây dựng cuối thế kỉ XI đầu thế kỉ XII. Tháp Nhạn cũng liên quan tới truyền thuyết Pônagar, người ta cho rằng tại đây cũng thờ bà. Vì trong truyền thuyết xứ Tuy Hòa là nơi đầu tiên bà ghé khi xuống trần và tại đây bà đã giết chết quỷ dữ, khai thông cửa sông Đà Rằng để dân chúng ra vào dễ dàng.

Nói về nguồn gốc của ngọn tháp này có rất nhiều tương truyền. Có người cho rằng, xưa kia có nàng tiên nữ Thiên Y A Na giáng trần chỉ dạy cho người dân sống ở vùng đất này tất cả mọi thứ từ cấy cày, dệt vải, kéo sợi… để tìm cách mưu sinh. Sau khi tiên nữ quay trở lại cõi tiên, người dân Chămpa vì thương nhớ và muốn khắc ghi công ơn người khai sáng cho dân tộc mình bèn xây ngọn tháp ấy để phụng thờ.

Dân gian từng ca rằng:

“Phú Yên có đỉnh Cù Mông
Có hòn tháp Nhạn, có dòng sông Ba”.

Tuy Hòa là vùng đầm lầy trũng thấp có nhiều thủy quái chuyên quấy phá đời sống người dân. Thấy vậy Ông Trời bèn sai người khổng lồ xuống gánh đất lấp vùng trũng, bảo vệ cuộc sống cho người dân. Tuy nhiên khi lấp đã gần xong, người khổng lồ vội về nên đã gánh nhiều đá hơn làm chiếc đòn gánh bị gãy. Đá từ hai gánh rơi xuống một bên tạo thành núi Chóp Chài, một gánh tọa trên núi Nhạn.

Đó được cho là nguồn gốc xuất hiện của ngọn tháp. Còn về tên gọi “tháp Nhạn” thì được người dân ở đây giải thích là do có rất nhiều chim nhạn bay tới đây sinh sống, làm tổ nên ngọn tháp cũng được đặt theo tên của loài chim này.

Tháp Nhạn cao khoảng 25m với đế tháp hình vuông, thân tháp được xây to ở phần chân và thu nhỏ dần về phía đỉnh. Trên đỉnh tháp là tượng Linga bằng đá – biểu tượng tâm linh của người dân Chămpa. Trong mỗi công trình đền tháp của người Chăm đều có Linga và Yoni tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực cầu mong vạn vật được nảy nở sinh sôi.

Đi sâu vào phía bên trong tháp, du khách có thể bất ngờ khi thấy bên trong không có tượng hay ban thờ nào, chỉ có duy nhất một cái am nhỏ để nhang khói cho Thượng Đỉnh Chúa Thiết A Na Diễn Ngọc Phi được xây dựng từ thời Hậu Lê. Xung quanh tường có những hoa văn hình rồng được chạm khắc tinh tế trên đá hoa cương đặt ở 4 góc tháp. Đứng từ bên trong nhìn lên đỉnh tháp chỉ thấy một không gian sâu thẳm cao vút đầy huyền bí.

Lễ hội dân gian thường diễn ra tại khuôn viên quanh tháp Nhạn, những năm gần đây Ngày Thơ Việt Nam vào dịp Nguyên tiêu cũng được tổ chức tại tháp Nhạn. Từ đây nhìn ra thấy cả Tuy Hòa xanh xanh đồng lúa đang lớn nhanh từng ngày trong bàn tay hay lam hay làm của người dân nơi này chịu thương chịu khó, cần cù.

Bảo tàng Phú Yên đón chân tôi cùng anh bạn viết văn Cao Vĩ Nhánh. Bạn hướng dẫn từng vật phẩm trưng bày nơi đây tỉ mỉ. Văn hóa phồn thực, sinh khí như đang tràn trề tiếp nối bao đời, giờ đây được tái hiện qua những vật dụng. Rồi những chiếc bình gốm Tuy Hòa – Phú Yên mới lạ làm sao! Họ làm gốm khác hơn những làng gốm nổi tiếng khác trong nước. Những đường nét hoa văn kính trời trọng đất, yêu sức sống của con người được khắc họa trong từng dáng lọ, chum làm thành sản phẩm rất đặc biệt và có nét chắc chắn. Ngoài ra, chúng tôi còn được biết nơi đây có dòng gốm Quảng Đức tinh tế. Họ dùng nguyên liệu đặc trưng của vùng đất Tuy An: Đất sét An Định, gỗ Mằng Lăng, sò huyết Ô Loan cùng với kỹ thuật nung riêng biệt tạo nên sản phẩm gốm men sò độc bản. Tuy vậy, tôi nghe như có tiếng khóc trong từng sản phẩm gốm chum, lọ kia! Bởi bao nhiêu con sò đã bị chôn sống trong lửa trong bùn, sáp, đất để tạo thành một đồ dùng đầy chất nghệ thuật.

Đoàn chúng tôi tiếp tục ra vịnh Vũng Rô, tưởng nhớ về đoàn tàu không số, nhớ về những trận chiến, đa tài mưu lược của quân dân ta trong quá trình tiếp viện thời chiến bằng đường thủy. Biển gợn sóng nhẹ, muối biển mặn mòi tình “vùi sâu dưới đáy những gì đau thương, biển lại hát tình ca”. Bạn Diệu trong đoàn cười tươi và nói: “Tôi ấn tượng nhất câu nói – Phú Yên điểm đến hấp dẫn và thân thiện”.

Nhà thờ cổ Mằng Lăng là nơi những vị linh mục truyền giáo và chỉ dạy chữ quốc ngữ cho nơi đây trong buổi đầu đầy gian khó. Dáng thập tự trên nóc nhà thờ đã điểm màu năm tháng phôi pha cổ kính. Những gương sáng tử vì đạo lại được lớp lớp con chiên và người dân sau này cất lên những khúc tưởng nhớ Thánh ca. Rồi Gành Đá Dĩa (Di tích thắng cảnh cấp quốc gia – thuộc xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) là nơi sẵn sàng lưu dấu sâu đậm cảm xúc trong mỗi người khi tiếp xúc nơi này. Dấu ấn thiên nhiên để lại từng gợn sóng trên từng thếp đá được xếp đều nhau bóng nâu màu thời gian. Tiếng sóng biển vỗ trắng xóa, ngọn sóng cứ chồm lên như cợt đùa cùng du khách, cũng có khi giận dữ nhoài mình chụp lấy tất cả, mặc kệ bao dựng xây. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên luôn ẩn chứa nơi đây từ ngàn xưa vẫn còn.

Ngày nào Mũi Điện được mệnh danh là một trong những vùng thuộc lam sơn chướng khí của Phú Yên thì nay trở thành điểm du lịch tắm biển, ngắm hải đăng của tỉnh. Ngọn hải đăng nơi đây được mệnh danh là nơi đón bình minh sớm nhất cả nước Việt Nam (được nhà nước công nhận là điểm cực Đông của Tổ quốc). Mũi Điện thuộc thôn Phước Tân, xã Hòa Tâm, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Qua nhiều thời kỳ, mảnh đất nổi tiếng này mang nhiều cái tên khác nhau như: Mũi Điện, Mũi Đại Lãnh, Mũi Kê Gà hay Cap Varella.

Năm 1836, vua Minh Mạng đã cho thể hiện hình tượng núi Đại Lãnh vào Tuyên đỉnh – một trong 9 chiếc đỉnh đồng đặt tại Thế Miếu trong đại nội kinh thành Huế. Năm 1890, người Pháp đã cho xây dựng ngọn hải đăng tại Mũi Điện (tức Mũi Đại Lãnh hay Cap Varella) với mục đích định hướng cho tàu thuyền hoạt động trên biển và vào vịnh Vũng Rô. Thắng cảnh Bãi Môn – Mũi Điện nằm cách trung tâm thành phố Tuy Hòa khoảng 35 km về phía Nam.

Khi hoàng hôn sụp xuống, chúng tôi dạo vòng quanh quảng trường Tuy Hòa, nghe sóng biển vỗ vào. Hầu như buổi tối nơi đây mọi người nghỉ ngơi, đóng cửa sớm. Khoảng 21 giờ là ngoài đường rất vắng, mọi khi đã vắng, tối càng thêm vắng vẻ. Cuộc sống chậm, thở chậm như đang quyện chốn này thành một khối mờ sương nhẹ phủ trong tôi. Tôi không thấy xe ôm, chỉ có một ít taxi chở khách du lịch được đậu gần khách sạn, quảng trường. Đặc biệt, không thấy chuyện chèo kéo khách hàng mua sắm, hay là đua xe lạng lách ở các bạn trẻ.

Tôi ngồi cùng bạn Cao Vĩ Nhánh và nhà thơ Lê Hào bên cà phê Dương Cầm nghe lất phất bụi mưa và theo dõi tin bão xa, áp thấp, rồi lụt đang về Huế. Nỗi buồn thêm sâu lắng, đêm thêm sậm màu theo tiếng khuấy li cà phê. Chúng tôi nói về chuyện từ thiện cứu trợ nơi bị thiên tai, chuyện xưa Phú Yên và chuyện nay tình người.

Đôi ba ngày chưa thể nói gì, cũng chưa thể thấu thị về một vùng đất mang nhiều sắc màu văn hóa phong phú của Việt, Chămpa và tín ngưỡng… đoàn chúng tôi tạm biệt nơi đây. Sân bay Tuy Hòa đón chúng tôi trong màu nắng nhạt. Khi chúng tôi về tới thành phố Hồ Chí Minh cũng là lúc tin bão đang dồn dập, lũ miền Trung lan xa lên tới Quảng Trị, Quảng Bình… Thắc thỏm, gọi bạn Phú Yên. Bạn nói là quê nhà vẫn ổn, hy vọng đừng mưa sa lũ chồm, mong gặp lại nhau bên Dương Cầm quán nghe tiếng mưa tí tách lành lạnh về đêm, trầm tư nhớ những bước chân miền sơn cước thuở sơ khai cho tới bây giờ trải qua hơn bốn trăm năm đầy buồn vui, vẫn không ngơi khát vọng, phát huy, phát triển.

TP.HCM, 19.10.2020

Phương Trần
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 618

Ý Kiến bạn đọc