Tản văn

Một thoáng hương cau

Những câu hát ru có tên vùng miền đất nước thì không sao kể hết, nhưng với tôi, hòa trong tiếng võng đưa kẽo kẹt câu hát ru có địa danh các chợ bán cau trầu quê tôi ấn tượng hơn cả. Vì những nơi này tôi đã được theo bà, theo mẹ đi qua:

Ru con con thét (ngủ) cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh.

Làng tôi không có trầu cau nổi tiếng ngon, nhiều bằng chợ Dinh, Nam Phổ (ngoại ô thành phố Huế). Cũng không có giai thoại cường điệu để đề cao thương hiệu làng cau “Con gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau”, nhưng khách phương xa đến làng vào mùa hè, chỉ mới bước qua cổng làng đều phải dừng chân thích thú hít hà mùi hương đặc biệt mát ngọt của hoa cau. Cau không phủ kín sân vườn, nhưng nhà nào ít nhiều cũng có năm bảy cây để dùng trong những dịp cúng giỗ.

Anh-minh-hoa---Mot-thoang-huong-cau

Nhưng lũ trẻ chúng tôi không quan tâm đến cách sử dụng quả cau của người lớn trong hiếu hỉ, lễ tân hay ngày rằm, lễ Tết… Chúng tôi không hiểu và cũng không cần hiểu đến tình cảm của người lớn được đong đếm bằng nghịch lý “càng nhiều càng ít” qua cách bổ cau mời khách “Thương nhau cau sáu bổ ba/ Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”. Chúng tôi chỉ quan tâm đến những bẹ lá cau vàng khô rụng sau vườn.

Bà đuổi cái nóng trưa hè bằng cái mo cau ép thẳng, cắt tròn thành quạt. Bà bảo quạt mo vừa nhẹ vừa bền, cầm không mỏi tay mà lại có mùi thơm. Để lấy được thứ nước trời, ông hứng nước mưa trên cây cau xuống bằng tàu cau khô buộc quanh thân cây dẫn nước vào miệng chum đặt dưới gốc. Tôi hỏi sao không hứng nước mưa từ mái nhà xuống cho được nhiều, ông bảo trà ngon mà không chế nước mưa hứng từ cây cau thì thà uống nước lá vối cho rồi. Khi rời trường làng, chiếc mo cau cũng đồng hành cùng tôi trong cái cặp sách. Đó là mo cơm nắm cho bữa trưa học trường huyện xa làng. Nhưng ấn tượng hơn cả là các trò chơi “tự biên tự diễn” của lũ trẻ quê.

Thời điểm thăng hoa này, mo cau không còn là thực vật mà chúng đã hóa thành trâu, thành ngựa, thành voi cho các anh hùng liệt nữ oai phong lẫm liệt tung hoành đánh phá giặc ngoại xâm. Sau vài lần “oẳn tù tì” lũ trẻ đã “bầu” ra ai là Thánh Gióng, phe nào là giặc Ân, đứa nào là mã phu và đương nhiên tàu cau là con ngựa sắt. Đến “màn” Đinh Bộ Lĩnh tập trận cờ lau thì tàu cau lại hóa thành trâu cho người anh hùng dẹp loạn 12 Sứ quân lên ngôi Hoàng đế sau này, cưỡi trâu phất cờ lau ra trận. Cuộc chơi không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Có những lúc “quân lính” bất mãn vì oẳn tù tì mãi mà không lên chức để được ngồi “ngựa tàu cau” nên đã cố tình kéo ngựa vào những chỗ mấp mô, sỏi sạn gồ ghề. “Tướng quân” đau bàn tọa la oai oái. Thế là cãi nhau. Thế là oẳn tù tì lại. Nan giải nhất là khi tàu cau “hóa” thành voi. Vì trong sử ta chỉ có Hai Bà Trưng và Bà Triệu là cưỡi voi. Trong nhóm chơi có mấy bạn gái, nhưng chúng được miễn kéo ngựa kéo trâu nên tụi con trai nói không “dại gì” làm lính kéo voi cho chúng. Dùng dằng mãi đến khi có ý kiến cho rằng “Chúng ta kéo voi cho Hai Bà Trưng đi đánh Đông Hán, cho Bà Triệu đi đuổi giặc Ngô. Đừng nghĩ đến kẻ hóa thân của các Bà thì ta… vô tư kéo”.

Thời gian trôi, cau trong vườn vẫn nở hoa kết trái, tỏa hương. Nhưng với lũ trẻ, cảm nhận về cau đã có chiều biến chuyển. Không còn đơn thuần chỉ ấn tượng với những tàu cau rụng để làm voi làm ngựa làm trâu. Nhìn cây cau có người bỗng thấy lòng chùng xuống thương cảm cho tình anh em, nghĩa vợ chồng quyện thắm thành miếng trầu của các nhân vật trong truyện “Trầu Cau”. Có anh tỉ mỉ nắn nót tìm chép các câu ca dao, bài thơ có hình ảnh cây cau “Quả cau nho nhỏ/ Cái vỏ xinh xinh/ Nay anh học gần/ Mai anh học xa/ Lấy nhau từ thuở mười ba/ Đến năm mười sáu thiếp đà năm con/ …” , bài thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương “Quả cau nho nhỏ miếng trầu ôi/ Này của Xuân Hương đã quết rồi/ Có phải duyên nhau thì thắm lại/ Đừng xanh như lá bạc như vôi” rồi chuyền tay nhau đọc lấy làm thích thú.

Rồi có đêm xa nhà, trong cái nóng ngột nơi phố thị, lòng bỗng thấy nao nao nhớ. Nhớ cái quạt mo “nhẹ, bền, thơm” của bà. Nhớ cái chum nước mưa mát ngọt “như nước dừa” của ông đặt dưới gốc cau. Nhớ nắm cơm nhuyễn mịn trong mo cau, mẹ nhẹ nhàng đặt trong cặp sách. Nhớ “hóa thân” vua Đinh, thánh Gióng, bà Triệu, bà Trưng. Nhớ những “chú” voi, trâu, ngựa tàu cau đã chắp cánh cho tuổi thơ theo hương cau ngược về nguồn cội.

Vang đâu đó có ai hát – mà như kể lể – bài tình ca của Nguyễn Tiến:

“Nhà anh có một vườn cau/ Nhà em có một vườn trầu/ Chiều chiều nhìn sang bên ấy/ Hoa cau bên này rụng trắng sân nhà em…”. Và cuối bài, người hát lại chuyển giọng như trách thầm hờn giận vu vơ “Anh thương em rồi sao anh chẳng nói/ Để hoa cau rụng trắng đêm trăng buồn”…

Da diết nhớ về một thoáng hương cau.

Đào Quang Bắc
(TP. Huế)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 419

Ý Kiến bạn đọc