Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Một sự thách thức lịch sử

LTS: Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Ngày 25-3-2018, Trên Trang Văn Hóa – Giải Trí Có Đăng Bài “Giải Phan Châu Trinh Tôn Vinh Nhà Văn Hóa Phạm Quỳnh” Của Tác Giả Lam Điền. Thiết Nghĩ, Quanh Cái Giải Phan Châu Trinh Này Có Nhiều Vấn Đề Cần Trao Đổi Nên Chúng Tôi Cho Đăng Bài Viết Này Của Chu Giang Để Bạn Đọc Tham Khảo.

Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh và trao Giải thưởng cho Phạm Quỳnh là một sự thách thức trắng trợn đối với lịch sử, cả quá khứ và hiện tại.

Người được trao giải thưởng là học giả Phạm Quỳnh, chủ bút Tạp chí Nam Phong, Thượng thư Bộ Học, Thượng thư Bộ Lại của Nam Triều. Về nhân vật lịch sử Phạm Quỳnh thì sự thể đã quá rõ ràng từ văn bản, sử liệu và các luận điểm bình luận. Nói một cách ngắn gọn, như giả định của ông Đinh Nho Hoan trên Tạp chí Xưa & Nay số 486 tháng 8-2017: “… ông ta (Phạm Quỳnh) quả là một tên phản quốc mạt hạng, đáng bị muôn đời phỉ nhổ”… (Bđd. Trg. 53). Giả định trên được kiểm định trên chính tác phẩm của Phạm Quỳnh quyển Tiểu luận bằng tiếng Pháp thời gian 1922-1932 do nhóm Phạm Toàn, Nguyên Ngọc, Ngô Quốc Chiến, Phạm Xuân Nguyên dịch. NXB Tri thức. H.2007. Chính gia đình Phạm Quỳnh cung cấp bản tiếng Pháp cho nhóm dịch. Chỉ cần nêu ra bốn bài tiêu biểu nhất: Bài nói ở Viện Hàn lâm Pháp năm 1922; Chủ nghĩa dân tộc (1929); Thư gửi Ngài Tổng trưởng thuộc địa (1931) và Sứ mệnh của nước Pháp (1932) đã được trích đăng trên Văn nghệ TP.HCM gần đây (từ số 468-471, ngày 21-9-2017 đến ngày 12-10-2017).

Ngược lên, các nhận xét của GS. Đặng Thai Mai, Cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, GS. Trần Văn Giàu, TS. Huỳnh Văn Tòng (Lịch sử báo chí Việt Nam), GS. Nguyễn Văn Trung (Trường hợp Phạm Quỳnh)…, đặc biệt bài của Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1930) và của Cụ Ngô Đức Kế (Luận cùng chánh học và tà thuyết – 1924) càng khẳng định một cách chắc chắn. Có thể nêu thêm: khi soạn thảo Tuyên cáo độc lập cho Bảo Đại (tháng 3-1945) thì Phạm Quỳnh chạy theo Nhật. Bản dự thảo có ba ý chính:

- Tuyên bố Việt Nam độc lập.

- Xóa bỏ các Hiệp ước đã ký với Pháp.

- Hợp tác thân thiện với Đại Nhật Bản để cùng nhau xây dựng khối thịnh vượng chung Đại Đông Á (Phạm Khắc Hòe: Từ triều đình Huế…).

Đó là những “cách yêu nước” của Phạm Quỳnh mà Nguyên Ngọc ca ngợi là “không thể lay chuyển”. Đó là con người chính trị của Phạm Quỳnh. Nếu cách yêu nước của Phạm Quỳnh mà thành tựu thì chắc chắn cho đến hôm nay dân tộc Việt Nam vẫn nằm trong vòng đô hộ của Nhật. Sự “thân thiện” của người Nhật như thế nào thì dân tộc Việt Nam đã thấm thía từ năm 1940 đến tháng 8-1945, hai triệu đồng bào ta chết đói vì Nhật vơ vét thóc gạo, bắt nhổ lúa trồng đay, lạc, thầu dầu, là những nguyên liệu phục vụ chiến tranh. Có thể nói về chính trị, Phạm Quỳnh đắc tội với vong linh hai triệu đồng bào Việt Nam.

So-492--Mot-su-that-thach-thuc-linh-su---Anh-3
Phạm Quỳnh – Năm 1918

Về con người văn hóa ở Phạm Quỳnh có dích dắc hơn nhưng vẫn không che khuất được bản chất “phản quốc mạt hạng” (Đinh Nho Hoan).

Phạm Quỳnh là người rất thông minh. Được Pháp đào tạo từ thuở đồng ấu. Xong trường Thông ngôn mới 16 tuổi đã vào làm việc ở Viễn Đông Bác Cổ chỉ một thời gian ngắn đã có bài đăng ở Đông Dương tạp chí. Phạm Quỳnh rất giỏi tiếng Pháp, đến mức ông Thư ký vĩnh viễn Viện Hàn lâm Pháp cũng phải thừa nhận “ông đây nói được tiếng Pháp” (Thuật chuyện du lịch Paris – Thượng chi văn tập. NXB Văn học. 2006). Tư chất thông minh, giỏi tiếng Pháp lại được làm việc với các nhà khoa học Pháp có trình độ chuyên sâu ở Trường Viễn Đông Bác Cổ nên Phạm Quỳnh có vốn học vấn sâu rộng. Phạm Quỳnh đã lọt vào mắt xanh của người Pháp nên năm 1917, người Pháp chuyển Phạm Quỳnh sang vị trí Chủ bút tạp chí Nam Phong. Chỉ là chủ bút thôi. Còn chủ trương, chủ trì, chủ chi là do Phòng chính trị Phủ Toàn quyền mà trực tiếp là Louis Marti, chánh mật thám (Phòng Nhì) Đông Dương kiêm Chủ đồn điền Marti (vùng Trâu Quì – Gia Lâm ngày nay). Thậm chí Marti trực tiếp duyệt bài vở của Nam Phong (Huỳnh Văn Tòng – Lịch sử báo chí Việt Nam). Như thế, dù có Thổ nạp Á Âu đến đâu, tài bồi quốc văn đến đâu thì Phạm Quỳnh cũng không thể, không dám vượt ra ngoài cái vòng kim cô của Phủ Toàn quyền. Đây là chỗ quyết định bản chất con người văn hóa ở Phạm Quỳnh mà Nguyên Ngọc và những người “hoài Phạm” đều lẩn tránh khi biện luận. Ta thấy rất rõ tâm trạng “Kép Tư Bền” của Phạm Quỳnh: Khi viết bằng quốc ngữ trên Nam Phong thì hết lời tài bồi quốc văn, bài học lịch sử, truyền thống dân tộc… nhưng khi viết bằng tiếng Pháp, như Tiểu luận trong thời gian 1922-1932 lại tỏ ra trung thành tuyệt đối với Bảo hộ, đến mức như giả định của ông Đinh Nho Hoan nói trên. Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan là tâm trạng thực. Bố chờ chết mà con vẫn phải lên sân khấu làm trò cười. Còn Kép Phạm Quỳnh thì dù ở tiếng Pháp hay quốc văn quốc ngữ, đều rất nhất quán: Vì Phủ toàn quyền, vì sự trung thành với nước Pháp. So sánh bài Truyện Kiều (1919) in lại trong Thượng Chi văn tập với Diễn thuyết ở Hội Khai trí Tiến Đức nhân ngày giỗ Nguyễn Du (1924) thì thấy rất rõ. Cái chỗ nhãn tự của bài viết mà Cụ Ngô Đức Kế đã vạch trúng tim đen là tà thuyết, nằm ở phần sau của câu này: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ” (Nam Phong số 86 – 1924). Cho đến nay, những người bênh vực cho Phạm Quỳnh như các GS. Nguyễn Đình Chú, Phong Lê, Trần Đình Sử… đều lẩn tránh, không dám trích dẫn đầy đủ!

Theo chúng tôi, đây là chìa khóa để hiểu và “định luận con người văn hóa Phạm Quỳnh. Bài Truyện Kiều (1919) dù sao cũng còn là một bài nghiên cứu, một tiểu luận về Truyện Kiều, ít nhiều có tính học thuật. Nhưng đến bài Diễn thuyết… (1924) là mượn Truyện Kiều để làm chính trị theo lệnh của Phủ toàn quyền. Cụ Nguyễn Văn Cư trong Hà Nội Xưa và Nay (NXB Hội Nhà văn – 2015) nói thẳng ra là Pháp sai Phạm Quỳnh tổ chức tán dương Truyện Kiều hòng làm lạc hướng phong trào yêu nước của nhân dân ta lúc đó. Ngoài tổ chức kỉ niệm tán dương Truyện Kiều, Pháp còn tài trợ cho làm phim về Kiều…

Có người cho Phạm Quỳnh có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây… Điều đó là đúng. Phạm Quỳnh rất giỏi tiếng Pháp, nên việc giới thiệu văn hóa văn minh Pháp, khảo cứu về kịch, về tiểu thuyết… chỉ là việc chuyển ngữ, đương nhiên là có biên tập lại. Ngay cả khảo cứu về Phật giáo hay Nho giáo là cũng giới thiệu, thuật lại công trình của các học giả Pháp (Thượng chi văn tập). Tuy không sáng tạo ra các giá trị mới, nhưng chuyển tải, giới thiệu sang quốc âm cho đồng bào cùng biết cũng là một việc làm, một sự có công, ta không nên phủ nhận. Về phần này, chúng tôi đã nói đến trong loạt bài “Ngựa non háu đá” (VN TP.HCM số 459-460 ngày 20 và 27-7-2017).

So-492--Mot-su-that-thach-thuc-linh-su---Anh-2
Năm vị Thượng thư (Bộ trưởng) của Triều đình Huế khi Bảo Đại lên ngôi.
Từ trái sang: Hồ Đắc Khải – Phạm Quỳnh – Thái Văn Toản – Ngô Đình Diệm – Bùi Bằng Đoàn

Tư chất thông minh, học vấn sâu rộng là đáng trân trọng. Nhưng sử dụng học vấn đó vào mục đích gì mới là cốt lõi, cốt cách, hồn cốt của một nhà văn hóa. Điều này Phạm Quỳnh không có. Vì tất cả, ông đã thuộc về người Pháp. Trách ông nhưng cũng phải thương xót nuối tiếc cho ông. Cơm áo không đùa với khách thơ mà.

Chúng tôi muốn tóm tắt về con người văn hóa Phạm Quỳnh: đó là văn hóa nô lệ, văn hóa đầu hàng, là “chủ nghĩa quốc gia ăn xin” (Trần Văn Giàu). Như vậy, con người chính trị với con người văn hóa ở Phạm Quỳnh là thống nhất, không có chuyện hơn kém. Và tất cả, đều là những trở ngại lớn cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Ngày nay Đại cuộc Đại nghĩa của dân tộc đã hoàn thành thắng lợi. Bây giờ là lúc phải đoàn kết dân tộc xây dựng đất nước. Phê phán kết tội Cụ không cần thiết, không có ích gì, mà tán dương phong tặng cho Cụ là xuyên tạc lịch sử, là phản văn hóa.

Mặt khác, ngoài thì là lý song trong là tình. Con cháu cụ sau này đã tận tụy với Cách mạng như GS. Phạm Khuê, Nhạc sĩ Phạm Tuyên – Giải thưởng Hồ Chí Minh, thì ta phải biết công lao sinh thành dưỡng dục của Cụ to lớn biết dường nào. Cách tốt nhất là để cho Cụ yên nghỉ. Còn công lao của GS. Phạm Khuê, Nhạc sĩ Phạm Tuyên thì phải ghi nhận, tri ân. Như thế là có lí có tình, không nên quá về phía nào.

Chúng tôi thấy cần phải nói thẳng điều này:

Trước đây thực dân Pháp đã mượn Cụ Phan Châu Trinh để chia rẽ hàng ngũ cách mạng (Xem Tôn Quang Phiệt 1900-1973, NXB Văn học. 2014), thì ngày nay Nguyên Ngọc lại mượn Cụ Phan để chia rẽ dân tộc, phản bội lại con đường cách mạng đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trước đây thực dân Pháp dùng Phạm Quỳnh để chống lại công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thì ngày nay Nguyên Ngọc lại mượn Phạm Quỳnh để làm cũng một việc như mượn Cụ Phan, núp dưới bóng Cụ Phan như đã nói trên.

Mục đích của Nguyên Ngọc không phải là tôn vinh những nhà này nhà kia tài ba công đức mà dựng họ lên để thực hiện mưu đồ phủ nhận con đường Hồ Chí Minh, phủ nhận thành tựu của công cuộc giải phóng dân tộc, làm phân rã khối đoàn kết dân tộc, tạo điều kiện cho sự can thiệp từ bên ngoài. Việc trao thưởng cho một tác giả Hoa Kỳ viết về lịch sử Việt Nam hay bênh vực cho Kit Taylo là một ví dụ. Việc bào chữa cho tội ác tàn sát đồng bào miền Nam là một ví dụ (Để tìm diệt Việt Cộng thì không thể không tát nước bắt cá, giết cả dân thường…).

Nguyên Ngọc nhiều lần nói với bạn là một Giáo sư ở Đại học Sư phạm Hà Nội: Chế độ này thể nào cũng sụp đổ. Chỉ chưa biết nó sụp đổ theo kịch bản nào. Và hoạt động của Nguyên Ngọc thực chất là đang tạo ra các kịch bản đó. Đó là việc Nguyên Ngọc cố tình xuyên tạc lịch sử để làm lung lạc lòng tin vào đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh, gây ra sự nghi ngờ, oán thù cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Phủ nhận thành tựu của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Nếu cuộc cách mạng này là sai lầm, làm tổn hại xương máu của nhân dân thì cũng đồng nghĩa là kết tội đường lối cách mạng đó, kết tội những người tổ chức lãnh đạo cuộc cách mạng đó. Đấy là một ý đồ rất thâm độc. Nó đã lung lạc không ít người. Rằng cứ theo gương Ấn Độ (bất bạo động) hay Thái Lan hay một số nước khác rồi cũng có độc lập mà không hao tổn xương máu. Nguyên Ngọc bám lấy Cụ Phan, núp bóng Cụ Phan để làm việc này. Nếu đường lối của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản bị kết tội bị lên án thì đó chính là kịch bản của sự sụp đổ của chế độ này.

Chế độ này sụp đổ hay không là vấn đề chính trị phức tạp liên quan đến rất nhiều vấn đề về dân tộc và tính chất của thời đại, là một đề tài lớn, phải trao đổi vào lúc khác. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nói với ông Nguyên Ngọc rằng, dù làm chính trị hay văn hóa đơn thuần, sự trung thực, nhất quán phải là nền tảng mới bảo đảm cho những giá trị của nó. Nhưng ông Nguyên Ngọc rất gian dối. Ông đã xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc các cứ liệu, chỉ nhấn mạnh mặt nào điểm nào có lợi cho lập luận của ông. Hoạt động của ông là trái lại với bản chất của học thuật chân chính. Sự nhìn nhận khác nhau trước cùng một đối tượng là bản chất vốn có của đời sống cũng như học thuật. Vì khác nhau nên cần trao đổi bổ sung cho nhau để cùng nhận ra sự thực bản chất nhất. Nhưng ông Nguyên Ngọc chưa bao giờ có ý kiến trao đổi mà chỉ là giọng quả quyết, tuyên bố, tuyên ngôn, kết luận, định luận. Sự cực đoan đến mù quáng đã đưa ông đến những luận điểm rất ngớ ngẩn. Như lời ông ca ngợi đầu óc chói sáng của Phan Châu Trinh ngay từ đầu đã nhận ra là các nước, các dân tộc phải cùng sống với nhau. Ý rằng hội nhập toàn cầu là từ Cụ Phan kia đấy. Hoặc ông ca ngợi Tự Đức đã trừng phạt nghiêm khắc các tướng sĩ để thua trận. Quân thua chém tướng là chỉ biện pháp nhất thời. Tự Đức có đường lối gì, có giữ được nước hay không mới là vấn đề. Chém hết tướng mà vẫn mất nước thì khen nỗi gì. Ông ca ngợi “lòng yêu nước không lay chuyển” của Phạm Quỳnh. Ấy là ông nói lại một câu trong báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ thôi. Yêu nước mà trung thành với kẻ thù xâm lược, chấp nhận và vận động dân chúng chấp nhận bảo hộ, chấp nhận đô hộ… Thế là “yêu nước Pháp” chứ không yêu dân Việt. Mà báo cáo của Khâm sứ vào tháng 1-1945, là lúc ông Phạm Quỳnh đã ngả theo người Nhật rồi. Lòng yêu nước của Phạm Quỳnh theo báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ cũng là đề tài hay. Khi Pháp mạnh thì ông theo Pháp để “xin lại Tổ quốc”. Khi Pháp thua, Nhật tạm thời thắng thế thì ông lại theo Nhật, cảm ơn quân đội Thiên Hoàng đem lại độc lập cho nước ông, rồi Tuyên cáo “thân thiện” với Đại Nhật Bản. Đúng là lòng yêu nước (nếu có) của Phạm Quỳnh thì không lay chuyển. Nhưng cách yêu nước của Phạm Quỳnh là hết thời chủ này thì theo chủ kia. Với lòng yêu nước kiểu đó thì không bao giờ còn nước để mà yêu. Chỉ còn ông chủ này hay ông chủ kia. Nói như Bộ trưởng thuộc địa Pháp năm 1946 là: Không có chuyện dân chủ ở Đông Dương. Chỉ có thay Toàn quyền này bằng Toàn quyền khác… (Triết gia Trần Đức Thảo).

Sự ngớ ngẩn trong biện luận của Nguyên Ngọc thì không kể xiết. Chỉ nêu vài ba trường hợp. Về phương diện này thì Nguyên Ngọc rất “Đặng”: Mèo trắng mèo đen miễn là… Phương pháp luận đó gọi là chủ nghĩa thực dụng cho nó có vẻ triết học, thực ra là cách thức của đám con buôn cướp giật lừa đảo, không phải của người có văn hóa.

Về con người Nguyên Ngọc, tác giả Trần Hoài Dương đã nói rất rõ trong bài “Nguyên Ngọc từ một góc nhìn” đã đăng trên Văn nghệ TP.HCM và in lại trong phần Phụ lục của Luận chiến văn chương Q.3. NXB Văn học. 2015) nay không nhắc lại. Chỉ lưu ý bạn đọc rằng hoạt động của Nguyên Ngọc là đi ngược lại tinh thần đổi mới. Thực chất là muốn lật lại lịch sử. Nếu Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản, Phạm Quỳnh đều là yêu nước, có công với dân với nước thì cách mạng do Đảng Cộng sản tổ chức lãnh đạo là sai lầm. Nếu Phan Chu Trinh đúng thì “Đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào” là sai.

Nếu chỉ tranh luận biện bác loanh quanh về “bất bạo động” về Ganđi (Ấn Độ), về đám Pôn Pốt (Nguyên Ngọc suy luận chủ nghĩa cộng sản từ sự kiện Pôn Pốt diệt chủng), về sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN… thì có sống lâu hơn ông Bành Tổ cũng chỉ là con kiến cành đa cành đào. Sao Nguyên Ngọc không cật vấn người Pháp người Nhật người Mỹ không theo con đường bất bạo động mà chỉ phê phán phía người Việt Nam, phía nạn nhân? Thời Ganđi là như thế nhưng con cháu Ganđi bây giờ là như thế nào? Tại sao người Pháp chỉ tha cho Phan Châu Trinh mà không tha cho các cụ Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Huỳnh Thúc Kháng? Cụ Nguyễn Thiện Kế, em cụ Nguyễn Thiện Thuật cũng bị đày ra Côn Đảo. Nguyễn Thái Học và đảng của ông, các đồng chí của ông có phải Cộng sản đâu mà bị tiêu diệt tàn bạo như thế. Người Pháp còn in thủ cấp của các liệt sĩ lên tem, lên bưu ảnh để khủng bố tinh thần dân chúng – Xưa & Nay số 482 (4-2016). Nguyên Ngọc há chẳng biết câu Con giun xéo lắm cũng quằn cơ mà, huống là con người, là hàng triệu người, là cả một dân tộc.

Thế giới ngày nay cực kì phức tạp. Những đợt giải cứu dưa hấu, thanh long, su hào, củ cải, thuế chống phá giá, ma túy, tiền giả từ bên ngoài tràn vào… Các vụ đại án tham nhũng, gian lận thương mại, tệ nạn xã hội, học đường, gia đình… Đó là những vấn đề bức xúc hàng ngày, và về lâu dài sẽ như thế nào nếu tài nguyên môi trường cạn kiệt, dân số dày đặc… Đó là những đề tài phải ưu tiên giải quyết. Chỉ thiếu nước và thực phẩm là xã hội sẽ rối loạn lên rồi. Sự thắng thế của qui luật giá trị, thị trường; sự tràn ngập hàng hóa và kích thích nhu cầu kéo theo sự tha hóa của con người không chỉ một quốc gia một thị trường mà là toàn nhân loại. Hàng hóa và tha hóa là hai mặt không tách rời của một thực thể: chủ nghĩa tư bản, thị trường tự do, cạnh tranh tự do. Đó là những vấn đề lớn cực kỳ cấp thiết mà giới khoa học, trí thức phải giải quyết. Phải trở lại Phật giáo, Nho giáo. Các tôn giáo có tính nhân văn, kết hợp với Mác – Lênin – Hồ Chí Minh mới hi vọng thấu hiểu để giải đáp, giải quyết. Nói như thế để thấy Nguyên Ngọc đang hoạt động cho mình chứ không phải cho cộng đồng. Cái ngụy biện nguy hiểm là núp bóng Cụ Phan Châu Trinh và khơi dậy nỗi niềm (kể cả thù hận) của những người, những gia đình, thế hệ đã có mất mát, oan khổ trong quá khứ. Mượn nỗi đau của người khác để gây ra nỗi đau cho cả cộng đồng đang là hành động của Nguyên Ngọc. Nhưng chúng tôi tin tưởng vào lương tri của dân tộc. Đại học Phan Châu Trinh phải tự đóng cửa là một minh chứng. Giải Phan Châu Trinh năm nay vẫn diễn ra ở một khách sạn chứ không phải ở Dinh Thống Nhất là một minh chứng. Phạm Xuân Nguyên, trợ thủ đắc lực, cái loa của Nguyên Ngọc phải ngậm đắng nuốt cay từ giã diễn đàn văn học ở Hội Nhà văn Hà Nội cũng là một minh chứng. Và Văn đoàn độc lập thì vẫn đang vận động thành lập… Chúng tôi tin tưởng sự nghiệp chính nghĩa, thành quả chính đáng của cách mạng giải phóng dân tộc sẽ được gìn giữ, phát huy.

Hà Nội, 26-3-2018

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 492

Ý Kiến bạn đọc