Góc nhỏ Sài Gòn

Một nửa khác của Sài Gòn…

Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, giữa một khu ổ chuột nhếch nhác. Sài Gòn với riêng tôi – nơi thế giới dường như được chia làm hai nửa. Một nửa với lung linh ánh đèn, được ví von như hòn ngọc rạng ngời giữa biển Đông. Nửa kia tối om, chật chội, nghèo nàn. Những khu nhà lụp sụp nối dài theo những con nước đen sì, hôi rình, đặc quánh. Sài Gòn với những con người ngụ cư trong những khu ổ chuột là cuộc mưu sinh nghiệt ngã rất người.

Nhà tôi nằm trong một con hẻm hun hút sâu, rẽ trái, rẽ phải như biết bao mê cung khác giữa Sài Gòn. Gọi là nhà cho oai chứ thực chất chỉ là một căn nhà trọ cũ kĩ. Xóm tôi đa phần là dân ngụ cư tứ xứ. Họ làm đủ thứ nghề để có thể tồn tại giữa Sài Gòn này. Trong những căn gác trọ tồi tàn, chật ních đồ đạc họ vẫn sống, vẫn sinh hoạt cạnh kênh nước đen ngòm. Họ đến đây vì nhiều lí do, nhiều cảnh đời.

Những căn nhà tồi tàn ấy được cho thuê rất rẻ. Ban ngày mệt nhoài những bước mưu sinh, đêm về xóm trọ này cho họ có chỗ chui ra chui vào, có chỗ cho những phút giây hạnh phúc của sự nghèo giữa thành phố xa hoa bậc nhất.

Đôi khi một ai đó đi ngang qua khu ổ chuột mà tôi sống, họ bịt mũi vì dòng kênh đen sì bốc mùi, khinh khỉnh vì cái vẻ nhếch nhác, lộn xộn “kém văn hóa, văn minh đô thị”. Nhưng ở tại nơi này, cuộc sống vẫn diễn ra. Biết bao người đêm đêm nhìn ánh đèn rực rỡ phía bên kia sông, vẫn khao khát, vẫn cố gắng vì một cuộc sống tốt hơn. Cố gắng từng cuốc xe ôm, từng hột vịt lộn, từng chén tàu hũ… chỉ mong có thêm tập vở, bộ quần áo mới cho con.

Buổi chiều những người đàn ông đốt thuốc, ngồi nhìn những giề lục bình lênh đênh trôi dạt. Những người đàn bà gương mặt nhàu nhĩ, buồn rười rượi ngồi tựa cửa nhìn những đứa trẻ loi choi chơi đùa. Những đứa trẻ tóc cháy vàng khè, da đen nhẻm vì bán vé số, đánh giày trên những con đường bỏng rát nắng trưa. Ở nơi này tôi nghe những nỗi muộn phiền cơm áo, những nỗi buồn không gọi nổi thành lời… Họ là những người rời bỏ quê hương mình, dạt về Sài Gòn để sống, để chắt chiu từng đồng tiền lẻ gửi về nhà cho lũ con háu đói.. 

Mẹ vẫn thường kể, tôi sinh ra vào trúng mùa mưa Sài Gòn. Con kênh sau nhà cứ đục lềnh đầy rác rưởi. Căn nhà trọ dột nát. Mẹ ôm con xoay hết chỗ này chỗ nọ mà vẫn không tránh khỏi cái ướt. Ba oằn mình chạy từng cuốc xe ôm kiếm tiền mua sữa. Cứ như thế, tôi lớn lên trong sự mưu sinh nặng nhọc của ba mẹ, trong cái cựa mình mưa nắng của Sài Gòn.

Phố nằm trong phố, những nhà cao tầng nằm san sát bên nhau, xóm trọ của tôi lầm lũi, ẩn mình. Từ nơi đó, tôi chật vật sống, chật vật mưu sinh cùng gia đình nhỏ bé của mình. Từ đó, tôi vẫn nghe mùi cá ươn, mùi rác và cả những âm thanh, mùi vị không thể gọi thành tên. Nó là nỗi nhớ, là niềm thương, là nước mắt rưng rưng của những người xa quê khi gọi tên làng tên xóm cũ, là nỗi buồn mỗi chiều ngồi trước cửa trọ mà nhìn về phương trời nào xa lắc.

Rồi một ngày, khi có ai đó thu dọn hành lí, rời xa xóm trọ này bỗng thấy nhớ, thấy thương vô cùng. Họ đến với Sài Gòn, rồi rời bỏ Sài Gòn. Chỉ có Sài Gòn vẫn như thế, như người mẹ rộng lòng bao dung dang tay đón họ và ngậm ngùi cho những lúc chia xa…

Nam Khuê
(Quận Thủ Đức)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 491

Ý Kiến bạn đọc