Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Một nhà sư ca ngợi Bác Hồ

Đó là Thượng tọa Thích Huệ Đăng(*), một nhà Phật học rất nổi tiếng ở Việt Nam. Chẳng những nổi tiếng về Phật học, sư còn nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực khác, như: Yoga, cấy mầm sâm Ngọc Linh, mầm hoa phong lan.

Với phương pháp Kriya Yoga độc đáo, sư được giới Yoga Ấn Độ đánh giá rất cao, và sau khi khảo sát, chứng nghiệm phương pháp của Thượng tọa, Trung tâm Sivarada Yoga Vedante Quốc tế, thuộc Học viện Yoga Vedante Forest, đã cấp bằng cho sư tước hiệu là “Bậc thầy Yoga”. Là một nhà khoa học, được cấp bằng sáng chế về “Cấy mô sâm Ngọc Linh và hoa phong lan”, và công trình này đang được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Thuong-toa-Thich-Hue-Dang---Anh-1
Thượng tọa Thích Huệ Đăng. Nguồn: tamsugiadinh.vn

Thượng tọa thấm nhuần lời dạy của Đức Phật Thích Ca: Người tu hành cũng phải tạo ra của cải vật chất để giúp mình và giúp người. Thượng tọa không nhận sự cúng dường của bá tánh, tự mình cũng thừa sức nuôi mình, không ỷ lại, nhờ vả người khác.

Với Bác Hồ thì Thượng tọa dành một sự kính trọng chân thành, thiêng liêng và sáng suốt của một nhà tu hành và một nhà khoa học chân chính.

Những gì sư nói về Bác đều rất dễ hiểu, và không khác thiên hạ về đức độ, công lao của Bác đối với đất nước, đối với dân tộc, đối với nhân loại, nhưng giàu màu sắc, thâm sâu và khẳng định thêm nhiều.

Trong khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, sư nhận ra có nhiều nét tương đồng với các tư tưởng lớn của Phật giáo. Đó là:

1. Tư tưởng hy sinh cho nhân loại và chúng sinh.

2. Tư tưởng vì con người, lo cho con người.

3. Tư tưởng sống thanh bạch, giản dị, tránh xa hoa, lãng phí.

4. Tư tưởng chống chủ nghĩa cá nhân, chống thói hư tật xấu, tha hóa về đạo đức.

Về tư tưởng suốt đời cống hiến cho nhân dân của Bác, không có gì dễ hiểu bằng nghe lời bộc bạch của Người:

“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Thượng tọa Thích Huệ Đăng viết:

“Tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều mặt gần gũi, gặp gỡ với giáo lý Phật giáo. Cốt tủy của Phật giáo là Từ bi hỉ xả, Vô ngã vị tha, Cứu khổ cứu nạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôn chỉ, mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm”.

Như vậy, đủ thấy Bác Hồ nắm vững cái cốt lõi của Phật giáo như thế nào. Điều này khiến cho ta liên tưởng đến các danh nhân trên thế giới nói về Phật giáo. Nhà bác học thiên tài Albert Einstein hết lời ca ngợi Phật giáo: “Chính Phật giáo mở đường cho khoa học phát triển”. Đại văn hào Nga Lev Tolstoy thì ghi trong sổ tay của mình (đến khi ông qua đời, người ta lục ra mới thấy) rằng: “Phật Thích Ca là nhà tư tưởng vĩ đại nhất”.

Còn một nhân vật vĩ đại khác của Việt Nam là vua Trần Nhân Tông, người thấu hiểu tư tưởng Phật giáo hơn ai hết. Là một vị vua anh minh và vô cùng dũng cảm, hai lần lãnh đạo đất nước đánh thắng quân xâm lược Nguyên cường bạo, cứu muôn dân, rồi không luyến tiếc ngai vàng, ra đi tìm một con đường bền vững để bảo vệ non sông, vì Nhà vua quả quyết rằng giặc (nói chung) sẽ còn đến, và chúng sẽ đến với lực lượng mạnh hơn nhiều. Nhân dân ta phải có một thứ bửu bối nhiệm màu để đối chọi với quân giặc. Bửu bối ấy là gì? – Là tinh thần đại đoàn kết toàn dân. Từ Trần Nhân Tông, tổ tiên ta đã biết lấy đoàn kết làm sức mạnh vô địch, lấy lòng dân làm điểm tựa không gì lay chuyển được. Tinh thần đại đoàn kết ấy lấp lánh điệp trùng trong ca dao, tục ngữ Việt Nam:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”

“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống, nhưng chung một dàn”

“Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

“Thuận vợ thuận chồng
Tát biển Đông cũng cạn”

“Chị ngã, em nâng”

“Thương người như thể thương thân”

“Lá lành đùm lá rách”

“Máu chảy, ruột mềm”

Vua Trần Nhân Tông là vị vua từ bi hỉ xả nhất trong thiên hạ. Cho nên muôn dân một lòng một dạ yêu quý và vâng lời vua Trần.

Bác Hồ cũng là người vô cùng độ lượng và đặt yêu cầu đoàn kết dân tộc lên hàng đầu. Người luôn dặn dò đảng viên, cán bộ: “Muốn làm gì, phải hỏi dân”. Bởi vì:

“Dễ trăm lần, không dân cũng chịu,
Khó vạn lần, dân liệu cũng xong”

Một lần đi chúc Tết các cơ quan, chiếc xe hơi của Bác lọt xuống ruộng. Bà con nông dân xúm nhau đỡ xe Bác lên. Bác đến nơi hơi muộn, nhưng Bác lại vui. Bác bảo: “Không có dân, Chủ tịch cũng chịu!”.

Khẩu hiệu thân thiết nhất của Người là:

“Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết!
Thành công! Thành công! Đại thành công!”

Người hiểu hơn ai hết: “Kết đoàn, chúng ta là sức mạnh”, như lời bài hát viết.

Thuong-toa-Thich-Hue-Dang---Anh-2

Năm 1945, Người phát triển rộng khắp đất nước tổ chức Mặt trận Việt Minh, để tiến lên giành chính quyền trên toàn quốc. Mặt trận Việt Minh là khối đoàn kết vững như thành đồng, lũy thép của nhân dân Việt Nam ta. Và suốt từ đó đến nay, với tên gọi khác nhau: Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc, đã phát huy tác dụng to lớn trong việc giành lại độc lập, thống nhất cho nước nhà.

Bác Hồ là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân ấy. Bác xứng đáng với danh nghĩa ấy vì Bác luôn luôn gương mẫu, không hẹp hòi mà rất vị tha, rất “từ bi hỉ xả”. Người không chen lấn ai cả và chỉ một lòng một dạ phụng sự nhân dân, phụng sự đất nước mà thôi. Người nói:

“Tôi như là một người lính ngoài mặt trận. Đồng bào bảo tiến lên thì tôi tiến lên. Đồng bào bảo lùi xuống thì tôi lùi xuống”. Và Người yêu cầu cán bộ phải là “đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Văn hào Lỗ Tấn có câu:

“Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ,
Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”

Đó là câu nói hay của thời đại nhân dân không còn là nô lệ nữa, mà đã trở thành người chủ của nước nhà. Vì chỉ khi nào nhân dân thực sự làm chủ, đất nước mới có ấm no, hạnh phúc. Còn nếu cán bộ cứ muốn đứng trên dân thì chẳng khác nào đi giật lùi, giống như muốn trở lại các chế độ đè đầu dân mà ta từng đánh đổ.

Làm người đầy tớ trung thành của nhân dân là một điều cao quý mà không phải ai cũng làm được. Người đầy tớ đúng nghĩa ấy lúc nào cũng được nhân dân yêu quý và kính phục chứ không phải bị coi thường như nhiều người lầm tưởng. Do thói quen đã nhiễm từ bao đời, những “ông quan cách mạng”, cứ tưởng phải ra oai, ra vẻ thì dân mới kính nể. Thật không có gì sai lầm hơn ý nghĩ đó. Vì chính Bác Hồ là người gương mẫu nhất trong chức trách làm đầy tớ trung thành của nhân dân. Bác luôn luôn nhắc nhở rằng đất nước là của dân chứ không phải của một cá nhân hay một nhóm người, dù cho những người ấy là ai, tài giỏi đến đâu.

Thế nào là người đầy tớ trung thành của nhân dân?

Danh hiệu thực sự cao quý ấy, đề ra là để làm, chứ không phải để nói suông. Trong khi nhân dân còn nghèo khổ mà anh xa hoa, phung phí, “sống như vua” tức là anh nói suông rồi! Bác Hồ không bao giờ như vậy. Bác dành dụm từng đồng, từng xu cho nhân dân. Chẳng hạn như đôi dép cao su Bác mang có lần bị hư, anh cần vụ đề nghị mua đôi dép khác và nói rõ giá đôi dép chỉ có hai đồng rưỡi thôi. Nhưng Bác không chịu. Bác bảo “hỏng nhưng còn sửa được thì sửa lại mà dùng”. Chiếc xe hơi Bác đi là chiếc xe rất cũ và không phải loại sang như người ta, anh lái xe đề nghị Bác đổi xe mới. Bác hỏi: “Xe còn chạy được không?”. Anh lái xe bảo còn chạy được. Bác nói: “Còn chạy được thì cứ dùng. Chừng nào không còn chạy được, Bác sẽ đồng ý cho chú đổi”. Một hôm, cô phục vụ chỉ xuống chân Bác và nói: “Bác ơi! Bít tất của Bác thủng rồi kìa!”. Bác liền cúi xuống, xoay chỗ thủng xuống dưới và vui vẻ nói: “Có còn thủng nữa đâu!”. Và còn vô số những dẫn chứng khác, cho thấy “người đầy tớ” vĩ đại ấy đáng được và đã được nhân dân kính trọng đến ngần nào. Bác không hề sợ ai chê mình là “quá tiết kiệm” cho đất nước, cho nhân dân cả.

Bác luôn luôn nghiêm khắc với mình, nhưng lại rất chu đáo, hào phóng với người khác. Một lần đi thăm bộ đội, năm 1945, thấy các chiến sĩ lót lá chuối đựng rau muống luộc. Bác hỏi ngay, sao lại làm thế? Anh em đáp vì không có đĩa. Bác lại hỏi: “Còn nước luộc thì bỏ à?”. Bộ đội đáp: “Thưa Bác, để ở trong nồi ạ!”. Sau buổi đi thăm, Bác dặn đồng chí trong Tỉnh ủy đi theo Bác xuất tiền mua bát đĩa cho bộ đội đựng thức ăn.

Muốn thực hiện được đoàn kết, cần phải thật lòng và biết tha thứ. Bác Hồ là người không cố chấp. Nhờ vậy, đi theo Bác, người ta rất yên tâm, không phải lo sợ gì cả. Đơn cử việc trịnh trọng mời cụ Vi Văn Định tham gia kháng chiến từ năm 1946 cũng đủ thấy lòng “từ bi hỉ xả” trong Bác cao cả đến cỡ nào. Nhà văn Học Phi nói: “Nếu không phải là Bác thì không ai có thể sử dụng cụ Vi được như thế”. Vì cụ Vi là người chống phá cách mạng, hợp tác đắc lực với các chính quyền thực dân, phong kiến trước cách mạng 1945. Nhà văn Học Phi, năm 1945, làm Chủ tịch Ủy ban giải phóng tỉnh, cho bắt cụ Vi. Việc đến tai Bác Hồ. Bác bảo thả ngay và hỏi Học Phi: “Chú có biết, làm cho người ta quý mình, tốt hơn là làm cho người ta sợ không?”. Thế rồi, Bác lại cử một đoàn cán bộ cao cấp đến mời cụ Vi về tham gia cách mạng. Cụ Vi vui vẻ nhận lời và góp công xứng đáng cho kháng chiến đến cuối đời.

Về mặt đoàn kết và hỉ xả, Bác Hồ rất giống vua Trần Nhân Tông. Trần Nhân Tông đã khéo dàn xếp những bất hòa trong hoàng tộc để đoàn kết cả dân tộc và xá tội cho trăm họ từng có lỗi lầm trong cuộc chống quân Nguyên, không trừng trị ai cả. Nhờ thế, nhân dân vô cùng biết ơn nhà vua, hối hận với lỗi lầm của mình và quyết tâm lập công đền ơn đất nước.

Muốn đại đoàn kết cả dân tộc, phải có những con người cao thượng như Trần Nhân Tông, Hồ Chí Minh thì mới thực hiện được, những con người có lòng vị tha, hỉ xả, không cô độc, hẹp hòi, không tham lam, ích kỷ, sống giữa danh lợi mà không vướng vào danh lợi. Chứ những kẻ tầm thường, tham lam, ích kỷ, cô độc, hẹp hòi mà kêu gọi đoàn kết thì chẳng có ai nghe.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 430

——————————————

(*) Thượng tọa Thích Huệ Đăng sinh năm 1940. Hiện là Giảng viên Cao đẳng Chuyên khoa Phật học, Ủy viên Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Sư còn là một nhà trồng hoa lan nổi tiếng và là một trong những người có công lớn trong việc phát triển nhân bản vô tính giống sâm Ngọc Linh tại Đà Lạt.

Ý Kiến bạn đọc