Văn học nước ngoài

Một ngàn lẻ một đóa hoa trắng

Ngôi làng Deserto bé nhỏ không có tên trên bản đồ địa giới hành chính. Deserto có nghĩa là hoang mạc, hiểu theo nghĩa bóng là chốn “vô tình bị Chúa lãng quên”. Chẳng ai nhắc tới địa danh này cho dù Deserto đã tồn tại trọn hai thế kỷ qua. Làng nằm cách thị trấn Alvarais chừng 5 dặm đường, kề ngay thượng nguồn sông Amazon đoạn chảy qua bang Amapa. Tộc người da đỏ Ingus cư ngụ bao đời nay mà không biết tới khái niệm về thời gian, đồng hồ đối với họ là thứ đồ vật… vô dụng. Thời khắc nơi đây được hiểu bằng ban ngày hay buổi đêm, hoặc ví với một cuộc đời mà chẳng rõ tuổi tác cụ thể.

Có chừng 200 người sống ở Deserto, với kế sinh nhai chủ yếu bằng nghề nông và chài lưới. Sát rìa làng tuy có một bến sông nhỏ, nhưng bặt không thấy bóng dáng một con tàu nào bởi ai hơi đâu mà mò tới chốn “khỉ ho cò gáy” này. Ngay cuối bến là chiếc cầu gỗ dài bắc qua bãi cù lao đầy lau sậy, nơi tọa lạc khu nghĩa địa của người Ingus. Ánh mặt trời rất ít khi rọi tới Deserto, có thể do nằm ở vĩ độ quá cheo leo. Lối mòn chính xuyên qua làng ken dày những hàng mận. Chúng đâm chồi nảy lộc quanh năm nhưng không bao giờ đơm hoa kết trái. Chẳng ai rõ rừng mận ấy đã hiện diện từ bao giờ…

Ở Deserto ngay cả động từ “căm ghét” cũng không tồn tại, đơn giản vì tộc người Ingus không biết tới thứ cảm xúc ấy; cũng như chưa có một đại diện nào từ nền văn minh hiện đại đến dạy họ cách thể hiện những xúc cảm phổ biến. Đồng thời khái niệm mơ ước cũng chẳng có, bởi nhận thức của dân làng không hiểu ý nghĩa của thì “tương lai”…

Một bữa nọ, xuất hiện một chiếc xuồng ba lá do người đàn ông trung niên chèo đang từ từ cập bến. Nếu như không mục kích vị trí bến sông, hẳn ông ta đã xuôi theo dòng chảy đến một nơi khác. Đó là một người da trắng cao dong dỏng, mái tóc xám nhạt phủ trên khuôn mặt dài, tóm lại là tạng người không có nét gì đáng để tâm cho lắm. Chỉ riêng đôi mắt là hết sức đặc biệt, nhìn như có ánh lửa bùng cháy soi tỏ người đối diện. Ông ta nhìn quanh nhìn quẩn mà chẳng cất nên lời, thực ra lúc ấy ngoài bến vắng hoe bởi cánh ngư phủ đang giờ nghỉ trưa. Người đàn ông thận trọng đi dọc theo lối mòn, vừa đi vừa nhìn xuống chân như dò dẫm từng bước một. Tới cuối làng, vị khách buộc phải dừng lại trước một túp lều án ngữ ngay trước mặt. Đây chính là nơi bà Fernanda Olesio từng cư ngụ, một cư dân Deserto vừa mới ra người thiên cổ dạo cuối mùa đông vừa rồi. Ngay sau nhà người quá cố là khu rừng mận mênh mông.

So-511--Hoa---Susanne-Wackerbauer
Hoa – acrylic – Susanne Wackerbauer.

Kẻ xa lạ đứng tần ngần trước cánh cửa im lìm, đánh tiếng như muốn báo rằng mình đã đến… Lát sau, ông ta mạnh dạn bước vào căn phòng duy nhất trong nhà rồi thong thả đóng cửa lại. Có vài người trong làng phát hiện ra vị khách không mời, còn theo tập tục bao đời nay của bộ tộc Ingus thì bất cứ người lạ nào cũng đều là khách quý. Mọi người kháo nhau, rằng đấy có thể là con trai nữ chủ nhân từ người chồng khác màu da, đi làm ăn xa nay đã trở về; hoặc chí ít cũng là kẻ thân tình với người quá cố. Chừng một tuần lễ sau cả làng đều rõ, rằng vị khách tá túc tại căn nhà vô chủ có danh xưng là Enrike Gotiere, một cái tên lạ hoắc đối với người da đỏ.

Nhưng điều đáng nói nhất thì đó là một kẻ “ham vui”. Suốt ngày thổi sáo miệng ầm ĩ, thậm chí đám trẻ nít trong làng ưa tò mò còn thấy ông ta đang “quay cuồng giậm chân” trong phòng nữa. Vừa nhảy vừa cười hớn hở một mình khiến ai cũng bảo đấy là đồ dở hơi, chỉ vài người dám quả quyết rằng vị khách đang thể hiện khả năng trừ tà ma ác quỷ… Vả lại ông ta chỉ nhảy trong nhà mình đâu có làm phiền đến ai, do vậy người làng Deserto nhanh chóng quên đi nhân vật mới. Thời gian lặng lẽ trôi cùng với lối sống bình dị của tộc người Ingus, trong khi Enrike ngụ trong túp lều bỏ hoang vẫn tiếp tục nhảy liền tù tì suốt từ sáng tới chiều. Hẳn đây là một thợ nhảy có hạng thất cơ lỡ vận dạt về từ chốn thị thành. Kể từ đó trở đi bất cứ cuộc vui nào trong làng ngài Gotiere cũng đều được mời tham dự. Bản chất vui tính của kẻ mới tới ít nhiều đã xua tan sự sầu muộn hằn trên gương mặt cư dân Deserto, giúp họ nguôi ngoai bao nỗi nhọc nhằn trong cuộc mưu sinh bất tận…

Một buổi sáng khi vừa thức dậy, Enrike thấy một người đàn ông Ingus đứng lù lù trước cửa. Lúc này đang mùa giáp hạt mà trên tay ông ta lủng lẳng chai mật ong thuộc loại quý hiếm. Chủ nhân mời khách vào nhà rồi cất tiếng hỏi:

- Điều gì đã khiến anh phải lặn lội đến tìm tôi ngay từ lúc tinh mơ?

- Cũng chẳng rõ nữa… – Vị khách uể oải đáp – Có thể do nỗi buồn cùng sự ngán ngẩm.

- Có gì khúc mắc cứ nói thẳng ra đi, tôi sẵn lòng giúp với hết khả năng của mình.

- Quả thực là tôi có một thằng con trai, chỉ nội tuần sau là cháu đầy 20 tuổi. Nhưng nó đang lâm bệnh nặng và chắc chắn là sẽ chết. Tôi chẳng biết làm gì bây giờ nữa…

Không biết trông cậy nơi đâu?… Tôi liều đem chai mật này mạo muội đến nhờ anh, dù sao anh cũng từng chu du khắp nơi và mục kích nhiều thứ, may ra có thể anh giúp được gì chăng?

Viên thợ nhảy nhìn thẳng vào người đối diện với cặp mắt ấm áp, trước khi nhã nhặn nói tiếp:

- Đúng ra tôi không thể giúp con trai anh được bởi tôi đâu phải là bác sĩ, nhưng bù lại tôi có thể giúp cho anh ít nhiều…

- Giúp ra sao, bằng cách nào? – Vị khách hỏi rối rít – Xin hãy nói ngay đi!

- Anh cần học cách biết ước mơ.

- Ước mơ?… Điều đó nghĩa là gì mới được kia chứ?

- Một cách hướng về tương lai, khi con anh không còn bệnh nữa và hoàn toàn khỏe mạnh. Đó là điều anh cần mơ ước!

Người đàn ông gốc Ingus chợt yên lặng hồi lâu, trước khi tiếp tục lên tiếng:

- Tôi chẳng hiểu ý nghĩa đích thực ra sao. Con trai đang bệnh còn tôi thì đi… mơ ước. Liệu có đem lại kết quả gì không?

- Ắt phải có chứ! Xin hãy bình tâm nghe tôi kể câu chuyện này: – Tại vùng hạ lưu Amazon có một người đàn ông sống cùng cậu con nhỏ ngay sát cửa biển. Khi cha đánh cá thì con chơi dọc bờ nhưng không dám xuống nước, đơn giản vì nó không biết bơi. Một bữa nọ người cha hỏi:

- Sao con lại sợ nước?

- Tại con không biết bơi nên có thể chết đuối – Cậu con đáp.

- Không đời nào con lại bị chết đuối cả! – Người cha lên giọng khẳng định.

Con trai kinh ngạc nhìn cha:

- Cớ sao vậy, thưa cha?

- Con chưa hề biết, rằng trong lòng đại dương có loài cá lớn mà khoa học gọi là dolphin. Chúng thường bơi quanh quẩn gần bờ và một khi phát hiện ra người sắp chết đuối, liền lao tới địu người ấy lên lưng rồi đưa vào vùng nước cạn.

- Chuyện ấy có thật không hả cha? – Cậu con vẫn bán tin bán nghi.

- Thật chứ – Cha vừa xoa đầu vừa ôm con vào lòng – Muốn biết bơi, điều đầu tiên con cần phải học là cách vượt qua nỗi sợ hãi, cùng lòng tin là mình có thể bơi được khiến những điều còn lại sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Người đàn ông trong làng bỗng ngớ ra:

- Nhưng sao anh lại kể cho tôi nghe câu chuyện cha con người lạ ấy?

- Anh vẫn chưa nghiệm ra điều gì ư?

- Chưa!

- Để mà học cách biết đặt niềm tin.

- Tin vào cái gì mới được kia chứ?

- Tin rằng con trai anh không chết, mà sẽ hoàn toàn khỏe mạnh.

- Tôi chẳng thể hiểu ý anh. Làm sao lành bệnh được chỉ bằng việc đặt niềm tin. Đơn giản tôi chỉ nghĩ rằng phải làm gì đó có lợi cho cháu, khiến nó chóng khỏi bệnh.

- Trong cuộc sống có vô vàn điều cần làm, nhưng chớ nên vụ lợi hết thảy; cũng như có vô số những điều tốt được hoàn tất mà không cần căn nguyên.

- Vậy thử nêu ví dụ xem?

- Dù bất cứ điều gì xảy ra trong đầu cũng nên hướng về cái tốt, nên làm phúc cho mọi người mà không màng sự trả ơn.

Khi vị khách trong làng đứng dậy thì trời đã nhá nhem tối.

- Được thôi, tôi sẽ thử thực hiện theo lời khuyên của anh – Khách chính thức cáo từ – Bởi chẳng còn bấu víu vào đâu được nữa…

Enrike thân tình tiễn khách ra về, rồi tiếng sáo miệng lại vang lên rộn rã.

Vài hôm sau, cũng vào lúc tinh mơ người đàn ông bữa trước lại xuất hiện trước cửa nhà ngài Gotiere. Ông ta đứng như trời trồng với vẻ mặt tái nhợt, gặng hỏi mãi mới thốt nên lời:

- Chịu thôi, chẳng ăn thua gì – Vị khách thổ lộ vẫn với giọng chán ngán – Tôi đã làm hết thảy mọi điều tốt tương ứng với các ý nghĩ trong đầu. Nhưng thay vì đỡ ốm, tình trạng con trai tôi ngày một trầm trọng thêm, cứ mê sảng liên hồi. Chậm nhất là tối mai hoặc sáng ngày kia chắc tôi phải đưa cháu ra cù lao ngoài bến sông mất…

- Nhưng anh có đặt niềm tin thực sự, rằng cháu sẽ khỏi bệnh không? – Enrike cắt ngang.

- Lẽ dĩ nhiên, nhưng hậu quả là thế đấy…

Đôi môi người đàn ông tội nghiệp chợt méo xệch, trước khi hai dòng nước mắt lã chã rơi… Sau rốt ông ta gạt nước mắt rồi gặng hỏi câu cuối:

- Vậy anh còn chuyện gì kể thêm với tôi nữa không?

- Có chứ. Đầu đuôi thế này, vào một hôm tôi đang rong ruổi trên trường đời bỗng gặp một bà cụ cao niên, bà ấy kéo tay lại cốt nói cho tôi nghe hết câu chuyện truyền khẩu mới: “Ai mà có thân nhân sắp chết vì bạo bệnh, nếu như ngay trước đêm lìa đời một trong số những người thân của nạn nhân kịp hái đủ 1.001 đóa hoa mận trắng, ắt sẽ quy phục thần chết và kéo người bệnh sống lại”. Tôi chẳng rõ chuyện này có đúng không, nhưng quả thực anh đã mất hết thảy ngoại trừ tương lai; mà tương lai bao giờ cũng xán lạn hơn quá khứ! Điều đạt được sắp tới sẽ hơn hẳn những mất mát thuở trước.

Người đàn ông nín lặng quay bước trở lại con đường mòn xuyên qua làng. Enrike quay vào nhà và lần đầu tiên kể từ khi anh dọn tới Deserto, tiếng huýt sáo véo von bỗng câm bặt. Chủ nhân nằm lăn ra sàn và trằn trọc suốt hai đêm liền. Tới sáng ngày thứ ba khi thức giấc, ngài Gotiere cảm thấy một sự tĩnh lặng tuyệt đối bao trùm muôn nơi… Đột nhiên có tiếng gõ cửa, chủ nhân bật dậy và vội vàng tiến ra. Thật vô cùng ngạc nhiên, trước cánh cửa rộng mở vẫn là người đàn ông cố hữu, nhưng ông ta không chỉ đến một mình, đứng sát bên là một chàng trai Ingus khôi ngô tuấn tú.

- Ngài biết không… Quả là điều kỳ diệu đã xảy ra! Cậu ấm con tôi đã bình phục. Đây, nó đây! Hoàn toàn mạnh khỏe như chưa bị bệnh bao giờ, đúng như ý nguyện mong ước.

Đến lúc này Enrike Gotiere mới có dịp quan sát quang cảnh đằng sau hai cha con tộc người bản địa. Kỳ lạ chưa kìa! Trải dài từ chân túp lều trống hoác tới tận bến sông ngập tràn một màu hoa mận trắng. Chủ nhân dụi mắt rồi quay qua hướng khác, vẫn một màu trắng tinh khiết bao phủ khắp nơi… Cả cánh rừng rộng lớn sau nhà cũng vậy. Cả Deserto và vùng phụ cận rặt một màu hoa tinh khiết.

Người đối diện chợt lên tiếng phá tan bầu không khí tĩnh mịch:

- Tôi không biết phải chăng câu chuyện của ngài khiến cháu chóng phục hồi, nhưng với riêng tôi thì rất hiệu nghiệm. Đúng ra tối qua tôi sẽ lìa đời cùng với con trai, bởi trong thâm tâm tôi đâu thiết sống nữa. Nếu không có ngài thì hôm nay cha con tôi đã thành người thiên cổ rồi. Tôi không biết phải tạ ơn ngài như thế nào…

- Hãy mời tôi tham dự cùng vui nhảy trong đám cưới con trai anh – Enrike mỉm cười đáp trước khi đóng cửa lại.

Thời gian sau bất cứ ai tại Deserto có chuyện gì trầm trọng lại đến túp lều cuối làng tìm lời khuyên. Người đàn ông khác màu da với đôi mắt ấm lòng người bày cho họ cách biết mong ước cho tai qua nạn khỏi, biết làm việc tốt cho nhau không cần sự báo đáp, biết hướng tới tương lai cùng những điều tốt đẹp hơn… Và lẽ dĩ nhiên ông vừa giải thích vừa nhảy nhót không ngừng giữa tiếng huýt sáo phát ra từ cửa miệng.

Cuộc sống cứ vậy trôi đi cho đến một ngày khi trời vừa tảng sáng, đột nhiên từ ngôi nhà cũ của bà Fernanda Olesio phát ra tiếng nhạc đinh tai nhức óc, âm thanh mạnh đến nỗi những người đang ngon giấc cũng bừng tỉnh. Lần đầu tiên ánh mặt trời chói lòa soi tỏ khắp ngôi làng heo hút, khiến cư dân Deserto không thể tin nổi vào mắt mình. Trên bậu cửa là ngài Enrike với đôi chân trần cùng mái tóc bạc phơ, còn trên tay là một bó hoa mận sáng ngời. Enrike vừa đi vừa nhảy múa băng theo lối mòn xuyên làng ra ngoài bến, rồi đột ngột rẽ trái dọc hướng cầu dẫn ra cù lao… Hàng trăm người da đỏ Ingus nín thở dõi theo bóng ân nhân của mình. Ngài Gotiere chợt sững lại vài giây đồng hồ trước khi bước lên cầu. Thực ra Enrike đang “bay bổng” qua mặt cầu gỗ thì đúng hơn, bóng ngài thoắt ẩn thoắt hiện rồi tan biến trong khoảng không vô định dưới bầu trời không một gợn mây…

Sang ngày hôm sau, những cây mận già cỗi ở Deserto đồng loạt cho ra lứa trái đầu tiên…

Lớp cư dân trẻ hiện diện tại “hoang mạc” Deserto bây giờ có thể không nhớ Enrike Gotiere là ai, nhưng các già làng Ingus luôn nhắc tới tên người đã vun trồng những ước mơ cho họ suốt mỗi vụ thu hoạch trái cây. Thậm chí nhiều thế hệ tiếp nối còn quả quyết chính tay Enrike Gotiere đã ươm mầm cho giống mận nổi danh trong vùng.

Fabien Palket (Bồ Đào Nha)
Ngự Bình (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 511

Ý Kiến bạn đọc