Tản văn

Một mùa xuân thật đẹp

Có bao nhiêu định nghĩa về mùa xuân. Có lẽ chẳng bao giờ chúng ta biết hết được. Kết thúc một chu kỳ trái đất quay quanh mặt trời và bắt đầu một chu kỳ mới; mùa con người và vạn vật trên thế giới thêm một tuổi; mùa thời tiết không còn giá lạnh và cây cối nô nức đâm chồi nẩy lộc; mùa đàn én di cư tránh rét trở về; mùa không có mưa dầm gió bấc và giông bão, sấm sét; mùa con người cảm thấy trẻ lại, gần gũi và yêu thương nhau hơn; mùa của tình yêu, của hạnh phúc lứa đôi; mùa đem đến cho mỗi người hy vọng và những dự định tốt đẹp nhất… Kể cũng lạ: một năm có bốn mùa, được đại diện bởi bốn loài “kỳ hoa, dị thảo” mà người xưa từng ca ngợi và đưa vào văn học – xuân lan, thu cúc, hạ trúc, đông mai (lan mùa xuân, cúc mùa thu, trúc mùa hạ, mai mùa đông). Vậy mà nhân loại từ bao đời vẫn yêu mùa xuân hơn, như yêu một cô gái đẹp, dịu dàng, tốt bụng đối với mọi người từ em bé, cụ già đến cả những người bất hạnh. Mùa xuân ơi, người có những gì mà ai cũng yêu mến, trông chờ? Trong bài thơ “Em ơi mùa xuân” tôi viết Tết năm Bính Tuất (2006), tôi thử lý giải điều này:

… Mùa xuân ơi, còn nhớ không
Em đi để lại chờ mong cho người
Giã từ gió lạnh, nắng sôi
Giã từ chiếc lá vàng rơi cuối cùng
Em về, biển lặng, trời trong
Em về hoa cũng đỏ bừng ngoài hiên
… Còn bão tố, còn phong ba
Người cần em để vượt qua thác ghềnh
Như cần hạnh phúc, bình yên
Như cần hy vọng, niềm tin ở người.

Đúng hay sai, tôi không dám quả quyết vì nhân loại có bao nhiêu người, bao nhiêu dân tộc… thì có từng ấy sự cảm nhận khác nhau về mùa xuân.

Từ thuở ấu thơ, mùa xuân là những gì đẹp nhất, đã đồng hành với tôi đến tận bây giờ. Với mùa xuân, tôi có những kỷ niệm riêng và những gì tôi có được hình như đã bắt đầu từ mùa xuân vùng quê nghèo của mình năm ấy.

Xuan-2019--Mua-gat---Nguyen-Tien-Chung
Mùa gặt (1958) – lụa – Nguyễn Tiến Chung. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật đợt II.

Tôi sinh ra chỉ mấy ngày trước Tết âm lịch – giá cậu bé đỏ hỏn là tôi ngày ấy nghe được thì những âm thanh đầu tiên đến với tôi là tiếng mẹ ru và tiếng pháo mừng xuân – mừng một công dân mới ra đời. Hình như, đó là một lời hẹn thiêng liêng với cuộc sống đã theo suốt cuộc đời mình. Nghĩ lại từ thuở còn đi học đến khi lớn lên, theo cách mạng và kháng chiến, sống giữa bom đạn của kẻ thù, cuộc đời tôi đâu chỉ có thuận lợi, đâu chỉ có màu hồng! Vậy mà suốt 30 năm chiến đấu, tôi đã vượt qua hết trong lúc bao bạn bè, đồng chí và cả những người ruột thịt của mình đã ngã xuống để cho Tổ quốc có ngày hôm nay. Sức mạnh nào đã giúp tôi đứng vững trong thử thách? Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí bất khuất trước quân xâm lược, sự dìu dắt, nâng đỡ, thương yêu và che chở của bạn bè, đồng chí, người thân và cả những người chưa từng quen biết. Và đường lối của Đảng, niềm tin ở Bác Hồ… có lẽ các bạn cũng nghĩ như tôi. Tuy nhiên, có một điều rất riêng tư mà trước nay tôi chỉ giữ cho mình. Tôi có một người cha, vào hàng trí thức nho học, đã từng ra Huế thi tú tài ở một trong những khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn. Ông đã nói với tôi ngày tôi rời nhà lên chiến khu kháng chiến: “Con sinh ra vào ngày giờ rất tốt, lại cầm tinh con rồng, mạng con lớn lắm nên cứ yên tâm mà đi với anh em”. Không biết vì thương con, muốn động viên con hay ông tin vào một điều kỳ diệu nào của tạo hóa. Bởi ông rất uyên thâm về lý số, đã nghiên cứu và tự mình lập cho mỗi chúng tôi – các con trai, con gái của ông – một lá số tử vi bằng chữ Hán mà ông dặn tôi hãy mang theo bên mình. Xin nói thêm là những lá số tử vi ấy ông đã bí mật cất giữ thay cho các con cho đến ngày ông qua đời vào năm 1974. Sau ngày giải phóng, tôi về, mẹ tôi giao lại; tôi không đọc được chỉ biết đặt lên bàn thờ ông như một di vật vô giá.

Hai năm trước khi tôi vào mổ tim ở Bệnh viện Thống Nhất – một ca đại phẫu thật khá phức tạp, vị giáo sư – bác sĩ đã thân tình hỏi tôi: “Anh sẵn sàng ký để chúng tôi phẫu thuật cho anh chưa?”. Tôi đã trả lời: “Xin giáo sư yên tâm, tôi sẵn sàng rồi. Người khác vượt qua được thì tôi cũng sẽ vượt qua được”. Tôi tin chắc điều ấy như tin vào tài năng các bác sĩ của ta, như tin vào lời cha tôi dặn, như tin vào mùa xuân như là “thần hộ mạng” của tôi. Ca phẫu thuật kéo dài 8 giờ, với ba cầu nối mạch vành bị xơ vữa là một trong những ca mổ thành công nhất của bệnh viện.

Cũng nhân nói về mùa xuân, không bao giờ tôi quên cuộc gặp gỡ mùa xuân ấy với một trong những người mà tôi yêu mến và kính trọng nhất: anh Nguyễn Văn Linh, người Tổng bí thư của thời kỳ đổi mới. Đó là vào đầu năm 1991, trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 (6/1991). Hồi ấy tôi đang công tác ở Khánh Hòa. Không khí chuẩn bị Đại hội Đảng hào hứng và sôi nổi chưa từng có sau 5 năm đi vào thực hiện Nghị quyết Đại hội 6 năm 1986. Một số đồng chí cách mạng lão thành ở Khánh Hòa đã nhờ tôi, nhân đi họp ở Hà Nội đến gặp anh Linh để phản ánh một nguyện vọng tha thiết của các đồng chí trong này: mong anh ở lại tiếp tục nhiệm vụ Tổng Bí thư thêm một nhiệm kỳ nữa. Các đồng chí ấy biết tôi từng công tác với anh Linh nhiều năm trong chiến tranh, khi anh là Phó Bí thư Trung ương Cục rồi Bí thư khu ủy Sài Gòn – Gia Định. Sau Đại hội 6, khi anh đã được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng, anh vẫn không quên những cán bộ từng công tác bên anh và thường nhắc tôi khi nào ra Hà Nội thì cho anh biết.

Hôm ấy khi tôi vừa gọi điện đến văn phòng anh – tôi đang ở Hội Nhà văn – thì được các đồng chí ở đó trả lời: “Văn phòng sẽ có xe đón anh vào cuối buổi chiều ở cơ quan Hội”. Gặp anh tại nhà riêng, hình như ở phố Phan Đình Phùng (nếu tôi nhớ không sai), anh rất vui. Trong không khí thân mật như ở gia đình, sau khi nghe tôi trình bày, anh im lặng một lát rồi trả lời: “Giang Nam về nói lại với các đồng chí Khánh Hòa tôi rất cám ơn vì sự yêu mến và tín nhiệm của các đồng chí. Nhưng là một cán bộ lãnh đạo của Đảng, tôi cần phải biết khả năng và giới hạn của mình. Đường lối đổi mới của Đảng về cơ bản đã được Đại hội 6 chấp nhận và thu được những thành quả rất đáng mừng trong gần 5 năm qua. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề đang đặt ra hết sức khó khăn, chưa từng có tiền lệ, phải giải quyết. Mình không giỏi về kinh tế, hơn nữa tuổi cũng đã cao, khó đảm trách nhiệm vụ Tổng Bí thư, có khi còn cản trở công việc. Vì vậy tôi đã đề xuất với Bộ Chính trị xin rút lui, dành chỗ cho những đồng chí khác. Nhờ anh về nói lại với các anh trong ấy: Đảng ta, nhân dân ta không thiếu nhân tài đâu, sẽ có những đồng chí mới làm nhiệm vụ này tốt hơn tôi”.

Thật tình tôi rất xúc động. Mặc dù tôi cũng là một trong những người tha thiết muốn anh ở lại, làm thêm một nhiệm kỳ nữa “để cho đường lối đổi mới không thể quay ngược lại” như chúng tôi thường nói, tôi đã nhận ra việc anh kiên quyết xin rời nhiệm vụ là bước đi tiếp tất yếu của một đồng chí suốt đời đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc trên lợi ích của riêng mình.

Mùa xuân ấy đối với tôi là một mùa xuân thật đẹp.

Tôi định kết thúc bài viết của mình ở đây thì bất ngờ nhận được một món quà quý: Tập thơ của một nhà thơ trẻ đất Thái Nguyên gởi tặng. Tôi quen chị ở một trại sáng tác ngắn hạn ở Nha Trang và tôi đã đọc một số bài thơ của chị về biển, về mùa xuân Nha Trang:

Em trở về đất Thái của em thôi
Nghe mưa rơi, ngỡ thấy hồn sóng vỗ
Xin gói lại một chiều Nha Trang biếc
Để đem về nhuộm trời Thái xanh theo.

Xin cám ơn em, cám ơn mùa xuân đã đem thơ em đến với Nha Trang.

Giang Nam
Tuần Báo Văn Nghệ số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc