Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Một lời biện minh cho Nguyễn Ánh

Trong nhiều số gần đây, Tuần báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh có một số bài viết về Nhà Nguyễn, Triều Nguyễn và Gia Long, chủ yếu là kể tội “cõng rắn cắn gà nhà” và để mất nước vào tay thực dân Pháp nhằm phản bác quan điểm của giáo sư Phan Huy Lê muốn xem xét lại “công và tội” của các Chúa Nguyễn và các vị vua triều Nguyễn. Cá nhân tôi cho rằng các tác giả có lập luận khá vững chắc, thuyết phục, nhưng hình như chưa “thấu lý đạt tình” lắm. Vậy xin có mấy ý, có thể cho là biện minh cho Nguyễn Ánh cũng được, nhưng chủ yếu là nêu ra những nhận định của riêng mình về một giai đoạn lịch sử của đất nước, có thể chưa được khách quan lắm, mong bạn đọc thông cảm.

Trước hết, nhiều người cho rằng công khai khẩn, mở cõi để bản đồ đất nước chúng ta có hình dáng như ngày hôm nay là công của các Chúa Nguyễn khi thành lập trạm thu thuế ở Sài Gòn, rồi cho Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch, di thần của triều Minh bên Trung Hoa sang trú ngụ ở Đồng Nai và Mỹ Tho, tiếp đến thành lập phủ Gia Định. Sau đó là việc Mạc Cửu xin sáp nhập vùng đất xa xôi vào Đại Việt thành trấn Hà Tiên. Những sự kiện trên là có thật, nhưng chúng ta cũng cần phải xem xét lại cho công bằng hơn.

Cần phải thấy rằng, sau khi vương quốc Phù Nam suy tàn, vùng đất Nam bộ của chúng ta, chủ yếu là Tây Nam bộ bị chìm trong nước biển bởi cuộc hải xâm vào thế kỷ thứ VII, như vậy cả vùng đất mênh mông này có thể được xem là đất vô chủ, không có chính quyền nào quản lý. Về cư dân, có thể ở một số vùng đất gò cao thuộc các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Kiên Giang có con người sinh sống, đó là tộc người Khmer bản địa, có phải chăng họ là hậu duệ của Phù Nam xưa? Cho đến khi nước biển rút đi, vào khoảng thế kỷ thứ XV, vùng đất đồng bằng sông Cửu Long đã có bàn chân của người Việt đến khai khẩn (Theo Chân Lạp phong thổ ký của Châu Đạt Quan), cả Pinto du ký của Gaspa de Cruz vào thế kỷ thứ XV cũng thừa nhận như thế. Như vậy, đến cuối thế kỷ thứ XVI, lực lượng lao động người Việt trên vùng đất Đông – Tây Nam bộ hẳn là không nhỏ nên Chúa Nguyễn mới thành lập trạm thu thuế ở Sài Gòn. Đến lúc này, thế lực của Chúa Nguyễn cũng mới vươn tới Sài Gòn, đến khi Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch xin vào trú ngụ thì có thể nói ảnh hưởng của Chúa Nguyễn đã đến vùng Mỹ Tho. Chưa có một tư liệu nào cho chúng ta biết từ Mỹ Tho đến Sài Gòn có bao nhiêu cụm dân cư, nhưng chắc là cũng không ít.

Đến năm 1708, Mạc Cửu xin sáp nhập vùng đất mình cai quản vào Đại Việt. Theo nhiều tài liệu, Mạc Cửu có ảnh hưởng khá rộng từ Kam Pong Som (Vũng Thơm) lên Kam Pốt (Cần Bột), Tuk Mía (Sài Mạt), Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau ra Phú Quốc, Chúa Nguyễn chấp thuận và thành lập trấn Hà Tiên, phong cho Mạc Cửu là tổng binh cai quản vùng đất này. Việc Mạc Cửu xin sáp nhập vùng đất hữu ngạn sông Hậu vào Đại Việt là một quyết định sáng suốt để bảo vệ mình và cư dân trong vùng. Ở đây, xin được nói rằng: Trước khi Mạc Cửu về Hà Tiên lập nghiệp thì trên vùng đất rộng lớn đó đã có cư dân sinh sống, chúng ta cũng không ngại ngần mà nói rằng người Việt là lực lượng lao động có tính quyết định để hình thành các cụm dân cư đã nói trên, bởi lẽ người Khmer bản địa (có lẽ là thần dân của Phù Nam xưa) rất ngại cư trú những nơi sông sâu, biển rộng. Có người (các tác giả Thu Tứ, Chu Giang) cho rằng việc khai mở vùng đất Nam bộ, những người Hoa như Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu là những nhà đầu tư có tính quyết định. Thu Tứ viết: “Nhờ một số quan nhà Minh không chấp nhận triều Thanh, bỏ Trung Quốc chạy xa xuống phía Nam lập nghiệp, mà kinh tế ở một số địa phương thuộc Thủy Chân Lạp đã sớm phát triển. Những địa phương này rồi được dâng cả cho chúa Nguyễn. Tự dưng có người Tàu bên Tàu chạy qua đất của Chân Lạp bỏ công của ra mở mang, xong đem hiến cho Việt Nam, chẳng tuyệt vời sao!”. Nhận định như thế e rằng có đề cao vai trò của 3 vị này quá không? Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch với vài ngàn quân gia ở Cù lao Phố và Mỹ Tho thì khai phá được bao nhiêu đất hoang? Họ đã làm gì để kinh tế một số địa phương sớm phát triển. Hai người này đâu có “dâng cả (đất) cho chúa Nguyễn”, mà là họ được chúa Nguyễn cho dung trú trên vùng đất mình có ảnh hưởng đó chớ. Dĩ nhiên, ta cũng không phủ nhận thành quả lao động và kinh doanh của hai nhóm người Hoa này trong sự phát triển chung của Nam bộ vào giai đoạn cuối thế kỷ thứ XVII, đầu thế kỷ XVIII, và họ cũng đã trở thành một thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Riêng đối với trường hợp Mạc Cửu ở Hà Tiên thì có khác, bởi ông đã chinh phục cộng đồng cư dân xung quanh trấn lỵ Hà Tiên rồi xin thần phục chúa Nguyễn, xin sáp nhập vùng đất mình cai quản hoặc có ảnh hưởng vào Đại Việt. Có thể nói việc thành lập trấn Hà Tiên năm 1708 đã đánh dấu mốc kết thúc cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam. Mạc Cửu là người Hoa, nhưng cư dân trong trấn Hà Tiên là người Việt và người Khmer là chủ yếu, bởi Mạc Cửu không mang theo binh gia đông đảo như Trần Thắng Tài hay Dương Ngạn Địch. Chỉ bằng sự giao thương, Hà Tiên trở thành một thương cảng quan trọng, sau đó người Hoa mới theo chân Mạc Cửu về trấn Hà Tiên. Chúng ta cũng nên biết rằng cộng đồng người Hoa ở Tây Nam bộ hiện nay trở nên đông đúc từ khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chứ không phải có từ thời Mạc Cửu.

Có người sẽ nói rằng các chúa Nguyễn có tầm nhìn chiến lược mở mang đất phương Nam bằng việc đưa công chúa Ngọc Vạn làm dâu Chân Lạp hay là có chính sách di dân vào Nam, rồi đưa quân đội giúp triều đình Chân Lạp để vua Chân Lạp cắt đất đền ơn mà chúng ta có đất Nam bộ ngày nay. Nói như thế cũng không sai bởi có những sự kiện lịch sử diễn ra như thế. Tuy nhiên cũng nên nhìn lại, trong buổi ban đầu, từ thế kỷ XVI, XVII, người Việt từ miền Bắc, miền Trung di cư vào Nam đâu phải do sự khuyến khích của chính quyền, mà đa phần là trốn chạy sự hà khắc của chính quyền phong kiến, tìm sự tự do ở vùng đất mới, mà vùng đất đó không có chính quyền quản lý. Chính những người dân lao động ấy đã đặt nền tảng ban đầu cho việc hình thành vùng đất Nam bộ. Nhất là sau khi trấn Hà Tiên trở thành cảng thị có mối giao thương rộng lớn thì lưu dân các nơi (cả người Hoa và người Việt) càng về đông đúc hơn tiến hành công cuộc khai mở vĩ đại ở đồng bằng sông Cửu Long, khẳng định chủ quyền Đại Việt trên vùng đất này. Dĩ nhiên, ta cũng không phủ nhận vai trò của các chúa Nguyễn trong việc thành lập trấn Hà Tiên và bảo vệ vùng đất xa xôi này. Người dân trấn Hà Tiên xưa đã coi mình là con dân của Đại Việt, là thần dân của chúa Nguyễn và họ đã giữ lòng trung thành với Nhà Nguyễn là chuyện tất nhiên để Gia Định trở thành đất Thang Mộc của triều Nguyễn trong việc tranh chấp với Tây Sơn sau này.

Về chuyện Gia Long hay Nguyễn Ánh, đành rằng ông đã có những sai lầm hết sức nghiêm trọng để lại tiếng xấu muôn đời là “cõng rắn cắn gà nhà”, vì quyền lợi của gia tộc mà gây ra biết bao cảnh máu đổ, đầu rơi, đồng thời là người tạo điều kiện ban đầu cho thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Nhưng ta cũng phải thông cảm cho ông, là con, là cháu của chúa Nguyễn thì việc phải giành lại quyền lực, ngôi vị là trách nhiệm mà ông không thể thoái thác. Vương triều của chúa Nguyễn đến lúc đã thối nát, Trương Phúc Loan chuyên quyền làm cho lòng dân ly tán thì việc Tây Sơn khởi nghĩa là tất nhiên và được nhân dân ủng hộ, nhưng con cháu của chúa Nguyễn đâu đành lòng để cho người khác chiếm lấy vị trí của mình, từ đó, Nguyễn Ánh đã tìm mọi cách để giành lại vương vị cũng là điều tất nhiên. Chỉ có điều, trong quá trình tranh đấu để giành lại địa vị, Nguyễn Ánh đã cầu viện ngoại bang, để cho quân Xiêm vào cướp bóc, tàn sát dân ta, đó là hành động không thể tha thứ được. Nếu Nguyễn Huệ không đánh tan 20 vạn quân Xiêm thì chưa biết điều gì sẽ xảy ra, liệu Xiêm La có chấp nhận cho Nguyễn Ánh lên ngôi làm vua ở một nước độc lập hay là chịu thân phận chư hầu cho Xiêm. Tệ hơn nữa, với lòng tham cố hữu, khi quân Xiêm làm chủ tình hình thì Xiêm La có chiếm luôn nước ta hay không?

Công bằng mà nói, chúa Nguyễn đã có được những “trung thần” một lòng phò Nguyễn Ánh giành lại vương vị, đồng thời cũng có một bộ phận nhân dân Nam bộ ủng hộ, nội bộ Tây Sơn đã bộc lộ những yếu kém sau khi Quang Trung băng hà nên Nguyễn Ánh mới thành công trở thành Gia Long, làm vua của một nước Việt Nam thống nhất, thừa hưởng thành quả mà Quang Trung mang lại.

Có một câu hỏi là: Nếu Nguyễn Ánh không có phẩm chất nào đó thì làm sao ông có được những người phò tá trung thành? Phẩm chất đó là gì? Bằng cách nào để thu phục nhân tâm cho dù đã có những sai lầm chiến lược? Tôi nghĩ, đánh giá vương triều nhà Nguyễn và triều Nguyễn cũng cần chú ý đến điểm này chứ không phải lấp liếm, xóa nhòa ranh giới giữa công và tội.

Từ xưa đến nay, khi nhắc đến Nguyễn Ánh hay Gia Long, nhân dân Việt Nam đều cho đó là một nhân vật “cõng rắn cắn gà nhà”, cả rắn Xiêm và rắn Tây dương; Lê Chiêu Thống “rước voi giày mả tổ”, những người viết sử và dạy sử ở miền Nam trước năm 1975 cũng đều nhận định như thế. Nay các nhà sử học, các nhà nghiên cứu lịch sử lại có ý kiến đề cao vai trò của Gia Long, cho rằng việc Nguyễn Ánh cầu viện ngoại bang là “việc bình thường” thì tôi thật không hiểu nổi. Mong được chỉ giáo.

Giá Khê
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 447

Ý Kiến bạn đọc