Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Một ít tài liệu về Hồ Xuân Hương

Nhân đọc bài Khóc ông phủ Vĩnh Tường trên các số báo Văn Nghệ gần đây mà các tác giả đang tranh luận, xin dẫn ra bài viết của Võ Phiến đăng trên Giai phẩm Bách Khoa (tháng 3-1974) góp thêm một ít tài liệu để chúng ta cùng tham khảo:

“Theo Nguyễn Văn Trung trong Lược khảo Văn học tập 3 (Nam Sơn xuất bản 1968), cho rằng tác phẩm đầu tiên nói về Hồ Xuân Hương là cuốn Giai nhân dị mặc của Nguyễn Hữu Tiến xuất bản năm 1907 và những thiên khảo cứu sau cùng về Bà của các ông: Trần Thanh Mại (trong tạp chí Nghiên cứu Văn học số 3 – 1963, tạp chí Văn học số 5 – 1964, số 10 – 1964, số 11 – 1964) và Nam Trân (tạp chí Văn học tháng 3-1965). Các công trình ấy đưa đến kết quả: – Có một thi sĩ tên là Hồ Xuân Hương trong văn học sử Việt Nam (…) – Nhưng về tiểu sử, đời sống gia đình, tình cảm ra sao (bao nhiêu đời chồng, bao nhiêu bạn tình…) là tác giả thực sự bài thơ nào, vẫn chưa có sử liệu đích thực kiểm chứng” (Sách đã dẫn, trang 47).

Phan Thúc Trực (1808-1852) đậu Thám hoa năm 1847 được bổ vào làm tại tòa Nội các năm 1848. Cuốn Quốc sử di biên được viết vào khoảng 1851-1852 tiết lộ chút ít về “đời sống gia đình” của Hồ Xuân Hương:

“Chức quan Tham hiệp trấn Yên Quảng, vì tội hống hách lấy của dân, nên bị khép vào án tử hình .

Nguyên ruộng châu Vạn Ninh phần nhiều bị bỏ hoang, thế mà quan Tham hiệp lại ức hiếp nhân dân phải khai là ruộng thực trưng để yêu sách lấy bạc và tiền kể có mấy nghìn nên nhân dân trong châu ấy kêu kiện lên cấp trên. Viên Án lại trong trấn ấy là Thủ dung cấu tạo thành tội trạng để hạ ngục bị cáo. Quan Tham hiệp bị kêu giam đến một năm.

Người tiểu thiếp của quan Tham hiệp trấn Yên Quảng lúc ấy tên là Xuân Hương vốn hay văn chương và chánh sự nên được người đương thời khen ngợi là kẻ “Nữ tài tử”.

Quan Tham hiệp thường sai Xuân Hương can dự vào những việc bên ngoài nên Thủ dung vốn ghét” (trang 280-281).

So-510--Anh-minh-hoa-nu-si-Ho-Xuan-Huong-trean-bia-sach-Giai-nhan-di-mac---Anh-1
Ảnh minh họa nữ sĩ Hồ Xuân Hương trên bìa sách Giai nhân dị mặc
của học giả Nguyễn Hữu Tiến – 1916 (Nguồn: vi.wikipedia.or).

Đoạn sách trích dẫn trên đây là từ bản dịch của Hồng Liên Lê Xuân Giáo Quốc sử di biên tập thượng, do Ủy ban dịch thuật Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn hóa, xuất bản tại Sài Gòn vào tháng 10-1973, căn cứ theo bản Hán văn do Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Sở Nghiên cứu Tân Á trường Đại học Trung văn ở Hương Cảng ấn hành vào tháng 10-1965. Về giá trị của tài liệu, xin trích dẫn nhận xét của giáo sư Trần Kinh Hòa in ở phần mở đầu tác phẩm:

“Nay chúng tôi nói đến một phạm vi nghiên cứu nhỏ hẹp, chỉ lưu tâm đến những sử sách không phải của nhà nước mà phê bình nghị luận thì trong những quyển sách có tính chất trọng yếu rất lớn lao thiết tưởng không có quyển sách nào hơn được quyển Quốc sử di biên do ông Dưỡng Hạo Phan Thúc Trực biên soạn” (trang 30).

“Nhờ có chức trách được gần gũi nhà vua, nên đối với các sự tình trong nội bộ của triều đình nhà Nguyễn cùng với chiều hướng sinh hoạt của các bậc vua, quan, Phan Thúc Trực tiên sinh chắc chắn đã hiểu biết tường tận, đầy đủ và chính xác nữa” (…).

“Các người trong Sở Nghiên cứu Tân Á là các ông: Triệu hiệu Tuyên Lưu gia Câu, Bản thôn Tống Cát và Đoàn Khoách đều công nhận quyển Quốc sử di biên đã chiếm một địa vị trọng yếu trong các quyển sách sử ký của nhà Nguyễn và học giới đối với bộ sách ấy, rất mực coi trọng” (trang 46-47).

Căn cứ vào sử liệu này để tìm hiểu về Hồ Xuân Hương:

- Phan tiên sinh chỉ nói đến một người đàn bà tên là Xuân Hương. Có phải là nữ thi sĩ của chúng ta? (Trong chú thích ở cuối trang 281, dịch giả tuyên bố đích thị là nữ thi sĩ ấy, lại còn kể ra bao chuyện chồng con của bà, tuy nhiên dịch giả không cho biết các quyết đoán ấy căn cứ vào đâu?).

Chúng ta thử nêu ra mấy điểm sau đây:

- Phan tiên sinh cho biết người đàn bà tên Xuân Hương này vốn hay văn chương, được người đương thời khen là nữ tài tử. Đó là một chỗ giống nhau với nữ thi sĩ của chúng ta.

- Câu chuyện trong Quốc sử di biên được chép là xảy ra vào năm Kỷ Mão (1819) (trang 278). Trong các tài liệu do Trần Thanh Mại công bố thì Nham Giác Phu Tốn Phong 

Thị từng gặp Hồ Xuân Hương vào các năm Đinh Mão (1807) và Giáp Tuất (1814). Đó là một chỗ giống nhau nữa: Hồ Xuân Hương này với Hồ Xuân Hương kia sống cùng
một thời.

Lẽ nào cùng một thời, cùng một địa phương có hai cô gái cùng tên Xuân Hương, lại cùng giỏi văn chương, cùng được người đời tôn xưng là nữ tài tử, mà hiện tượng ấy không được nêu ra trong lịch sử văn chương?

- Hơn nữa, trong các giai thoại được truyền tụng về nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng có câu chuyện bà phê vào đơn xin ly dị của một thiếu phụ mấy câu thơ:

“… Phán cho con Nguyễn Thị Đào
Nước trong leo lẻo cắm sào chờ ai?
Chữ rằng Xuân bất tái lai”…

Nếu giai thoại ấy có thể dựng làm một chút căn cứ mong manh để giúp chúng ta nhận diện ra nhà nữ thi sĩ nơi nàng tiểu thiếp trấn Yên Quảng, thì mặt khác câu chuyện tại trấn Yên Quảng cũng xác nhận rằng giai thoại nọ không nảy sinh vô cớ, điều khiến chúng ta nên xét đến các giai thoại khác về nữ thi sĩ một cách nghiêm túc chứ không được coi thường.

Theo Nguyễn Văn Trung (sách đã dẫn) trích dẫn dựa theo tài liệu của Trần Thanh Mại: Trong tập Lưu hương ký, nữ sĩ Xuân Hương có đề cập đến một nhân vật gọi là Hiệp trấn họ Trần.

Ông Tham hiệp trấn Yên Quảng trong Quốc sử di biên thì không có tên họ. Ông Hiệp trấn họ Trần trong Lưu hương ký thì không có nhiệm sở: Hai ông này là một chăng?

Về ông Hiệp trấn họ Trần có thơ trong Lưu hương ký cho biết về quan hệ tình cảm với nữ thi sĩ, về ông Tham hiệp trấn Yên Quảng có câu chuyện “Sai Xuân Hương can dự vào những việc bên ngoài” cho biết một khía cạnh trong đời sống vợ chồng của nữ thi sĩ. Giả sử hai ông nọ là một thì chúng ta được biết một chút về cả đời sống gia đình lẫn tình cảm thuộc về một đời chồng của nữ thi sĩ.

- Ông Tham hiệp trấn Yên Quảng có phải là đời chồng đầu tiên của nữ sĩ chăng? Trong lần gặp nhau năm Đinh Mão (1807), Nham Giác Phu nói về Xuân Hương như một cô gái chưa chồng: Nói là em gái ông lớn hơn họ Hồ mà không nói là vợ ai; xưng là “cô ta” mà không là bà; nói là nuôi mẹ già mà không nói ở nhà chồng; lại nói những chuyện đôi bên uống rượu ngâm thơ với nhau, trở thành đôi bạn thân thiết (chuyện khó xảy ra nếu Xuân Hương có chồng).

Trong lần gặp nhau 7 năm sau, năm Giáp Tuất (1814), Nham Giác Phu vẫn nói về Xuân Hương với chữ “cô”; lại nói ở chỗ cũ (tức là ở với mẹ già, chứ không phải ở nhà chồng); lại còn nói chuyện “hai bên vừa mừng vừa tủi” (chuyện khó xảy ra nếu Xuân Hương có chồng).

Thế rồi 5 năm sau, năm Kỷ Mão (1819), xảy ra vụ quan Tham hiệp trấn Yên Quảng bị tử hình. Nếu bảo rằng chỉ trong vòng 5 năm ấy nữ sĩ đã có chồng, rồi mất chồng, rồi lại có chồng làm Tham hiệp, rồi lại mất luôn ông chồng Tham hiệp nữa thì chuyện chồng con có vẻ dồn dập quá. Nếu lại bảo ông Tham hiệp là người chồng đầu tiên thì chuyện gia thất của nữ sĩ quá muộn màng.

Thật vậy, 12 năm trước (1807), nữ sĩ đã nổi danh ở Thăng Long, có lẽ ít ra tuổi cũng trên đôi mươi. Thế rồi xấp xỉ 30 mới đi làm tiểu thiếp người ta!

Dẫu trong thực tại ông Tham hiệp trấn Yên Quảng có được cái may mắn làm người chồng đầu tiên của nữ sĩ hay không thì trên tài liệu sử sách ông ta cũng vẫn là người chồng đầu tiên và là người chồng duy nhất được phát giác cho đến nay (các ông Tổng Cóc, ông Phủ Vĩnh Tường… đều chỉ xuất hiện trong các giai thoại và văn thơ truyền khẩu, vô bằng).

Chuyện cô tiểu thiếp quan Tham hiệp “can dự vào những việc bên ngoài” bấy giờ là hành vi trái mắt thiên hạ; viên Án lại địa phương lấy làm thù ghét, mà cho đến ông quan làm việc tại tòa Nội các nhà vua ở tận triều đình Huế (là Phan Thúc Trực) cũng hay biết và ghi chi tiết này vào sử. Nét đặc biệt ấy hẳn có ý nghĩa quan trọng trong cá tính và đời tư của nữ thi sĩ (Dẫn theo Võ Phiến – Giai phẩm Bách Khoa tháng 3-1974).

Theo những tài liệu nêu trên của Võ Phiến ta nhận thấy:

- Cùng một lúc nữ sĩ quen biết thân mật với hai người đàn ông: Quan Tham hiệp trấn Yên Quảng thì không rõ tên họ? Ông Hiệp trấn họ Trần thì không có nhiệm sở? Ông nào là Trần Phúc Hiển?

- Một người là chồng, một người là bạn bè tình cảm với nữ sĩ.

- Từ năm Đinh Mão (1807) gặp Nham Giác Phu lần đầu đến năm Giáp Tuất (1814) gặp nhau sau 7 năm, nếu nữ sĩ đã có chồng là ông Tham hiệp trấn Yên Quảng sao vẫn ở chỗ cũ với mẹ già?

- Vậy bài thơ “Khóc ông phủ Vĩnh Tường” có phải của Xuân Hương làm ra để tiếc thương một trong hai người đàn ông ấy?

Rõ ràng cuộc đời và thơ văn của Hồ Xuân Hương quá kỳ lạ và bí ẩn, đến nay ta chưa giải mã được. Rất mong các nhà nghiên cứu – phê bình, các nhà văn, nhà thơ làm sáng tỏ sự kiện văn học này.

Trần Châu Kỵ
(Thị xã Ninh Hòa – tỉnh Khánh Hòa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 510

Ý Kiến bạn đọc