Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Một góc văn hóa ở chiến khu “R”

Chiến khu “R” nằm ở phía bắc tỉnh Tây Ninh, cách Sài Gòn khoảng trên 100km đường chim bay, là căn cứ của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tư lệnh Miền, cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến ở phần đất phía Nam Tổ quốc. Bầu trời và mặt đất của “R” luôn luôn nằm trong sự theo dõi, quan sát qua các phương tiện điện tử của giặc từ trên không, từ trên đỉnh núi Bà Đen và các đồn bót lân cận…

Các loại bom rải thảm, bom tọa độ thả bất ngờ, pháo cực nhanh, pháo tầm xa đào bới liên tục một vùng rộng khoảng hơn 1.000km2, nơi chúng đánh hơi là vùng đất R tưởng chừng không còn ai dám đứng ngoi trên mặt đất ấy.

Nhac-si-Luu-Huu-Phuoc-thu-cay-dan-xuong-tu-tao-o-chien-khu-C-nam-1969-(2)
Nhạc sĩ LƯU HỮU PHƯỚC thử cây “đàn xương” tự tạo ở chiến khu C – năm 1969

Chất độc hóa học cũng đã đổ xuống các khu rừng ấy một cách dã man, diệt sạch cỏ, làm trụi lá cây, chỉ còn trơ những thân gỗ khô cằn đầy dẫy thương tích, chỉ còn những bụi le không chịu chết, thu mình dưới những gốc cây ven bờ suối để giữ màu xanh cây lá, tạo thành mái nhà làm nơi trú mưa đụt nắng cho những người yêu nước chống giặc và cho cả chim muông, cầm thú.

Câu hát “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” không còn ý nghĩa nữa! Mọi vật dụng phát ánh sáng, từ cây đèn, bếp lửa đến các dụng cụ bằng kim loại phát quang đều phải ngụy trang kỹ, đề phòng con mắt điện tử của máy bay thám thính. Những người trong “R” muốn di chuyển phải tìm lúc thuận lợi.

Nhìn toàn cảnh những khu rừng chết, nhất là về đêm thật dễ sợ, đến nỗi dân đất thép Củ Chi dạn dày bom đạn mà chứng kiến cảnh bom rơi đạn nổ hàng ngày ở chiến khu “R” cũng tưởng rằng không một ai có thể sống sót.

Nếu không phải là người trong cuộc, những người đã bám trụ ở “R” thì khó tin rằng ở đó còn sự sống. Thực tế, chẳng những còn sự sống mà còn cả một cuộc sống, tuy có hạn chế về vật chất, nhưng rất phong phú về tinh thần. Một cuộc sống chiến đấu đầy sinh động, văn minh, văn hóa và đầy ắp tình người…

Và, hầu như mọi loại hình nghệ thuật thường xuyên sinh hoạt ở đây bất chấp mưa bom bão đạn. Có một đêm biểu diễn khó quên trong Hội-trường-âm (đào sâu xuống đất), để chào mừng đoàn chiến sĩ Văn công mới từ hậu phương lớn vào bổ sung cho Văn công Giải phóng Miền.

Trong chương trình có điệu “Múa Ong” vừa xây dựng từ Hà Nội, đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Âm nhạc hào hùng hòa với động tác múa uyển chuyển, nhanh nhẹn trong một đội hình có lúc nhộn nhịp như ong vỡ tổ, đã đưa cảm nhận khán giả về một vùng du kích Bến Tre, nơi mà quân và dân đã có sáng kiến “tuyển mộ” ong vò vẽ vào góp sức với người để chống đế quốc xâm lược, làm cho giặc bỏ chạy tán loạn vì không có thứ vũ khí hiện đại nào ngăn được binh chủng “ong” này.

Hội trường lúc rộ lên, khi im ắng, bài hát “Người ơi, người ở đừng về” từ quê hương Quan Họ mới đi vào Nam, với giọng ca tha thiết của diễn viên Mai Khi đã hớp hồn tất cả cử tọa. Hồn thiêng dân tộc dường như đang trào dâng trong lòng các chiến sĩ và lan tỏa khắp không gian ấm cúng của khu rừng. Bài hát được yêu cầu hát lại đến 3 lần, mà không phải chỉ 3 lần đã làm người nghe thỏa mãn, mà vì khán thính giả thông cảm với ca sĩ vừa vượt Trường Sơn, sức khỏe chưa hồi phục, không nỡ yêu cầu hát nữa…

Cac-van-nghe-si-o-chien-khu-nhung-ngay-gian-kho-truoc-ngay-giai-phong
Các văn nghệ sĩ ở chiến khu những ngày gian khổ trước giải phóng

Có thể nói, chiến tranh dù ác liệt đến mấy, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, tinh thần vẫn được duy trì. Không thể ngồi thưởng thức trên mặt đất, thì ta đào hầm làm Hội trường cho khán giả, còn diễn viên vẫn lấy mặt đất làm sân khấu. Dĩ nhiên, cạnh sân khấu có hầm tránh bom. Có nơi phải biểu diễn hoặc chiếu phim ban ngày để phòng tránh bom đạn địch. Ta có rất nhiều đoàn văn công, chiếu bóng hoạt động trong vùng, không kể các đoàn nghệ thuật hùng hậu, tầm cỡ của Ban “Tuyên huấn R”. Từ đơn vị cỡ sư đoàn đều tổ chức đoàn văn công phục vụ cho đơn vị mình và đồng bào trên địa bàn hoạt động. Chẳng hạn, Cục Chính trị Miền có đoàn Văn công của Cục, có lúc do nhạc sĩ Xuân Hồng làm trưởng đoàn, đầy đủ các bộ môn ca, múa, nhạc, kịch. Một vở kịch được nhiều người ưa thích “Đường phố dậy lửa” của Ngô Y Linh, do Văn công Sư đoàn 9 dàn dựng đã biểu diễn mấy năm liền. Vở kịch nói lên sự giác ngộ của anh lính Cộng hòa tình nguyện theo kháng chiến, đã góp phần cho chiến thắng của một đội Biệt động trong Tết Mậu Thân.

Hầu như mọi loại hình nghệ thuật đều có mặt và phát huy hiệu quả trên mảnh đất anh hùng này, mà bộ môn Điện ảnh là mảng hoạt động phong phú nhất. Cả đội ngũ quay phim, chiếu phim và làm phim thời sự để phục vụ kịp thời cho cả nước. Những đội chiếu phim lưu động, chở máy chiếu, đèo máy ảnh, thồ máy phát điện… trên những chiếc xe đạp lần lượt đến phục vụ các đơn vị khắp chiến khu.

Sống trong hoàn cảnh rất thiếu thốn, chật vật nhưng các đội chiếu bóng vẫn cung cấp đủ các loại phim: phim chiến đấu, phim tâm lý xã hội, phim khoa học viễn tưởng… Nhờ đó người chiến sĩ được nâng cao tinh thần, mở rộng hiểu biết, và tầm nhìn không quá lạc hậu vì phải cách ly cuộc sống bình thường. Sau những buổi xem phim về, anh chị em chiến sĩ đều có vấn đề tranh luận, bàn tán với nhau rất vui.

Có một chuyện cảm động quanh chuyện phim ảnh trong chiến khu. Số là, có một cán bộ chỉ huy được ghi hình trong chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài. Sau đó, phim thời sự này được phổ biến tại căn cứ lõm du kích quê hương của cán bộ này. Trong số khán giả, có họ hàng thân thuộc và bà mẹ già của vị cán bộ ấy được nhìn thấy hình ảnh đứa con thân yêu sau bao nhiêu năm xa cách. Cuộc hội ngộ một bên là nhân vật trên màn ảnh, một bên là những người thật ngồi xem, đã gây xúc động sâu sắc trên bãi chiếu. Và đây cũng là dịp cuối cùng bà mẹ già được nhìn thấy hình ảnh con mình, vì sau đó vài năm mẹ qua đời, đã để lại cho con nỗi ngậm ngùi trong ngày về sau giải phóng!

Ngoài những loại hình văn hóa, văn nghệ kể trên, còn một hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ rất bổ ích, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu nhưng không ồn ào, hoa lá. Đó là thú nghe đài. Trong kháng chiến chống Mỹ, hầu hết cán bộ trong cơ quan, các phân đội nhỏ đều có máy thu thanh. Máy thu thanh có khắp nơi – xin mở ngoặc ở đây để cảm ơn các nhà khoa học đã chế ra chiếc máy thu thanh bán dẫn cầm tay rất tiện dụng trong chiến tranh. Với chiếc radio nhỏ này, người ta nghe tin chiến thắng, nghe tin bình luận, nghe ca hát, ngâm thơ và nghe cả đọc truyện đêm khuya từ Đài phát thanh TNVN, trong những khi nằm tòn ten trên chiếc võng giữa màn đêm dày đặc.

Cũng nhờ Đài phát thanh mà phong trào Thanh niên 3 sẵn sàng; Phụ nữ 3 đảm đang; Tiếng hát át tiếng bom; Giặc đánh miền Bắc một, miền Nam đánh trả gấp 2, 3; Chia lửa với miền Bắc đã đến tai anh chị em chiến sĩ “R”. Và nhất là, lời kêu gọi của Bác Hồ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” cũng từ làn sóng phát thanh ngoài Hà Nội truyền vào đã phát động một cuộc thảo luận sôi nổi trong các đơn vị, đã nâng cao lòng yêu nước, niềm khát khao độc lập, tự do; nung nấu tinh thần và ý chí các chiến sĩ hạ quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.

Cũng nhờ có phương tiện thông tin hiện đại này, mà công tác thông tin, tuyên truyền – một loại hình văn hóa trong chiến tranh của chúng ta – đã đạt tới đỉnh cao. Giặc Mỹ rất cay cú khi biết Đài phát thanh Giải phóng của chúng ta xuất phát từ “R”: cách Sài Gòn chỉ trên 100km đường chim bay, bọn chúng đã nhiều lần tìm đánh phá để mong dập tắt, nhưng Đài phát thanh Giải phóng vẫn đều đặn phát đi tiếng nói của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam mỗi ngày như chọc vào tai giặc.

Đội ngũ nghệ sĩ hoạt động trên góc văn hóa này bao gồm cả văn, thi, nhạc sĩ, các kịch tác gia, soạn giả cải lương, các diễn viên ca múa, các nhà báo nam và nữ, đã làm nên những tác phẩm văn hóa – nghệ thuật trong lửa đạn, đã góp phần nâng cao tinh thần chiến đấu của quân dân cả nước, và cũng đã góp phần làm sáng tỏ cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta với thế giới. Đồng thời đã in đậm dấu ấn trong nền văn hóa – văn nghệ của dân tộc Việt Nam.

Có thể nói, hầu hết anh chị em chiến sĩ trẻ đều giữ trong bồng (đựng quần áo) của mình một tập thơ, một tập truyện ngắn, một tập bài ca, một vài tờ báo… và đã đọc đi đọc lại đến thuộc lòng. Cũng đúng như một nhà báo phương Tây đã nhận xét: “Nếu hạ hết cây rừng ở Bắc Tây Ninh, thì sẽ lộ ra một thành phố có tổ chức quy củ trên mảnh đất căn cứ của Việt Cộng này”.

Nhà báo ấy chỉ nhìn bề ngoài mà đã nhận thấy một hiện tượng quy mô có tầm cỡ như vậy, nếu như ông ta có điều kiện đi sâu hơn (dĩ nhiên thời bấy giờ) ắt sẽ thấy sinh hoạt văn hóa, tinh thần ở đây cũng đa dạng, phong phú như một thành phố đang yên ổn trong hòa bình, vì tại căn cứ này có một đội ngũ anh chị em chiến sĩ văn hóa, văn nghệ rất tài năng. Chính đội ngũ này đã đóng vai trò nòng cốt trong việc tiếp quản ngành văn hóa, văn nghệ TP. Hồ Chí Minh sau giải phóng, và đã điều hành, xây dựng nó theo chiều hướng xã hội chủ nghĩa trong hơn 40 năm qua…

Nếu cuộc kháng chiến chống Mỹ chỉ đơn thuần quân sự, mà không có hoạt động văn hóa tinh thần quy mô và liên tục, chưa biết chúng ta có thắng nổi một địch thủ có sức mạnh cơ giới hiện đại như vậy không?

Để giải đáp câu hỏi này, xin dẫn lời Jane Fonda, nữ minh tinh màn bạc Mỹ, một công dân Mỹ ngày đó đã cực lực chống chiến tranh Việt Nam, đặt câu hỏi: “… Tại sao và làm thế nào một nước nhỏ về địa lý, ít dân cư như Việt Nam mà không sợ sức mạnh kỹ thuật của Mỹ, lại có thể ngăn chặn được sự tấn công hung bạo của tất cả các loại vũ khí?”. Và chính Jane Fonda cũng tự trả lời: “Bởi vì các bạn biết tại sao các bạn chiến đấu, bởi vì các bạn đã đặt giá trị con người chứ không phải lợi nhuận hay bạo lực ở trung tâm mọi sự vật” (J. Fonda gửi báo Ảnh Việt Nam 22/7/1972). Câu nói này đáng cho chúng ta hôm nay suy nghĩ…

TP. Hồ Chí Minh, 2016
Viết 2009 – Sửa lại 2016

Nguyễn Văn Tồng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 390

 

Ý Kiến bạn đọc