Tản văn

Một góc thiêng của Bảo Định Giang

 

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Hai câu ca dao đó của nhà thơ Bảo Định Giang, tôi và nhiều thế hệ thuộc nằm lòng từ những ngày chống Pháp. Ra miền Bắc tôi cũng nghe nhiều người đọc câu ca dao này. Sau này có dịp làm việc với nhà thơ tôi luôn có cảm giác anh cao sừng sững một phần vì hai câu thơ này. Tôi rất trân quí anh, lúc nào cũng coi anh là bậc bề trên. Bề trên về tuổi đời, tuổi cách mạng và bề trên về vai vế trong văn học. Mỗi lần về Mỹ Tho, ngồi nhìn dòng sông Bảo Định chảy ra sông Tiền lòng tôi lại nao nao nghĩ về anh, nhà thơ Bảo Định Giang.

Mùa xuân năm rồi, giữa lúc hoa đào bắt đầu hé nở, tôi đến thăm bảo tàng của các Nhà Văn nằm ở vùng ngày xưa là của xứ đào Nhật Tân. Ở đó tôi gặp lại những nhà văn mà tôi từng yêu quí, trân trọng. Hai hiện vật đã gây cho tôi nhiều xúc động, rung cảm, đó là 2 chiếc gậy. Một của Nguyễn Tuân với những nét khắc của ông về địa danh đã đi qua. Chiếc gậy thứ 2 là của nhà văn Bảo Định Giang, một chiếc gậy tre rất mộc mạc giản dị, “Chiếc gậy Trường Sơn” đã theo anh những tháng ngày anh vào Trung ương Cục, trên cây gậy còn lưu lại nét khắc chữ ký của một số nhà văn ở chiến trường mà những năm công tác ở miền Bắc anh “đêm nhớ ngày thương”. Đó là Chim Trắng, Lê Văn Thảo, Hoài Vũ, Đinh Quang Nhã, Ngô Y Linh, Nguyễn Chí Hiếu, Lê Giang, Giang Nam, Từ Sơn, Lý Văn Sâm… Những nhà văn đã sống và viết dưới mưa bom bão đạn. Những chữ ký đơn sơ ấy là kỷ niệm những ngày Bảo Định Giang đặt chân đến chiến trường miền Nam, là những chữ tình đọng mãi với thời gian.

Chiếc gậy giản dị đã làm hiện lên trong tôi một Bảo Định Giang gần gũi và trân quí. Anh là bậc cha chú, nhỏ hơn ba tôi 5, 6 tuổi nhưng anh cứ bắt tôi phải gọi bằng anh. “Gọi bằng anh dễ làm việc hơn”. Chiếc gậy Trường Sơn gợi cho tôi nhớ một khối công việc đồ sộ của miền Nam do anh Bảo Định Giang đảm nhiệm thời đó. Những năm ấy, tôi công tác ở Vụ 1C của Ban miền Nam trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, làm công tác văn hóa văn nghệ và báo chí cho cách mạng miền Nam. Anh Bảo Định Giang là Phó Tổng thư ký của Liên hiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam, là Ủy viên thường trực của Đảng đoàn văn nghệ. Đảng đoàn văn nghệ ngày đó rất to, gồm cả Bộ Văn hóa – Thông tin và Liên hiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam do đồng chí Hà Huy Giáp, Ủy viên Trung ương Đảng, người từng là thư ký của Bác Hồ làm Bí thư. Anh còn là Tổng Biên tập Báo Văn nghệ, là lãnh đạo của Hội Văn nghệ dân gian. Với những chức vụ đó đã quá nhiều việc, đã rất nặng rồi. Nhưng không, anh còn là Trưởng tiểu ban miền Nam của Đảng đoàn văn nghệ. Tôi muốn viết ra đây những “góc khuất” không nhiều người biết về nhà thơ Bảo Định Giang với văn học cách mạng miền Nam, một nhiệm vụ mà anh vẫn gọi là góc thiêng.

Để thực hiện nhiệm vụ phục vụ cách mạng miền Nam những năm đất nước còn chia cắt, một số công tác về đối ngoại, về văn học báo chí đều thực hiện chủ yếu ở Hà Nội và tất cả đều bí mật. Chúng tôi ở Ban miền Nam đều phải có 2 tên, một tên dành cho miền Nam để làm công tác đối ngoại, còn tên thông thường thì dùng hằng ngày. Ban miền Nam sau này mang ký hiệu CP72 chính là Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Ngày đó Đài phát thanh Giải phóng 2 nằm ngay 58B Quán Sứ và nơi phát sóng là hang đá ở Chùa Thầy hoặc ở Mẫu Sơn. Nhà xuất bản Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng đối ngoại, Báo Ảnh giải phóng, Đoàn văn công Giải phóng, Xưởng phim Giải phóng… đều ở Hà Nội và hoạt động rất bí mật như đang ở miền Nam. Có lẽ trừ mảng thông tấn báo chí, còn toàn bộ mảng Văn học – nghệ thuật, điện ảnh, âm nhạc… đều do anh Bảo Định Giang làm “Tư lệnh”. Có thể nói Tiểu ban miền Nam nghe thì nhỏ, vì là “Tiểu”, nhưng công việc thì bao la và rất “Đại”, làm trưởng tiểu ban nên anh phải bao trùm tất cả.

tapchi38--Mot-goc-thieng-cua-Bao-Dinh-Giang---Anh-1
Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà thơ Bảo Định Giang. Nguồn: vanchuongthanhphohochiminh.vn.

Anh trực tiếp làm Tổng Biên tập Nhà xuất bản Giải phóng, giúp anh có anh Hà Mậu Nhai, bên Xưởng phim Giải phóng có anh Hồ Văn Lái, về sau có anh Khương Mễ ở chiến trường về. Anh Lê Thành lo Đài phát thanh Giải phóng, nhạc sĩ Xuân Hồng ở miền Nam mới ra lo Đoàn Văn công Giải phóng…

Vụ 1C của chúng tôi có nhiệm vụ quan hệ chặt chẽ với chỗ anh Bảo Định Giang. Thứ nhất là tiếp nhận và bàn giao cho anh Bảo Định Giang các tác phẩm văn học từ miền Nam gởi ra. Anh Giang đọc rồi báo cáo với Trung ương và có trách nhiệm là “bà đỡ”, Nhà xuất bản Giải phóng cùng các nhà Văn học, Quân đội, Thanh niên… xuất bản các tác phẩm này để lưu hành ở miền Bắc. Phần in và chuyển về chiến trường và dịch đưa ra quốc tế là Vụ của chúng tôi lo. Nhưng in sách nào? Số lượng? In loại giấy gì đều từ quyết định của anh Bảo Định Giang. Với những quyển như “Sống như anh”, “Thư Cà Mau”, “Từ tuyến đầu Tổ quốc”, “Hòn đất”, “Người mẹ cầm súng”, “Chiếc lược ngà”… anh Giang cho phát hành số lượng lớn ở miền Bắc, có tác dụng rất tốt. Ngày đó, ở bờ hồ Hoàn Kiếm, cạnh đền thờ Lê Lợi có Câu lạc bộ Thống Nhất. Anh Giang nhiều lần đến đó để giới thiệu các tác phẩm văn học từ miền Nam gởi ra. Anh đề nghị chúng tôi nhờ nước bạn in loại giấy mỏng nhẹ để gởi vào chiến trường. Mỗi lần như vậy anh căn dặn chúng tôi rất kỹ về kích cỡ, co chữ. Anh luôn dặn sách gởi vào chiến trường phải nhẹ và giấy phải tốt để có thể chuyền tay nhiều người đọc mà không rách… Hàng trăm tác phẩm của các nhà văn nhà thơ từ miền Nam gởi ra đều qua tay anh. Anh đọc không chỉ một lần, nhiều tác phẩm anh đọc đi đọc lại, đọc thâu đêm. Tôi gọi anh là bà đỡ cho các tác phẩm từ miền Nam gởi ra, có người gọi anh là đoàn tàu chuyên chở tác phẩm của Văn nghệ sĩ miền Nam. Cũng đúng, vì không phải chỉ có văn, có thơ mà có cả kịch bản điện ảnh, sân khấu. Có nhiều tác phẩm hội họa gởi ra anh đều đón nhận với cả tấm lòng vì miền Nam. Anh đã tổ chức triển lãm tranh các họa sĩ miền Nam được Bác Hồ đến xem, và anh là người trực tiếp thuyết minh. Anh thuộc từng tác giả của mỗi bức tranh. Sau triển lãm anh yêu cầu chúng tôi tổ chức nhờ nước bạn in thật đẹp gởi tặng các nước, làm quà biếu của các Sứ quán Cách mạng miền Nam cho bạn bè.

Bảo Định Giang luôn chăm lo, bồi dưỡng và chọn lựa các nhà văn, nghệ sĩ để gởi vào các mặt trận miền Nam. Nam bộ thì có: Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Đinh Quang Nhã… Nhà văn trẻ Ca Lê Hiến (tức Lê Anh Xuân) cũng được anh Giang đưa đi rất sớm. Xuân là con trai của nhà nghiên cứu Ca Văn Thỉnh rất thân với anh, nên anh rất quí Ca Lê Hiến. Khu 5 thì có: Thu Bồn, Nguyễn Mỹ, Vương Linh, Bùi Minh Quốc, Thanh Quế, Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý… Những nhà thơ trẻ anh chọn gởi vào Nam đều thành danh. Các ngành điện ảnh, sân khấu, hội họa, âm nhạc cũng đều được anh chọn lựa những nghệ sĩ có tài năng và có năng khiếu để gởi vào chiến trường như: Ngô Y Linh, Bích Lâm, Phạm Ngọc Truyền của ngành sân khấu và âm nhạc thì Hoàng Việt, Hoàng Hiệp, Lưu Cầu, Văn Cận. Mỹ thuật thì Huỳnh Phương Đông, Thái Hà… Điện ảnh thì có Phạm Khắc, Khương Mễ, Mai Lộc, Hồng Sến… Nhờ sự có mặt kịp thời đó, sự bố trí lực lượng hùng mạnh như vậy nên văn học – nghệ thuật đã luôn ở tuyến đầu của cuộc chiến đấu dũng cảm vô song đó. Nhiều nhà văn, nghệ sĩ đã hy sinh anh dũng nêu những tấm gương sáng như Lê Anh Xuân, Dương Thị Xuân Quý…

*
Bảo Định Giang người gầy, cao dong dỏng, nhìn dáng anh cứ tưởng anh yếu, nhưng khi làm việc với anh mới thấy anh có sức bền bỉ, dẻo dai đến phi thường. Anh tiết kiệm thời gian, anh thường nhắc “mình vì miền Nam mà”. Anh là “Tư lệnh” nhưng cũng là một tham mưu tài trí. Anh Bảo Định Giang là người tham mưu cho Bộ Chính trị Ban Bí thư nhiều công việc của khối Văn học – nghệ thuật miền Nam. Các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu… Cả Bác Tôn Đức Thắng đều rất quí anh. Khi đoàn miền Nam đầu tiên do Tổng thư ký Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu cùng nhà thơ Thanh Hải ra thăm miền Bắc năm 1962, miền Nam đã chuẩn bị một vài chiến lợi phẩm có ý nghĩa để dâng tặng Bác. Anh Bảo Định Giang đã tham mưu lấy tập thơ do chính tác giả Trọng Tuyển, một nhà thơ trẻ là chiến sĩ tự tay chép. Trước lúc hy sinh Trọng Tuyển có di nguyện được gởi tặng Bác. Bản thảo được gởi ra và Bảo Định Giang với tư cách Trưởng Tiểu ban Văn nghệ miền Nam đã giữ nó như một báu vật. Đề xuất của anh Bảo Định Giang được Trung ương nhất trí, nó càng có ý nghĩa khi trong đoàn có một thành viên là nhà thơ Thanh Hải. Bản thảo tập thơ khi đoàn dâng tặng đã làm Bác xúc động thật sự, nhận tập thơ Người đã đưa tay lên ngực trái để nói: “Bác không có gì tặng lại cả, Bác chỉ có cái này”, đó là trái tim vĩ đại của Bác. Và Bác đã nói ngay một câu bất hủ: “Miền Nam yêu quí luôn trong trái tim tôi”. Tôi nghĩ rằng khi nghe câu nói của Bác, anh Bảo Định Giang sẽ là một trong những người sung sướng và hạnh phúc nhất.

Một lần, năm 1969 anh lên làm việc với Ban miền Nam, lần đó có một số tác phẩm miền Nam gởi ra, trong đó có Ký và thư của Dương Thị Xuân Quý. Dương Thị Xuân Quý đi B năm 1968, khi đó anh Bảo Định Giang chưa muốn cho Quý đi vì Quý mới sinh con vừa tròn 1 tuổi, nhưng vì quyết tâm phi thường, tha thiết ra chiến trường của Quý nên anh nhất trí đề nghị Trung ương xem xét cho đi. Hôm đó, đang bàn về việc in sách cho miền Nam thì bên cơ yếu đưa qua cho anh Lê Toàn Thư bức điện từ chiến trường Khu 5. Anh Thư đọc và chuyển liền cho anh Giang và nói khẽ: “Một cây bút nữ kiên cường đã hy sinh”. Anh Giang xem và bật lên: “Trời ơi, Dương Thị Xuân Quý hy sinh rồi!”. Nói rồi anh quàng tay kéo tôi sát anh và nói trong thổn thức: “Tội nghiệp quá, đau quá!”. Anh xót thương và nước mắt giàn giụa, thế mới biết anh thương quí những nhà văn, những chiến sĩ văn học ra chiến trường như thế nào!

Hôm ở Trường đi B (T105), tôi nhớ đợt đó có Dương Thị Xuân Quý, Diệp Minh Tuyền, và một số nhà báo đang tập luyện chuẩn bị ra chiến trường. Anh Bảo Định Giang kêu tôi cùng anh lên thăm. Buổi trưa anh cho gọi, tôi ra bờ suối thấy anh nằm vắt vẻo trên chiếc võng dù mà chúng tôi quen gọi là chiếc võng Trường Sơn. Anh bàn với tôi tổ chức bữa tiệc trà nhỏ có bánh kẹo để chia tay anh chị em ra chiến trường tại hang đá to mà chúng tôi vẫn gọi là hội trường đá. Anh nói: Ở đây rừng núi, kiếm kẹo bánh hơi khó, trà thì tớ có đây. Cậu sang bàn với anh Văn (Hiệu trưởng), tớ đã gọi, đưa một tổ văn công giải phóng của Xuân Hồng lên góp vui. Chiều đó, anh ra trước, thấy trường 105 chuẩn bị chu đáo anh rất vui. Anh rủ chúng tôi cùng nhóm văn công có cả nhạc sĩ Xuân Hồng và các anh Hồ Văn Lái, Cục trưởng Cục Điện ảnh, phụ trách Xưởng phim Giải phóng và anh Văn chụp ảnh chung. Mọi người tề tựu trên vách đá, anh yêu cầu mọi người hát một bài cho rôm rả để chụp ảnh và anh cầm lấy ghi-ta gảy cho mọi người hát. Anh cũng hát rất hồn nhiên. Sự lạc quan, hồn nhiên, giản dị đã tăng năng lượng cho mọi người và tôi cảm nhận được nét xuất thần, thân ái, gần gũi chân tình của anh với mọi người. Nhìn anh bình dị đàn hát say sưa, tôi mới hiểu thêm chính từ sự chân tình nhiệt huyết luôn vì mọi người của anh đã làm cho các văn nghệ sĩ gạo cội có tên tuổi ở Hà Nội chịu anh, thương quí anh. Hôm đó, anh dặn dò những anh chị em sắp lên đường ra chiến trường và mong đón nhận tác phẩm. Anh nói không nhiều, chân chất nhưng sâu sắc và tình cảm như trải lòng gởi theo anh chị em về miền Nam thân yêu.

*
Năm 1975, miền Nam giải phóng, tôi vừa theo chân đoàn của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ vào thăm Huế mới giải phóng trở ra thì được anh gọi đến 51 Trần Hưng Đạo. Anh tiếp tôi ngay phòng làm việc bé nhỏ của anh. Anh rót trà mời tôi rồi nhìn tôi với vẻ nghiêm trang ít thấy. Anh nói:

- Có việc này anh muốn trao đổi với chú, chị vợ anh Huỳnh Tấn Phát (Thủ tướng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) hiện là Chủ tịch Hội Phụ nữ thành phố Sài Gòn giải phóng có thư ra xin đích danh chú vào giúp cho tờ phụ nữ Sài Gòn giải phóng vừa mới ra đời. Ý chú sao?

- Sao chị Huỳnh Tấn Phát biết em? – Tôi hỏi

- Có lẽ do nữ sĩ Vân Trang ở ngoài này về giới thiệu.

Thấy tôi phân vân vì những công việc đang dở dang, anh nói:

- Anh có trao đổi với anh Lê Toàn Thư(*). Anh Thư đã trao đổi với anh Ba Nghĩa (tức luật sư Nguyễn Hữu Thọ) cũng đồng ý. Chú là người làm báo, viết văn và là người của Ban miền Nam, giờ trực tiếp vào giúp cho tờ báo mới ra đời, báo phụ nữ phục vụ hơn 50% dân số Sài Gòn là cần lắm.

Đôi mắt rực sáng như thôi miên của anh đã truyền cho tôi nhiều cảm xúc. Tôi vui vẻ trả lời anh:

- Được vào công tác ở miền Nam lúc này là niềm mong đợi. Các anh, tổ chức đã nhất trí thì em sẵn sàng.

Anh cười thân mật bắt tay tôi rồi quay điện thoại lên Ban tổ chức Trung ương. Anh nói:

- Chị Bảy, tôi trao đổi rồi. Hồng Phú rất vui vẻ sẵn sàng…

Gác máy, anh nói:

- Chị Bảy Huệ, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ của Ban tổ chức Trung ương đang chờ chú. Anh bố trí xe đưa chú lên gặp chị Bảy. Gặp xong chú về lại đây.

Và ngay sau đó chiếc ôtô Moscovit của Liên hiệp đưa tôi lên Ban tổ chức TW ở phố Nguyễn Cảnh Chân để nhận quyết định điều động vào nhận công tác ở Thành ủy Thành phố Sài Gòn. Cũng chiều đó khi trở về 51 Trần Hưng Đạo, anh Bảo Định Giang đã ký văn bản cùng các thủ tục kèm theo cử tôi vào nhận công tác ở Sài Gòn. Mọi xếp đặt kể cả phương tiện máy bay quân sự cũng đã sẵn sàng. Anh đưa các giấy tờ cho tôi và nói: “Chú có 2 ngày chuẩn bị, có gì cần cứ trao đổi”. Đó là phong cách Bảo Định Giang, giải quyết việc gì cũng chi li đến từng chi tiết, miệng nói tay làm. Có lẽ đó là một trong những yếu tố giúp anh hoàn mỹ khối lượng công việc to lớn vì miền Nam.

*
Chuyện về những ngày làm việc cho miền Nam rất kín đáo này rất ít người biết. Ngày ấy, mọi việc đều luôn trong trạng thái bí mật, vì các “Binh chủng” anh Bảo Định Giang làm “Tư lệnh” ấy đúng ra đều ở miền Nam nhưng thực tế là đặt tại Hà Nội nên phải bí mật. Chúng tôi từ Hà Nội đi công tác nước ngoài với danh nghĩa đoàn miền Nam thì phải có tên miền Nam và phải nhập vai đi từ miền Nam. Cái khó của anh Giang hơn chúng tôi là anh có vai thường trực Đảng đoàn Văn nghệ là của Đảng, của miền Bắc, của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng phần “Tiểu ban Văn nghệ miền Nam” của anh thì là việc của miền Nam. Vậy mà nhiều năm anh vẫn làm xuất sắc và đảm bảo kín đáo, an toàn.

Nhìn cây gậy tre Trường Sơn của anh tôi nhớ và nhớ sâu sắc về những ngày tháng lo cho miền Nam, sống chết với nền Văn học – nghệ thuật miền Nam của “Tư lệnh” Bảo Định Giang, tôi gọi đó là góc thiêng, “Góc kín” của anh.

Ngày 14/3/2022

Trình Quang Phú
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 38

—————
(*) Anh Lê Toàn Thư là Ủy viên TW Đảng, Phó Trưởng ban miền Nam. Ngày đó tôi là cán bộ Ban miền Nam được phân công giúp việc luật sư Nguyễn Hữu Thọ.

Ý Kiến bạn đọc