Tản văn

Một chuyến miền Tây

Hôm ấy, đoàn chúng tôi đến Cần Thơ. Sau khi thăm thú thành phố và đi chợ nổi trên sông, cả đoàn về miệt vườn Long Khánh. Khỏi nói mọi người thấy thú vị đến thế nào trước vườn cây trái sum suê, cảnh sông nước mênh mang, hào sảng. Đến bữa ăn, sự thú vị ấy càng tăng khi chúng tôi được thông báo sẽ được nếm những đặc sản nổi tiếng nhất của sông nước miền Tây, đặc biệt là những món rau đặc trưng: bông điên điển, bông súng, bông so đũa, lục bình… Những món hầu như mới được biết qua sách vở, bởi gần trăm phần trăm những người đi trong đoàn đều lần đầu tiên đặt chân đến miền Tây…

Cho-noi-Mien-Tay
Ảnh minh họa.

Trong lúc chờ nhân viên phục vụ tíu tít dọn bàn để chuẩn bị bữa ăn, tôi tha thẩn dạo bước ra phía cổng nhà vườn. Nơi ấy có quầy lễ tân, có quán bar mi-ni, lại có cả một quầy bán trái cây tươi. Dưới gốc những cây ăn trái cổ thụ mát mẻ có kê ghế dài cho du khách nghỉ ngơi. Lại có cả những chiếc võng mắc đung đưa, đung đưa… Ngồi trên võng một lát, tôi thấy một ông lão rụt rè bước vào. Trên tay ông ôm một ôm tướng những bông súng đủ sắc màu. Bông đỏ, bông trắng, bông hồng phớt… Hai ống quần nâu vo xoắn trên đầu gối. Hai bắp chân còn những vệt bùn tươi. Những bông súng tươi roi rói, nhựa ứa ra ở đầu vết ngắt nơi cọng súng mập mạp màu nâu tía. Chắc ông vừa bước lên từ một đầm nước nào đó về đây. Ông ngỏ ý với cô nhân viên lễ tân về chuyện bán mớ bông súng trên tay. Cô nhân viên lễ tân gọi bà chủ nhà hàng. Bà chủ nhà hàng ra, chỉ cho ông lão đặt mớ bông súng lên cái bàn cân để cạnh đó. Rồi bà lắc đầu, xua tay, nói câu gì chẳng rõ. Ông lão lại thanh minh, nghe cũng không rõ câu gì. Trao qua đổi lại mấy câu, đích thân bà chủ cầm mớ bông súng, ngắt làm đôi. Bà bảo chỉ lấy ngần đó thôi, một nửa trả lại cho ông lão. Rồi bà quay vào lấy tiền trả. Ông lão tần ngần ôm bó bông súng vừa bị trả lại, nét mặt buồn so. Ông hết nhìn bó bông súng trên tay, lại nhìn xuống chân mình. Hình như ông khe khẽ thở dài. Hai bên vạt áo cũ của ông ướt loang ướt lổ. Cầm tập tiền lẻ bà chủ quán đưa, ông lão đặt mớ bông súng xuống, cẩn thận đếm chậm rãi, kỹ lưỡng từng tờ một, rồi thận trọng vuốt phẳng phiu. Sau đó, ông lần trong túi áo, rút ra một tập nhỏ, gói bằng mảnh nilon trắng ngà đã cũ, chằng bên ngoài bằng mấy lượt dây thun. Ông mở từng lượt dây thun, từng lượt nilon, để lộ ra xấp tiền lẻ được xếp ngay ngắn. Ông nhập mớ tiền mới bán bông súng vào xấp tiền cũ ấy, rồi lại cẩn thận bọc nilon, cẩn thận chằng buộc dây thun kỹ lưỡng, đút vào túi áo. Vẫn gương mặt rầu rầu ấy, ông ôm bó bông súng còn ế đi ra. Một vài giọt nước rỏ xuống từ đám bông súng tươi, trong veo như nước mắt…

Mọi chuyện chỉ diễn ra chừng mươi, mười lăm phút, nhưng tự nhiên tôi thấy lòng nghẹn lại. Những vệt bùn tươi trên bắp chân ông lão… Gương mặt rầu rầu khi ôm bó bông súng còn ế lại… Xấp tiền lẻ ít ỏi được cất cẩn thận sau mấy lần giấy bọc, mấy lần dây thun buộc… Bó bông súng ấy chắc là kết quả cả buổi lặn lội của ông lão ở một đầm nước, một bãi sông nào đó. Tấm lưng còng còng sau lần áo sờn bạc kia chắc phải cõng cả một gia đình vất vả. Gương mặt lam lũ sạm đen buồn bã ấy chắc ẩn giấu bao nhiêu lo nghĩ về gánh nặng kinh tế của cả nhà… Tôi nhìn thấy từ ông bóng dáng bao nhiêu người thân yêu, ruột thịt của mình. Đó là ông bà nội, là các cô, các bác ở quê, những người cả đời tảo tần, lam lũ, gắn với ruộng đồng, không một ngày được thảnh thơi, được chơi bời đây đó, được thăm thú dọc ngang đất nước. Ông nội tôi, đến khi nhắm mắt, hai ngón tay trỏ trên hai bàn tay vẫn còn nguyên hai vòng vải vụn buộc chặt. Vì ông suốt đời ngồi đan những vật dụng bằng tre cho bà mang ra chợ làng bán, từ thúng mủng, rổ rá cho đến giần sàng, nong nia, những chiếc rế xinh xinh lót nồi hay những chiếc vỉ đập ruồi chỉ bé bằng bàn tay… Hai vòng vải vụn ấy buộc vào ngón tay, để cật tre sắc hay lưỡi dao không bén đứt tay. Ông được thay quần áo mới trước khi nhập quan, nhưng hai ngón tay vẫn nguyên hai vòng vải vụn… Bác dâu tôi cả đời ống quần vo xoắn trên đầu gối, cả đời có bùn bám nơi gót chân, như thể những mảng bùn ấy cũng là một phần cơ thể bác, có ở đó từ khi bác mới được sinh ra. Hôm bác mất, hai chị con gái bác múc nước rửa chân cho mẹ, cứ khóc ròng bên chậu nước và những mảng bùn khô…

Vào bữa, những đĩa bông súng, bông điên điển, bông so đũa tươi rói, đủ sắc màu bày biện rất khéo trên bàn ăn cứ mang đến cho tôi một cảm giác nghẹn ngào. Nghẹn ngào đến không thể nào nuốt nổi. Bóng dáng ông già khấp khểnh ôm bó bông súng đi bán lấy những đồng tiền lẻ cứ hiện lên mồn một. Những vệt bùn tươi nơi bắp chân ông… Vẻ mặt buồn bã khi ông ôm bó bông súng ế quay về… Đôi tay đen đúa và gầy guộc run run vuốt từng đồng tiền lẻ, cẩn thận cất kỹ như thể ông không định dùng đến nó mà chỉ để dành như giữ gìn báu vật… Nước đọng trên những cánh hoa long lanh như nước mắt; long lanh như những giọt mồ hôi. Bàn tay chai sần, đen đúa, vất vả nào đã ngắt những bông hoa này? Bàn chân nứt nẻ nào đã dầm bùn, tấm lưng cong, mái đầu bạc nào đã dãi nắng dãi sương, dãi mưa dãi gió để mang những bông súng, bông điên điển, bông so đũa, cọng lục bình… mơn mởn về đây? Trước bữa ăn ngon lành đến vậy mà sao lòng cứ day dứt thế?

Và ấn tượng miền Tây đọng lại sâu đậm nhất trong tôi chuyến ấy là bóng dáng ông già ôm bó bông súng ế buồn bã ra về bằng những bước chân chậm chạp. 

Việt Nga
(Hội VHNT Hải Dương)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 382

Ý Kiến bạn đọc