Tản văn

Một cái tên chợt thức…

 

Qua rồi cái thời “mỗi ngọn lá mỗi con người”, mọi nẻo rừng suốt ngày rung lên dưới sức nặng của những đoàn xe tải gỗ; giờ, thị trấn Ka Nát trở lại im ắng, đìu hiu như bao phố huyện miền sơn cước. Tôi lục trong tâm trí những cái tên một thời mình từng quen. Nhiều lắm, nhưng đã hơn 40 năm rồi, chẳng biết ai còn ai mất; ai ở lại, ai đã về quê… Dừng chân, tôi bất giác sửng sốt thấy mình đang đứng trước trụ sở Liên hiệp Kon Hà Nừng. Chẳng hiểu sự xui khiến nào đã đưa bước chân vô định của tôi tới nơi này? Ngồi trước căn nhà thấp tè, vách tô đá rửa mọc rêu đen kịn, xưa là nơi làm việc của tổng giám đốc một đơn vị kinh tế quân số có lúc xấp xỉ 1 vạn người, mang cái tên bề thế: “Xí nghiệp Liên hiệp Công – Nông – Lâm nghiệp Kon Hà Nừng”, tôi cố hồi tưởng cái ấn tượng lần đầu mình đặt chân tới miền đất này: những con đường hun hút đỏ ngầu bùn đất; những ngày mưa giam mình trong lán nghe gió chẻ vách thưa; những bữa cơm độn sắn với cá chuồn khô bên ánh lửa nhập nhọa… Đấy là năm 1985, còn trước đó thì…

Tháng 12/1976, đất nước vừa im tiếng súng chỉ mới hơn một năm, những người lính E 711, 576, 240… quân phục chưa nhạt mùi khói đạn đã nhận lệnh tiến quân về núi rừng Ka Nát (huyện K’Bang – Gia Lai) để làm nhiệm vụ phát triển kinh tế, với phiên hiệu Đoàn 332. “Ngày chúng tôi vào đây, rừng K’Bang hãy còn nguyên sơ…” – Ông Trương Văn Nhuần, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Đoàn 332 hồi tưởng. Con đường 669 có từ thời Pháp gai góc mọc đầy và cũng chỉ đến Ka Nát là hết. Các đơn vị phải tiếp tục tự mở lấy đường mà đi; gạo muối, quân dụng mọi thứ đều chất lên vai cõng như thời chiến. Mỗi tối phải đốt lên một đống lửa thật lớn để xua thú dữ và hơi giá của rừng già… Rừng K’Bang bấy giờ rất nhiều thú dữ, nhất là cọp. Cứ mỗi sáng mở cửa lại thấy dấu chân của chúng in đầy quanh lán. Tuy nhiên, cũng chẳng có nhiều thời gian để đôi hồi. Ổn định tạm chỗ ở, chúng tôi ngay lập tức bắt tay vào nhiệm vụ sản xuất lương thực, bấy giờ chủ yếu là sắn. Cơm độn sắn có khi đến 70%. Thực phẩm thì phổ biến là cá chuồn khô nhưng không phải lúc nào cũng có. Cả đến muối ăn gặp khi mưa nhiều, đường tắc cũng phải chịu nhạt… Rừng thiêng nước độc, ăn uống kham khổ, sốt rét bắt đầu hoành hành. Gần như không ai không bị sốt. Có tiểu đoàn cả 100% quân số đều sốt. Đến đơn vị nào cũng gặp những thân hình võ vàng co quắp trên sạp nứa… Thuốc men thiếu, đường sá ách tắc, tính mạng con người sống chết cứ mong manh như cọng rơm đeo đá, và thực sự không ít người phải chịu chết oan. Ở tiểu đoàn Vận tải có chuyện thương tâm thế này: Một chiến sĩ lên cơn sốt nhưng giữa trời đêm mưa gió, anh em không có cách nào đưa đi bệnh xá được. Để bạn cầm cự qua cơn chờ trời sáng, một chiến sĩ đã ôm bạn vào lòng để truyền thêm hơi ấm. Sáng thức dậy mới hay bạn đã chết tự bao giờ!

Sau hơn 2 năm mở đường, xây dựng cơ sở trong điều kiện gian khổ như thế, cuối năm 1978, Đoàn 332 mới chính thức làm nhiệm vụ kinh tế lâm nghiệp. Tuy nhiên, cuối năm 1979, Hội đồng Bộ trưởng lại có quyết định thành lập Liên hiệp Lâm – Nông – Công nghiệp. Từ đây Đoàn 332 mang phiên hiệu mới: “Liên hiệp Lâm – Nông – Công nghiệp Kon Hà Nừng”. Đây là một loại mô hình kinh tế mang từ Liên Xô về. Ở Gia Lai – Kon Tum, mô hình được áp dụng cho hai nơi: một ở Ka Nát và một ở Đăk Glei. Bấy giờ chúng ta đang chủ trương hợp tác toàn diện với Liên Xô, Liên hiệp Kon Hà Nừng do vậy sẽ được chọn hợp tác về lâm nghiệp. Để triển khai chủ trương này, 50% lực lượng xe máy của Quân khu V, 3.000 lao động và cán bộ kĩ thuật – chủ yếu là từ các tỉnh phía Bắc được bổ sung thêm cho Liên hiệp. Một đoàn cán bộ kĩ thuật, chuyên gia của Liên Xô cùng đã sang khảo sát… Nhưng rồi chẳng hiểu sao mọi việc chỉ dừng ở đó. Liên hiệp chủ yếu vẫn làm nhiệm vụ khai thác gỗ và tu bổ rừng theo cơ chế bao cấp. Vậy là lại tiếp diễn những ngày cơm độn, cá khô; tiếp diễn tình cảnh thiếu từ miếng xà phòng giặt, hạt muối; tiếp diễn những cơn sốt và những cái chết vì sốt rét… Cho đến nay số người hy sinh vẫn chưa được thống kê chính xác nhưng theo ước đoán của ông Nhuần thì cũng gần trăm. Chỉ riêng căn bệnh sốt rét, trong khoảng thời gian từ 1977 đến 1983, đã có gần 40 người chết… Thực ra thì trong hoàn cảnh bấy giờ người chết vì sốt rét, các bệnh tật khác và tai nạn gần như ở đơn vị nào đứng chân ở vùng sâu vùng xa cũng xảy ra. Đáng nói là có những cái chết nghe cứ thật phi lý và tức tưởi… Thượng úy Phạm Ngọc Tường, Đội trưởng Đội Khảo sát, trong một lần đi điều tra rừng bị vướng bẫy thò của đồng bào. Vết thương chỉ vào phần mềm ở đùi, thế nhưng bởi đường xa, phương tiện không có đành chịu chết trên vai đồng đội vì mất máu… Anh Bảng, cán bộ quản lý Trung đoàn bộ 713, một chiều ngồi uống nước với anh em dưới gốc cây, bất thần bị một cành khô rơi trúng đầu không kịp cấp cứu… Anh Bàn, Giám đốc Lâm trường 7, đã về quê mà căn bệnh sốt rét vẫn còn bám theo quật ngã. Cũng tại lâm trường này, anh Thọ trên chuyến xe đi khảo sát công trường đã bị cây nứa chìa ra bên đường đâm suốt qua người… Có một cái chết mà bây giờ nhắc tới, người cũ ai cũng ngậm ngùi: anh Châu Phúc Thành ở Công ty Lâm nghiệp Kroong, lấy vợ đã 3 năm vẫn chưa có con. Thấy chồng cứ biền biệt xứ rừng, chị Vũ Thị Tý đã lặn lội từ Thái Bình vào thăm. Buồn thay, niềm mong mỏi có được đứa con chưa tới thì chị bị sốt rét ác tính. Đi thăm chồng, ai ngờ chị lại đến đất này để vĩnh biệt chồng, vĩnh biệt người thân… Nhớ một lần, nhân lúc nhắc chuyện cũ với các cựu binh Đoàn 332, một vị hỏi tôi: “Anh có biết Lâm trường 10 không?”. Tôi ngơ ngác bởi Liên hiệp Kon Hà Nừng chỉ có 9 lâm trường? Hiểu ra thì đấy là nghĩa trang của Liên hiệp. Giám đốc, phó giám đốc, kế toán, bộ khung cán bộ hoàn chỉnh cho một lâm trường đã nằm trọn trong nghĩa trang này. Câu nói đùa mà lòng nghe nặng trĩu…

So-627--Anh-minh-hoa---Mot-cai-ten-chot-thuc---Anh-1

*
Tháng 11/1995, theo quyết định của Bộ Lâm nghiệp, Đoàn 332 – Liên hiệp Kon Hà Nừng giải thể. Chín lâm trường được bàn giao lại cho tỉnh Gia Lai quản lý. Đất nước đổi mới, cái mô hình kinh tế nghe to tát và kỳ vọng là thế bỗng chốc rơi vào khủng hoảng. Ngồi trò chuyện với anh Lân trong trụ sở xưa của Liên hiệp giờ là “Công ty Lâm sản” vắng như một căn nhà nguyện, lòng tôi chợt buồn. Hàng ngàn nam, nữ thanh niên nuôi ước mơ đến vùng đất này gieo mầm tình yêu, lập nghiệp, bây giờ đã đi về đâu? Nhớ có lần tình cờ ngang qua dãy lán của công nhân nữ Lâm trường Hà Nừng, trên cánh cửa một dòng chữ viết bằng phấn tình cờ đập vào mắt tôi: “Sinh nhật lần thứ 30 của cuộc đời. Mẹ ơi, tình yêu của con ở đâu?”. Lúc đó anh Lân có nói với tôi rằng trong số 250 công nhân của lâm trường này đã có đến 163 là nữ. Rất nhiều người chưa lập được gia đình… Dòng chữ vô tình kia bây giờ bỗng day dứt trong tôi. Vậy là trưa hôm đó tôi quyết định trở lại chốn xưa dẫu biết rong ruổi một mình bằng chiếc xe máy cà tàng trên con đường hun hút những đèo dốc và những cơn mưa bất chợt có thể đến bất cứ lúc nào là có phần mạo hiểm…

Ngoại trừ cái trụ sở cũ kĩ là vẫn còn khá nguyên vẹn, Hà Nừng bây giờ đã rất khác xưa. Một ốc đảo cà phê đã nhô lên xanh ngắt giữa vành đai rừng già bao bọc… Anh Hà – Phó giám đốc lâm trường khi nghe tôi nói mục đích của chuyến đi thì tỏ ra sốt sắng: “Được rồi. Ngay bây giờ tôi sẽ dẫn anh đến thăm những “nữ anh hùng” ấy của chúng tôi…”.

Nhà chị Hà nằm kẹp giữa những dãy quán xộc xệch, treo lủng lẳng đủ các thứ “tả pí lù” mà ta hay bắt gặp ở những vùng thôn quê heo hút. Thấy lãnh đạo cùng đi với hai người đàn ông ghé vào hỏi “chuyện nhạy cảm”, các bà bán hàng í ới gọi chị Hà với nụ cười đầy ẩn ý. Chị cũng nhìn chúng tôi bằng ánh mắt ngỡ ngàng. Chúng tôi không nói mình là ai nhưng rồi qua vài câu trao đổi, chị cũng hiểu những ông khách này muốn gì. Vậy là chị kể… Ngày mới đến đất này công nhân phần lớn mới học xong phổ thông, vô tư lắm, ngây thơ lắm. So với mọi người thì chị nhỉnh tuổi hơn chút bởi trước đó đã đi bộ đội 4 năm. Cứ 8 người được khoán chăm sóc một khoảnh rừng 10ha. Để kịp công việc, họ dựng lán ăn, ngủ tại chỗ. Khi nào xong việc lại dời đi chỗ khác. Rừng đầy tiếng cười con gái nhưng không một tiếng đáp vọng của con trai… Thời gian cứ lạnh lùng trôi qua từng mùa rừng thay lá. Đến khi Liên hiệp giải thể thì gần 40 chị đã phải đứng ngoài sự sắp đặt của tạo hóa. Nhiều người tìm đường về quê nhưng các chị vẫn cố trụ lại, níu kéo một niềm hy vọng mong manh. Buồn thay, nghề rừng ngày càng sa sút, công việc ít dần rồi các chị rơi vào thất nghiệp. Cũng may là ông giám đốc trước đó biết lo xa đã đưa cây cà phê về. Khá lên được mấy vụ thì lại rơi vào mất giá… Nói cho đúng, cái ăn ở chốn đất đai còn rộng rãi này không thành vấn đề cho lắm. Điều quan trọng với các chị là một bên cuộc đời vẫn quạnh vắng, lẻ loi…

Phải đắn đo, dằn vặt lắm chị Hà mới đi tới quyết định xin một đứa con. Năm đó chị đã 37 tuổi. Nỗi đau sinh nở không người đàn ông, không họ hàng thân thích giữa chốn rừng núi heo hút cũng nặng nề như núi. Sinh con được 3 tháng thì chị lại phải đi nằm viện. Cháu bé đành gửi cho bạn bè nuôi hộ. Vốn liếng ít ỏi dành được bao năm hết sạch. Thế nhưng, bệnh tình từ đó vẫn chưa buông tha chị. Cô bé nay đã đi học. Phải chắt chiu làm sao để hết bậc tiểu học còn phải gửi cháu ra thị trấn học cấp 2. Nỗi lo xa tuy vậy cũng chưa bằng nỗi lo gần. Không có đàn ông, việc đơn giản như bơm thuốc sâu cho cà phê cũng phải thuê người. Căn nhà chị ở cũng đã phải dùng cây chống ngang chống dọc như hầm lò khai thác than rồi…

Như một sự xui đẩy của số phận, 4 chị có hoàn cảnh tương tự cùng ở chung một xóm… Qua trạm y tế rẽ phải là nhà chị Hỉ, rẽ trái là nhà chị Bình, sau nữa là nhà chị Thứ… Chị Hỉ quê tận Cao Bằng, học Trung cấp Lâm nghiệp, về lâm trường năm 1983. So với chị Hà kinh tế chị Hỉ khá hơn. Chị đã sắm được các thứ tiện nghi cần thiết – và cả “chuyện ấy” chị cũng lo sớm nên bây giờ đỡ vất vả. Cô bé của chị đã vào học lớp 10 nhưng ở ngoài quê với ông bà chứ không theo mẹ vào đây… Thời con gái chị Hỉ chắc đẹp. Khuôn mặt võ vàng bởi tuổi tác và lo toan vẫn không che hết nét duyên. Chị ngậm ngùi kể: Đã không lấy được chồng, phải xin người ta đứa con mà cũng chẳng được yên. “Sư tử Hà Đông” của người ấy gây chuyện, dọa đánh mấy lần, lâm trường phải đứng ra can thiệp. Gửi con cho ông bà nuôi, chị phải cố nuốt nước mắt vào lòng. Chị muốn giấu con, không để tâm hồn thơ dại của con bị tổn thương. Kiếm một đứa con cho đỡ hiu quạnh, rốt cục lại vẫn một thân quạnh hiu. Chị đã hai lần trúng gió suýt chết mà không ai biết. Quả thật, con người ta trăm thứ tội chẳng tội nào bằng cô đơn…

Mỗi người một nỗi bất hạnh. Thế nhưng, trò chuyện với chị Bình, ngẫm chị có lẽ là người bất hạnh nhất dù chị vẫn coi mình thuộc diện có chồng… Chị Bình quê ở Nghệ An, từng đi Thanh niên xung phong 4 năm chống Mỹ. Trở về quê, chị có một mối tình nhưng không toại nguyện. Đi lâm trường với hy vọng sẽ có một cuộc sống khác, vui và ý nghĩa hơn, đâu biết vào chốn này hạnh phúc lại càng xa hơn với chị. Là đảng viên, chị không thể “liều” như các chị em khác. Mãi đến khi “cơ chế” cho phép thì chị đã luống tuổi rồi. Giữa chốn rừng sâu núi thẳm này không thể trơ một thân mình, không kiếm được con thì tìm bạn, chị đành gá nghĩa với “người ấy” dù nhỏ hơn chị 10 tuổi và đã có 4 con…

Từ Lâm trường Hà Nừng vào Lâm trường Đắk Roong phải thêm 15km đường rừng nữa. Tôi chưa đến đây bao giờ nhưng cũng đã nghe nhiều lời đồn đại, rằng hồi đó Đắk Roong là một trong những lâm trường có nhiều con gái nhất. Ở nơi thâm sơn cùng cốc đừng nói kiếm chồng mà chọn người để xin đứa con thôi cũng khó. Người ta nói có những người đàn ông lạ, khỏe mạnh vào chốn này đã bị chị em chủ động nắm tay xin con… Thực hư chẳng rõ nhưng hoàn cảnh thời ấy khiến tôi không dám bác rằng đây là chuyện không có thật…

Cái xóm không tên ấy nằm cạnh đường cái, cách lâm trường bộ chỉ non cây số. Nghe kể ngày xưa đã có một làng đồng bào Bah Nar ở đây, nhưng người ta không ở hướng bên suối. Họ bảo làm nhà hướng đó sẽ gặp bất hạnh. Quả là cả 4 chị làm nhà trên dãy đất ấy đều gặp chuyện không may. Nhà đầu và nhà cuối thì chồng chết. Hai nhà ở giữa thì đều quá lứa lỡ thì và lại trùng tên nhau: Tị. Vì thế để phân biệt, người ta vẫn gọi kèm định danh “lớn” và “bé”… Tôi chẳng tin lời nguyền nhuốm màu thần bí ấy, chỉ quan tâm đến nỗi bất hạnh có thật của các chị do hoàn cảnh gây nên… Đang nấu cơm chiều, Tị “bé” sững sờ khi thấy xuất hiện hai ông khách như trên trời rơi xuống. Thấy người lạ, mấy người xóm bên cũng tò mò kéo sang. Họ làm chúng tôi bối rối. Mãi khi biết khách đến vì công việc họ mới chịu bỏ đi…

Tình cảnh các chị ngày trước cũng như hiện tại chẳng mấy khác Hà Nừng. Từ cái cớ để bày tỏ sự thông cảm ấy, dần dần Tị “bé” kể cho chúng tôi nghe những nỗi sâu kín của lòng mình… Hóa ra các chị đây đều quê Thạch Hà (Hà Tĩnh). Con gái nhà quê vốn đã nhút nhát, vụng về. Đến khi làm cái việc bất đắc dĩ là kiếm đứa con làm chỗ dựa cho cuộc đời nghe cũng vụng về, thương đến rơi nước mắt…

Có chị bắt người đàn ông của mình làm giấy cam đoan khi có thai rồi thì không được đến nữa. Có chị không biết đến cả những điều sơ đẳng khi thành một người đàn bà đến nỗi có thai đến tháng thứ sáu mà cũng không biết; ốm nghén mà cứ nghĩ mình sốt rét nên tương ký ninh đến rạc cả người, đến khi bị đưa đi viện mới hay. Ngược lại, có chị thì cả tin đến mức “vỡ kế hoạch” đến đứa thứ ba… Thế nhưng, dường như là “trời sinh trời dưỡng”, các chị rồi cũng làm mẹ trót lọt được cả. Tội nhất chỉ còn Tị “lớn” là trơ trọi một mình…

Trò chuyện với Tị “bé” một lúc rồi chúng tôi sang thăm Tị “lớn”. Đúng như tên gọi, Tị “lớn” cao lớn, thân hình chắc lẵn, đôi mắt còn lúng liếng đầy tinh nghịch. Giá không có những sợi tóc hoa râm rũ xuống trán, hẳn người ta sẽ nghĩ chị chưa đầy tuổi 40… Thấy chúng tôi, chị chạy vội vào nhà trong, mặc cho Tị “nhỏ” nằng nặc kêu chị ra tiếp khách. Ở buồng trong chị cứ rúc rích cười với những cử chỉ y hệt như cô gái có bạn trai đến ngỏ lời… Tị “nhỏ” rỉ tai tôi: “Tội nghiệp, chẳng hiểu sao trời lại bắt tội chị, không cho chị đậu nổi một đứa con mà nuôi cho đỡ quạnh thân già…”.

Lúc chúng tôi ra về thì xảy ra một chuyện tức cười: Số là có hai anh chàng đi bán võng dạo thấy trời sắp tối, áng chừng không về kịp nên ghé vào xin ngủ nhờ. Chị Tị từ chối quyết liệt nhưng hai người không hiểu, đưa cả chứng minh thư ra để trình rồi năn nỉ chỉ xin mắc võng ngoài hiên cũng được… Tị “nhỏ” đã bế con về từ lúc nào. Nhìn sang, tôi thấy chị cứ lấp ló ánh mắt nơi cửa sổ. Có lẽ chị đang bí mật dõi xem có ông khách nào có dấu hiệu “đáng mừng” với bạn mình không? Cử chỉ đó khiến lòng tôi thắt lại…

*
Tôi lại tìm đến ông Trương Văn Nhuần. Nhà ông vẫn còn chỗ cũ và dù sức khỏe giảm sút, ông vẫn không có ý định rời đất K’Bang. Điều đáng quý hơn là dù sau này được biệt phái sang làm chủ tịch huyện cho đến lúc nghỉ hưu, cái tình của ông đối với đơn vị cũ vẫn nguyên vẹn. Chính ông là người công đầu trong việc chạy vạy xin lại trụ sở cũ của Liên hiệp để làm nhà lưu niệm. Với ông, có mặt tại miền đất này trước ngày huyện K’Bang thành lập 9 năm, chính Đoàn 332 – Liên hiệp Kon Hà Nừng chứ không ai khác đã khai mở những nền móng cơ sở hạ tầng ban đầu cho huyện – từ hệ thống giao thông, giáo dục đến y tế… Nhưng điều có ý nghĩa hơn cả là hàng ngàn lao động có trình độ văn hóa, hàng trăm cán bộ khoa học kĩ thuật – trong đó có cả học vị phó tiến sĩ, “của hiếm” lúc đó – được đưa tới khai mở miền đất này. Cả Tây Nguyên lúc ấy không đâu có được nguồn nhân lực quý giá như thế. Từ họ, nghề rừng được bắt đầu một cách bài bản, khoa học. Những nghề mới, những cây trồng mới được đưa tới đã góp phần nâng cao đời sống và dân trí đồng bào dân tộc… “Ông có công nhận với tôi nếu không có Đoàn 332 thì có lẽ không có huyện K’Bang như bây giờ không?” – Ông Nhuần hỏi. Điều này thì ai có thể phủ nhận được. Họ chỉ nhận về mình có chăng là sự hy sinh, mất mát. Không chỉ hiện hữu, còn bao nhiêu mất mát, hy sinh thầm lặng vẫn day dứt cho đến bây giờ…

Rừng K’Bang có một loại cây rất đặc trưng – đó là “thông nàng”. Giữa sắc xanh đại ngàn, thông nàng như một sự điểm tô hữu ý: thân mọc thẳng, vút lên tưởng chấm trời xanh; suốt năm tháng cứ vi vu một khúc nhạc rừng man mác. Ai đã đặt tên cho thông nàng và cái tên ấy có từ bao giờ? Chẳng ai biết! Bao nhiêu người đã nằm lại đất này, bao nhiêu người đã gửi lại rừng một đời con gái – phải chăng họ đã hóa thân vào dáng thông nàng với thông điệp – rằng họ đã không sống một cuộc đời vô ích…

K’Bang, 20/8/2020

Ngọc Tấn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 627

Qua rồi cái thời “mỗi ngọn lá mỗi con người”, mọi nẻo rừng suốt ngày rung lên dưới sức nặng của những đoàn xe tải gỗ; giờ, thị trấn Ka Nát trở lại im ắng, đìu hiu như bao phố huyện miền sơn cước. Tôi lục trong tâm trí những cái tên một thời mình từng quen. Nhiều lắm, nhưng đã hơn 40 năm rồi, chẳng biết ai còn ai mất; ai ở lại, ai đã về quê… Dừng chân, tôi bất giác sửng sốt thấy mình đang đứng trước trụ sở Liên hiệp Kon Hà Nừng. Chẳng hiểu sự xui khiến nào đã đưa bước chân vô định của tôi tới nơi này? Ngồi trước căn nhà thấp tè, vách tô đá rửa mọc rêu đen kịn, xưa là nơi làm việc của tổng giám đốc một đơn vị kinh tế quân số có lúc xấp xỉ 1 vạn người, mang cái tên bề thế: “Xí nghiệp Liên hiệp Công – Nông – Lâm nghiệp Kon Hà Nừng”, tôi cố hồi tưởng cái ấn tượng lần đầu mình đặt chân tới miền đất này: những con đường hun hút đỏ ngầu bùn đất; những ngày mưa giam mình trong lán nghe gió chẻ vách thưa; những bữa cơm độn sắn với cá chuồn khô bên ánh lửa nhập nhọa… Đấy là năm 1985, còn trước đó thì… Tháng 12/1976, đất nước vừa im tiếng súng chỉ mới hơn một năm, những người lính E 711, 576, 240… quân phục chưa nhạt mùi khói đạn đã nhận lệnh tiến quân về núi rừng Ka Nát (huyện K’Bang – Gia Lai) để làm nhiệm vụ phát triển kinh tế, với phiên hiệu Đoàn 332. “Ngày chúng tôi vào đây, rừng K’Bang hãy còn nguyên sơ…” – Ông Trương Văn Nhuần, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Đoàn 332 hồi tưởng. Con đường 669 có từ thời Pháp gai góc mọc đầy và cũng chỉ đến Ka Nát là hết. Các đơn vị phải tiếp tục tự mở lấy đường mà đi; gạo muối, quân dụng mọi thứ đều chất lên vai cõng như thời chiến. Mỗi tối phải đốt lên một đống lửa thật lớn để xua thú dữ và hơi giá của rừng già… Rừng K’Bang bấy giờ rất nhiều thú dữ, nhất là cọp. Cứ mỗi sáng mở cửa lại thấy dấu chân của chúng in đầy quanh lán. Tuy nhiên, cũng chẳng có nhiều thời gian để đôi hồi. Ổn định tạm chỗ ở, chúng tôi ngay lập tức bắt tay vào nhiệm vụ sản xuất lương thực, bấy giờ chủ yếu là sắn. Cơm độn sắn có khi đến 70%. Thực phẩm thì phổ biến là cá chuồn khô nhưng không phải lúc nào cũng có. Cả đến muối ăn gặp khi mưa nhiều, đường tắc cũng phải chịu nhạt… Rừng thiêng nước độc, ăn uống kham khổ, sốt rét bắt đầu hoành hành. Gần như không ai không bị sốt. Có tiểu đoàn cả 100% quân số đều sốt. Đến đơn vị nào cũng gặp những thân hình võ vàng co quắp trên sạp nứa… Thuốc men thiếu, đường sá ách tắc, tính mạng con người sống chết cứ mong manh như cọng rơm đeo đá, và thực sự không ít người phải chịu chết oan. Ở tiểu đoàn Vận tải có chuyện thương tâm thế này: Một chiến sĩ lên cơn sốt nhưng giữa trời đêm mưa gió, anh em không có cách nào đưa đi bệnh xá được. Để bạn cầm cự qua cơn chờ trời sáng, một chiến sĩ đã ôm bạn vào lòng để truyền thêm hơi ấm. Sáng thức dậy mới hay bạn đã chết tự bao giờ!Sau hơn 2 năm mở đường, xây dựng cơ sở trong điều kiện gian khổ như thế, cuối năm 1978, Đoàn 332 mới chính thức làm nhiệm vụ kinh tế lâm nghiệp. Tuy nhiên, cuối năm 1979, Hội đồng Bộ trưởng lại có quyết định thành lập Liên hiệp Lâm – Nông – Công nghiệp. Từ đây Đoàn 332 mang phiên hiệu mới: “Liên hiệp Lâm – Nông – Công nghiệp Kon Hà Nừng”. Đây là một loại mô hình kinh tế mang từ Liên Xô về. Ở Gia Lai – Kon Tum, mô hình được áp dụng cho hai nơi: một ở Ka Nát và một ở Đăk Glei. Bấy giờ chúng ta đang chủ trương hợp tác toàn diện với Liên Xô, Liên hiệp Kon Hà Nừng do vậy sẽ được chọn hợp tác về lâm nghiệp. Để triển khai chủ trương này, 50% lực lượng xe máy của Quân khu V, 3.000 lao động và cán bộ kĩ thuật – chủ yếu là từ các tỉnh phía Bắc được bổ sung thêm cho Liên hiệp. Một đoàn cán bộ kĩ thuật, chuyên gia của Liên Xô cùng đã sang khảo sát… Nhưng rồi chẳng hiểu sao mọi việc chỉ dừng ở đó. Liên hiệp chủ yếu vẫn làm nhiệm vụ khai thác gỗ và tu bổ rừng theo cơ chế bao cấp. Vậy là lại tiếp diễn những ngày cơm độn, cá khô; tiếp diễn tình cảnh thiếu từ miếng xà phòng giặt, hạt muối; tiếp diễn những cơn sốt và những cái chết vì sốt rét… Cho đến nay số người hy sinh vẫn chưa được thống kê chính xác nhưng theo ước đoán của ông Nhuần thì cũng gần trăm. Chỉ riêng căn bệnh sốt rét, trong khoảng thời gian từ 1977 đến 1983, đã có gần 40 người chết… Thực ra thì trong hoàn cảnh bấy giờ người chết vì sốt rét, các bệnh tật khác và tai nạn gần như ở đơn vị nào đứng chân ở vùng sâu vùng xa cũng xảy ra. Đáng nói là có những cái chết nghe cứ thật phi lý và tức tưởi… Thượng úy Phạm Ngọc Tường, Đội trưởng Đội Khảo sát, trong một lần đi điều tra rừng bị vướng bẫy thò của đồng bào. Vết thương chỉ vào phần mềm ở đùi, thế nhưng bởi đường xa, phương tiện không có đành chịu chết trên vai đồng đội vì mất máu… Anh Bảng, cán bộ quản lý Trung đoàn bộ 713, một chiều ngồi uống nước với anh em dưới gốc cây, bất thần bị một cành khô rơi trúng đầu không kịp cấp cứu… Anh Bàn, Giám đốc Lâm trường 7, đã về quê mà căn bệnh sốt rét vẫn còn bám theo quật ngã. Cũng tại lâm trường này, anh Thọ trên chuyến xe đi khảo sát công trường đã bị cây nứa chìa ra bên đường đâm suốt qua người… Có một cái chết mà bây giờ nhắc tới, người cũ ai cũng ngậm ngùi: anh Châu Phúc Thành ở Công ty Lâm nghiệp Kroong, lấy vợ đã 3 năm vẫn chưa có con. Thấy chồng cứ biền biệt xứ rừng, chị Vũ Thị Tý đã lặn lội từ Thái Bình vào thăm. Buồn thay, niềm mong mỏi có được đứa con chưa tới thì chị bị sốt rét ác tính. Đi thăm chồng, ai ngờ chị lại đến đất này để vĩnh biệt chồng, vĩnh biệt người thân… Nhớ một lần, nhân lúc nhắc chuyện cũ với các cựu binh Đoàn 332, một vị hỏi tôi: “Anh có biết Lâm trường 10 không?”. Tôi ngơ ngác bởi Liên hiệp Kon Hà Nừng chỉ có 9 lâm trường? Hiểu ra thì đấy là nghĩa trang của Liên hiệp. Giám đốc, phó giám đốc, kế toán, bộ khung cán bộ hoàn chỉnh cho một lâm trường đã nằm trọn trong nghĩa trang này. Câu nói đùa mà lòng nghe nặng trĩu…
lTháng 11/1995, theo quyết định của Bộ Lâm nghiệp, Đoàn 332 – Liên hiệp Kon Hà Nừng giải thể. Chín lâm trường được bàn giao lại cho tỉnh Gia Lai quản lý. Đất nước đổi mới, cái mô hình kinh tế nghe to tát và kỳ vọng là thế bỗng chốc rơi vào khủng hoảng. Ngồi trò chuyện với anh Lân trong trụ sở xưa của Liên hiệp giờ là “Công ty Lâm sản” vắng như một căn nhà nguyện, lòng tôi chợt buồn. Hàng ngàn nam, nữ thanh niên nuôi ước mơ đến vùng đất này gieo mầm tình yêu, lập nghiệp, bây giờ đã đi về đâu? Nhớ có lần tình cờ ngang qua dãy lán của công nhân nữ Lâm trường Hà Nừng, trên cánh cửa một dòng chữ viết bằng phấn tình cờ đập vào mắt tôi: “Sinh nhật lần thứ 30 của cuộc đời. Mẹ ơi, tình yêu của con ở đâu?”. Lúc đó anh Lân có nói với tôi rằng trong số 250 công nhân của lâm trường này đã có đến 163 là nữ. Rất nhiều người chưa lập được gia đình… Dòng chữ vô tình kia bây giờ bỗng day dứt trong tôi. Vậy là trưa hôm đó tôi quyết định trở lại chốn xưa dẫu biết rong ruổi một mình bằng chiếc xe máy cà tàng trên con đường hun hút những đèo dốc và những cơn mưa bất chợt có thể đến bất cứ lúc nào là có phần mạo hiểm…Ngoại trừ cái trụ sở cũ kĩ là vẫn còn khá nguyên vẹn, Hà Nừng bây giờ đã rất khác xưa. Một ốc đảo cà phê đã nhô lên xanh ngắt giữa vành đai rừng già bao bọc… Anh Hà – Phó giám đốc lâm trường khi nghe tôi nói mục đích của chuyến đi thì tỏ ra sốt sắng: “Được rồi. Ngay bây giờ tôi sẽ dẫn anh đến thăm những “nữ anh hùng” ấy của chúng tôi…”.Nhà chị Hà nằm kẹp giữa những dãy quán xộc xệch, treo lủng lẳng đủ các thứ “tả pí lù” mà ta hay bắt gặp ở những vùng thôn quê heo hút. Thấy lãnh đạo cùng đi với hai người đàn ông ghé vào hỏi “chuyện nhạy cảm”, các bà bán hàng í ới gọi chị Hà với nụ cười đầy ẩn ý. Chị cũng nhìn chúng tôi bằng ánh mắt ngỡ ngàng. Chúng tôi không nói mình là ai nhưng rồi qua vài câu trao đổi, chị cũng hiểu những ông khách này muốn gì. Vậy là chị kể… Ngày mới đến đất này công nhân phần lớn mới học xong phổ thông, vô tư lắm, ngây thơ lắm. So với mọi người thì chị nhỉnh tuổi hơn chút bởi trước đó đã đi bộ đội 4 năm. Cứ 8 người được khoán chăm sóc một khoảnh rừng 10ha. Để kịp công việc, họ dựng lán ăn, ngủ tại chỗ. Khi nào xong việc lại dời đi chỗ khác. Rừng đầy tiếng cười con gái nhưng không một tiếng đáp vọng của con trai… Thời gian cứ lạnh lùng trôi qua từng mùa rừng thay lá. Đến khi Liên hiệp giải thể thì gần 40 chị đã phải đứng ngoài sự sắp đặt của tạo hóa. Nhiều người tìm đường về quê nhưng các chị vẫn cố trụ lại, níu kéo một niềm hy vọng mong manh. Buồn thay, nghề rừng ngày càng sa sút, công việc ít dần rồi các chị rơi vào thất nghiệp. Cũng may là ông giám đốc trước đó biết lo xa đã đưa cây cà phê về. Khá lên được mấy vụ thì lại rơi vào mất giá… Nói cho đúng, cái ăn ở chốn đất đai còn rộng rãi này không thành vấn đề cho lắm. Điều quan trọng với các chị là một bên cuộc đời vẫn quạnh vắng, lẻ loi…Phải đắn đo, dằn vặt lắm chị Hà mới đi tới quyết định xin một đứa con. Năm đó chị đã 37 tuổi. Nỗi đau sinh nở không người đàn ông, không họ hàng thân thích giữa chốn rừng núi heo hút cũng nặng nề như núi. Sinh con được 3 tháng thì chị lại phải đi nằm viện. Cháu bé đành gửi cho bạn bè nuôi hộ. Vốn liếng ít ỏi dành được bao năm hết sạch. Thế nhưng, bệnh tình từ đó vẫn chưa buông tha chị. Cô bé nay đã đi học. Phải chắt chiu làm sao để hết bậc tiểu học còn phải gửi cháu ra thị trấn học cấp 2. Nỗi lo xa tuy vậy cũng chưa bằng nỗi lo gần. Không có đàn ông, việc đơn giản như bơm thuốc sâu cho cà phê cũng phải thuê người. Căn nhà chị ở cũng đã phải dùng cây chống ngang chống dọc như hầm lò khai thác than rồi…Như một sự xui đẩy của số phận, 4 chị có hoàn cảnh tương tự cùng ở chung một xóm… Qua trạm y tế rẽ phải là nhà chị Hỉ, rẽ trái là nhà chị Bình, sau nữa là nhà chị Thứ… Chị Hỉ quê tận Cao Bằng, học Trung cấp Lâm nghiệp, về lâm trường năm 1983. So với chị Hà kinh tế chị Hỉ khá hơn. Chị đã sắm được các thứ tiện nghi cần thiết – và cả “chuyện ấy” chị cũng lo sớm nên bây giờ đỡ vất vả. Cô bé của chị đã vào học lớp 10 nhưng ở ngoài quê với ông bà chứ không theo mẹ vào đây… Thời con gái chị Hỉ chắc đẹp. Khuôn mặt võ vàng bởi tuổi tác và lo toan vẫn không che hết nét duyên. Chị ngậm ngùi kể: Đã không lấy được chồng, phải xin người ta đứa con mà cũng chẳng được yên. “Sư tử Hà Đông” của người ấy gây chuyện, dọa đánh mấy lần, lâm trường phải đứng ra can thiệp. Gửi con cho ông bà nuôi, chị phải cố nuốt nước mắt vào lòng. Chị muốn giấu con, không để tâm hồn thơ dại của con bị tổn thương. Kiếm một đứa con cho đỡ hiu quạnh, rốt cục lại vẫn một thân quạnh hiu. Chị đã hai lần trúng gió suýt chết mà không ai biết. Quả thật, con người ta trăm thứ tội chẳng tội nào bằng cô đơn…Mỗi người một nỗi bất hạnh. Thế nhưng, trò chuyện với chị Bình, ngẫm chị có lẽ là người bất hạnh nhất dù chị vẫn coi mình thuộc diện có chồng… Chị Bình quê ở Nghệ An, từng đi Thanh niên xung phong 4 năm chống Mỹ. Trở về quê, chị có một mối tình nhưng không toại nguyện. Đi lâm trường với hy vọng sẽ có một cuộc sống khác, vui và ý nghĩa hơn, đâu biết vào chốn này hạnh phúc lại càng xa hơn với chị. Là đảng viên, chị không thể “liều” như các chị em khác. Mãi đến khi “cơ chế” cho phép thì chị đã luống tuổi rồi. Giữa chốn rừng sâu núi thẳm này không thể trơ một thân mình, không kiếm được con thì tìm bạn, chị đành gá nghĩa với “người ấy” dù nhỏ hơn chị 10 tuổi và đã có 4 con…Từ Lâm trường Hà Nừng vào Lâm trường Đắk Roong phải thêm 15km đường rừng nữa. Tôi chưa đến đây bao giờ nhưng cũng đã nghe nhiều lời đồn đại, rằng hồi đó Đắk Roong là một trong những lâm trường có nhiều con gái nhất. Ở nơi thâm sơn cùng cốc đừng nói kiếm chồng mà chọn người để xin đứa con thôi cũng khó. Người ta nói có những người đàn ông lạ, khỏe mạnh vào chốn này đã bị chị em chủ động nắm tay xin con… Thực hư chẳng rõ nhưng hoàn cảnh thời ấy khiến tôi không dám bác rằng đây là chuyện không có thật…Cái xóm không tên ấy nằm cạnh đường cái, cách lâm trường bộ chỉ non cây số. Nghe kể ngày xưa đã có một làng đồng bào Bah Nar ở đây, nhưng người ta không ở hướng bên suối. Họ bảo làm nhà hướng đó sẽ gặp bất hạnh. Quả là cả 4 chị làm nhà trên dãy đất ấy đều gặp chuyện không may. Nhà đầu và nhà cuối thì chồng chết. Hai nhà ở giữa thì đều quá lứa lỡ thì và lại trùng tên nhau: Tị. Vì thế để phân biệt, người ta vẫn gọi kèm định danh “lớn” và “bé”… Tôi chẳng tin lời nguyền nhuốm màu thần bí ấy, chỉ quan tâm đến nỗi bất hạnh có thật của các chị do hoàn cảnh gây nên… Đang nấu cơm chiều, Tị “bé” sững sờ khi thấy xuất hiện hai ông khách như trên trời rơi xuống. Thấy người lạ, mấy người xóm bên cũng tò mò kéo sang. Họ làm chúng tôi bối rối. Mãi khi biết khách đến vì công việc họ mới chịu bỏ đi…Tình cảnh các chị ngày trước cũng như hiện tại chẳng mấy khác Hà Nừng. Từ cái cớ để bày tỏ sự thông cảm ấy, dần dần Tị “bé” kể cho chúng tôi nghe những nỗi sâu kín của lòng mình… Hóa ra các chị đây đều quê Thạch Hà (Hà Tĩnh). Con gái nhà quê vốn đã nhút nhát, vụng về. Đến khi làm cái việc bất đắc dĩ là kiếm đứa con làm chỗ dựa cho cuộc đời nghe cũng vụng về, thương đến rơi nước mắt…Có chị bắt người đàn ông của mình làm giấy cam đoan khi có thai rồi thì không được đến nữa. Có chị không biết đến cả những điều sơ đẳng khi thành một người đàn bà đến nỗi có thai đến tháng thứ sáu mà cũng không biết; ốm nghén mà cứ nghĩ mình sốt rét nên tương ký ninh đến rạc cả người, đến khi bị đưa đi viện mới hay. Ngược lại, có chị thì cả tin đến mức “vỡ kế hoạch” đến đứa thứ ba… Thế nhưng, dường như là “trời sinh trời dưỡng”, các chị rồi cũng làm mẹ trót lọt được cả. Tội nhất chỉ còn Tị “lớn” là trơ trọi một mình…Trò chuyện với Tị “bé” một lúc rồi chúng tôi sang thăm Tị “lớn”. Đúng như tên gọi, Tị “lớn” cao lớn, thân hình chắc lẵn, đôi mắt còn lúng liếng đầy tinh nghịch. Giá không có những sợi tóc hoa râm rũ xuống trán, hẳn người ta sẽ nghĩ chị chưa đầy tuổi 40… Thấy chúng tôi, chị chạy vội vào nhà trong, mặc cho Tị “nhỏ” nằng nặc kêu chị ra tiếp khách. Ở buồng trong chị cứ rúc rích cười với những cử chỉ y hệt như cô gái có bạn trai đến ngỏ lời… Tị “nhỏ” rỉ tai tôi: “Tội nghiệp, chẳng hiểu sao trời lại bắt tội chị, không cho chị đậu nổi một đứa con mà nuôi cho đỡ quạnh thân già…”.Lúc chúng tôi ra về thì xảy ra một chuyện tức cười: Số là có hai anh chàng đi bán võng dạo thấy trời sắp tối, áng chừng không về kịp nên ghé vào xin ngủ nhờ. Chị Tị từ chối quyết liệt nhưng hai người không hiểu, đưa cả chứng minh thư ra để trình rồi năn nỉ chỉ xin mắc võng ngoài hiên cũng được… Tị “nhỏ” đã bế con về từ lúc nào. Nhìn sang, tôi thấy chị cứ lấp ló ánh mắt nơi cửa sổ. Có lẽ chị đang bí mật dõi xem có ông khách nào có dấu hiệu “đáng mừng” với bạn mình không? Cử chỉ đó khiến lòng tôi thắt lại…
lTôi lại tìm đến ông Trương Văn Nhuần. Nhà ông vẫn còn chỗ cũ và dù sức khỏe giảm sút, ông vẫn không có ý định rời đất K’Bang. Điều đáng quý hơn là dù sau này được biệt phái sang làm chủ tịch huyện cho đến lúc nghỉ hưu, cái tình của ông đối với đơn vị cũ vẫn nguyên vẹn. Chính ông là người công đầu trong việc chạy vạy xin lại trụ sở cũ của Liên hiệp để làm nhà lưu niệm. Với ông, có mặt tại miền đất này trước ngày huyện K’Bang thành lập 9 năm, chính Đoàn 332 – Liên hiệp Kon Hà Nừng chứ không ai khác đã khai mở những nền móng cơ sở hạ tầng ban đầu cho huyện – từ hệ thống giao thông, giáo dục đến y tế… Nhưng điều có ý nghĩa hơn cả là hàng ngàn lao động có trình độ văn hóa, hàng trăm cán bộ khoa học kĩ thuật – trong đó có cả học vị phó tiến sĩ, “của hiếm” lúc đó – được đưa tới khai mở miền đất này. Cả Tây Nguyên lúc ấy không đâu có được nguồn nhân lực quý giá như thế. Từ họ, nghề rừng được bắt đầu một cách bài bản, khoa học. Những nghề mới, những cây trồng mới được đưa tới đã góp phần nâng cao đời sống và dân trí đồng bào dân tộc… “Ông có công nhận với tôi nếu không có Đoàn 332 thì có lẽ không có huyện K’Bang như bây giờ không?” – Ông Nhuần hỏi. Điều này thì ai có thể phủ nhận được. Họ chỉ nhận về mình có chăng là sự hy sinh, mất mát. Không chỉ hiện hữu, còn bao nhiêu mất mát, hy sinh thầm lặng vẫn day dứt cho đến bây giờ…  Rừng K’Bang có một loại cây rất đặc trưng – đó là “thông nàng”. Giữa sắc xanh đại ngàn, thông nàng như một sự điểm tô hữu ý: thân mọc thẳng, vút lên tưởng chấm trời xanh; suốt năm tháng cứ vi vu một khúc nhạc rừng man mác. Ai đã đặt tên cho thông nàng và cái tên ấy có từ bao giờ? Chẳng ai biết! Bao nhiêu người đã nằm lại đất này, bao nhiêu người đã gửi lại rừng một đời con gái – phải chăng họ đã hóa thân vào dáng thông nàng với thông điệp – rằng họ đã không sống một cuộc đời vô ích…
K’Bang, 20/8/2020 

Ý Kiến bạn đọc