Tản văn

Mộng cố hương

 

Khi những con số thống kê từ Bộ Y tế về dịch bệnh COVID-19 bắt đầu có thông tin về ca nhiễm ở quê nhà, tôi giật mình. Từ đó, những mối quan tôi của tôi chừng như cũng chuyển hướng về phía ấy, tìm kiếm địa danh xã, huyện nào có hộ gia đình đang bị cách ly. Rồi những cuộc gọi, nhắn tin báo người thân ở quê.

Mới vài hôm trước, tôi còn có ý định “về quê trốn dịch”. Gọi là “trốn” vì bị ám ảnh với tin tức thời sự mỗi ngày, mệt mỏi, thậm chí là stress khi đọc quá nhiều bài viết lên án, chỉ trích những phát ngôn, hành vi kém văn hóa của những người đang bị cách ly tập trung. Nhưng rồi, giờ đây lại chẳng dám về. Dù muốn dù không, tôi vẫn đang là một cá thể thuộc về thành phố của những ngày có hàng chục ngàn người Việt trở về nước, hàng loạt những hẻm nhỏ, hộ gia đình, chung cư bị phong tỏa. Có chắc chắn gì cho một đường về an toàn cho bản thân, cho cả cộng đồng ở làng quê cũng đang căng mình ra trong nỗi sợ hãi trước dịch bệnh.

Tôi rời quê nhà đã lâu, thành phố giờ là nơi chốn mình thuộc về như một công dân của phố. Nhưng có những lúc, nhìn quyển sổ hộ khẩu mang tên mình, với địa chỉ căn hộ mình đang sống, lại thấy chòng chành thương nhớ chốn quê xưa. Tâm hồn tôi hình như không thuộc về phố thị. Chốn cũ mãi ở lại trong tiềm thức như một dấu lặng của năm tháng. Cố hương – hai chữ này mỗi lần nhắc, lại thấy lòng mình chòng chành. Hóa ra, cho dù có đi đâu về đâu, lựa chọn nơi chốn nào để tiếp tục cuộc đời mình thì cố hương mãi mãi là cội nguồn, là nơi ký ức mình thuộc về, không bao giờ có thể quên được. Nơi ấy bây giờ, trên cánh đồng cỏ rạ, có những đứa cháu nhỏ của tôi, chúng như thế hệ của mẹ, của dì ngày trước. Mùa nghỉ học, chúng ra đống rơm xây nhà, chạy băng băng thả diều trên đồng chiều lộng gió. Chúng có khu vườn nhỏ sum suê cây trái, những hàng hoa khoe sắc sớm mai, chúng có bờ ao, bóng dừa, và những trò chơi tuổi nhỏ…

So-588--Anh-minh-hoa---Mong-co-huong---Anh-1

Những đứa trẻ đang tiếp tục tận hưởng một tuổi thơ lồng lộng như tôi đã từng. Chúng cũng như tôi ngày xưa, không biết lo lắng nhiều trước dịch bệnh, hồn nhiên xanh trong như lá non. Chỉ có người lớn là đang ra sức bảo vệ, giữ gìn. Thông tin về những trường hợp bị cách ly 14 ngày ở quê cũng được truyền tải nhanh như trên mạng. Mặc dù ca nhiễm bệnh đầu tiên gọi tên quê nhà đã được phát hiện, chẩn đoán và cách ly từ cửa khẩu. Nhưng tin tức ấy cũng đã khiến người quê lo lắng, khoảng cách giữa quê và thành phố bây giờ đâu còn xa dịu vợi như những năm xưa. Những chuyến xe ngược xuôi chở người và hàng hóa vẫn mỗi ngày trên con đường đã được bắc cầu qua sông Vàm Cỏ. Con đường ấy năm xưa còn là đường lộ đá đỏ, mỗi mùa nắng tôi đi học bụi bay mù nhuộm cả màu áo học trò, mùa mưa thì nhoen nhoét bánh xe. Con đường ấy bây giờ đã được mở rộng, tráng nhựa thẳng tắp. Bến phà đã hoàn thành sứ mệnh của nó, giao thông thuận tiện, đời sống phát triển sung túc hơn xưa.

Chúng ta rồi sẽ vượt qua đại dịch thôi. Ai cũng nói như thế, bằng hy vọng, bằng cả sự quyết tâm chống dịch. Tôi cũng tin như thế. Có điều gì mà con người không thể vượt qua được, chỉ khác là, thời gian trước và sau đại dịch bệnh, cuộc sống của mỗi người chắc chắn rồi sẽ đổi thay. Tôi còn nhớ những năm thập niên 90 của thế kỷ trước, khi quê nhà còn nghèo, bệnh truyền nhiễm sốt xuất huyết cũng đã ập đến làng như một tai họa. Sốt xuất huyết bây giờ vẫn là nỗi ám ảnh với con người, nhưng ít ra y học hiện đại đã có phương pháp điều trị. Còn ở thời điểm ấy, quê tôi cách thành phố một con sông, phương tiện đi lại khó khăn, thông tin, kiến thức, điều kiện y tế đều rất kém.

Năm ấy, bọn trẻ con chúng tôi được dạy bảo rằng không được vui chơi ở nơi ao tù nước đọng, những hàng lu nước trong nhà phải được đậy nắp kín, đêm tối xuống là phải chui vào mùng, không được thò tay ra ngoài. Nhang ung muỗi cũng được dự trữ trong nhà. Tên loài muỗi Anopheles trở thành nỗi ám ảnh với bọn trẻ. Tôi có lần muốn thử nhìn “con a-no-phen” mà khi có muỗi cắn đã trân mình chịu trận để căng mắt nhìn xem chân nó có dài.

Đó là một “trải nghiệm” khá ngốc nghếch. Vậy mà tôi không bị sốt xuất huyết, ngược lại, chị gái tôi thì bệnh. Khi ấy, tôi 7 tuổi. Chị gái 10 tuổi. Suýt chút nữa chị đã không qua khỏi nếu không được chuyển viện kịp thời lên tuyến huyện. Năm đó, tôi đã không ý thức được sốt xuất huyết là căn bệnh truyền nhiễm đáng sợ đến như thế nào. Tôi cố tình giả bệnh để được cùng chị vào viện, chỉ vì “ở bệnh viện mới được ăn hủ tíu”. Mà đâu biết tôi góp phần thêm lo âu trắng đêm cho má tôi. Một mong muốn hết sức… con nhà nghèo đến giờ vẫn là một “giai thoại” trong nhà, để nhắc tôi luôn nhớ về những năm tháng tuổi thơ mình mà biết chịu khó, kiên nhẫn, chấp nhận những thử thách trên đường đời. Vì rằng, con người ta một khi có đủ cái ăn, cái mặc đã là một diễm phúc.

Đợt ấy, cả làng tôi ai cũng mang mùng đi tẩm thuốc chống muỗi. Chị em tôi gom hết mùng trong nhà mang ra đình làng. Ngôi đình truyền thống của làng quê xưa là nơi sinh hoạt cộng đồng, mỗi ngày đi học về tôi đều xem đó là dấu mốc để thở phào vì thấy đình có nghĩa là về đến gần nhà rồi. Cái thời đi bộ rạc cả chân. Mỗi mùa hè, cũng là cây phượng vĩ nơi mái đình ấy báo hiệu cho chúng tôi biết một mùa rực rỡ vàng son sắp đến. Bọn con trai sẽ trèo lên hái hoa cho bọn con gái làm bướm phượng ép vào trang vở. Mái đình che bóng cho lũ học trò còm nhom những trưa hè oi ả. Bờ ao đình làng là nơi tôi dừng lại khoác nước rửa sạch đôi chân sình lầy để được mang dép sạch sẽ vào lớp học. Mái đình ấy, bây giờ vẫn cong cong hình chiếc thuyền ở đầu làng, vẫn là nơi chốn neo lại trong ký ức nhớ thương của tôi vào những đêm mơ về cánh đồng.

Những ngày chông chênh trước nỗi lo COVID-19, lại giật mình thương hai chữ “tha hương”. Những ngày ở yên trong nhà theo yêu cầu của Chính phủ và Bộ Y tế, lại thấy lòng mình sao cứ ngược về chốn cũ. Thèm một cánh đồng mênh mông gió, thèm một bầu trời tràn sao đêm. Thương con đường quê giờ đã được đổ bê tông, mỗi mùa mưa trẻ nhỏ không còn phải xách dép lội sình đi học, nhưng vẫn còn đó hai hàng cây so đũa, chiều chiều người làng chỉ cần mang rổ ra là đã có thể nhặt đầy hoa về nấu nồi canh chua bông so đũa. Đường làng năm ấy, lũ chó mèo thong thả đùa vui, đàn trẻ thơ áo trắng ríu rít những chiều tan trường. Cây bông gòn thả hoa bay lả tả ở khúc quanh vào những chiều gió nổi. Hoa ô môi phơn phớt hồng, những cái trái đen cứng như sừng trâu mà vị thơm mịn như mật khiến đám trẻ lúc nào cũng thòm thèm. Cầm trên tay khúc trái ô môi như thể được cầm cả một khung trời ngọt lịm, về nhà trốn ra sau hè ngồi xước vỏ, nhẩn nha nếm vị ngọt ngọt đắng đắng mềm môi. Những hương vị tuổi thơ, thật kỳ lạ, chẳng thể nào phôi phai dù cho mình có bước qua một chặng đời rất dài.

Cố hương mãi đẹp như tên gọi, mãi thương như một hình bóng đã vời vợi xa.

Năm xưa ngồi trên ngọn dừa chót vót – vị trí cao nhất ở nhà chỉ mong ngày nào đó được rời làng, đi xa. Giờ, ở trên tầng cao của thành phố – cao hơn cả ngọn dừa năm xưa, những chiều nhìn ra chân trời, định vị Google Map xem quê nhà ở phía nào. Chỉ mong muốn một điều: giá mà, được một lần trở lại ngôi nhà giữa cánh đồng.

Trong giấc mơ, sao cứ thấy mình về ngồi bên hiên nhà cũ…

Bùi Tiểu Quyên
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 588

Ý Kiến bạn đọc