Tản văn

“Món” sả của ba

 

- Tao biết bữa nay chủ nhật thế nào mày cũng về thăm ba. Hồi sáng này, tao có mua mấy con lươn về kho sả ớt đó. Hổm rày mưa nhiều, tụi nhỏ hàng xóm đi bắt được mấy con lươn đồng, tao mua hết kho cho ba với mày ăn đó. Cái món này hồi nhỏ mày hay đòi ba đi đặt trúm bắt về kho cho mày ăn. Thay đồ rồi vô bếp lấy ăn cơm đi! Chờ mày sáng giờ chưa thấy về, tao với ba mới vừa ăn xong đó. Tự lấy ăn đi! Tao tranh thủ chằm cho xong cái nón này, chút nữa giao cho người ta! Chừng nào về nhớ nhắc tao cho hũ muối sả về ăn. Tao mới làm mấy bữa nay! 

So-607--Anh-minh-hoa---Mon-sa-cua-ba---Anh-1

Vừa cắm cúi rút từng mũi kim trên chiếc nón lá đang chằm chưa được phân nửa, chị nói với tôi như thế. Lời nói mộc mạc, chân tình y như người chị ở tuổi 15, 16 nói với đứa em 7, 8 tuổi hồi hơn 50 năm trước. Nghe lời chị, tôi vào bếp, dỡ nắp vung mẻ lươn kho ra. Vừa nhìn mẻ lươn kho, miệng tôi ứa nước miếng và cũng ứa luôn nước… mắt. Những khứa lươn vàng ươm hòa quyện với sả ớt trông thật hấp dẫn. Nghe chị nhắc chuyện cũ và nhìn mẻ lươn kho sả, ký ức của hơn 50 năm hiện về trong tôi. Mẹ tôi mất sớm, tài sản quý giá nhất để lại cho chồng là 3 đứa con nhỏ. Nhà nghèo, không có ruộng, ba đi làm mướn đủ việc. Để con có đủ cái ăn, ngoài thời gian chính đi làm mướn, ba còn tranh thủ mọi lúc, kể cả đêm, hoặc khi mưa gió ra ruộng đồng, kênh rạch “bươi móc” tìm “con cá, lá rau”. Ngoài con cá đồng là món chính, lươn, rắn, ếch, cóc, bù tọt (nhái lớn), cua, ốc, tép, bù niễng… và cả chuột đồng nữa, con gì chế biến ăn với cơm được là ba tìm bắt. Đánh bắt xong cũng chính tay ba nấu nướng chế biến thức ăn, trong đó có món lươn kho sả mà chị tôi vừa nhắc đến. Trước kia, nguồn thủy sản dưới dòng rạch và trên đồng ruộng gần nhà tôi khá phong phú và đa dạng. Khoảng tháng 7, tháng 8 âm lịch mưa nhiều, nước từ trên đồng tràn xuống rạch, lươn từ các cánh đồng sâu rút lên phía triền gò tìm mồi. Thế là ba tôi mang ống trúm đi đặt lươn. Ban ngày đi làm mướn, khi về mặt trời sắp lặn, ba cũng xách cuốc đi đào trùn làm mồi đặt trúm. Đặt xong hơn một chục ống trúm, ba về đến nhà cũng 7, 8 giờ tối. Có bữa ba về đến nhà, còn “đem theo” mấy con đỉa đeo dưới chân. Khuya ba dậy sớm đi lấy ống trúm về. Có những ống trúm lươn vô nhiều làm cho lỗ thông hơi bị chìm trong nước, lươn ngộp chết hết. Về nhà lươn sống ba rộng để dành, còn lươn chết ba lấy tro vuột nhớt làm thịt ngay. Sau đó ba ra hè giựt mấy tép sả, rồi lộp cộp băm sả, ớt kho lươn liền, bởi sáng ra ba còn đi làm mướn…

Thuở ấy sau hè nhà tôi, lúc nào cũng có mấy bụi sả tốt tươi chờ sẵn cho ba tôi “bằm chặt” bất cứ lúc nào cần. Không chỉ có lươn kho sả, mà hầu hết các món ăn của ba làm đều có gia vị sả. Trong đó món đầu tiên phải kể đến là muối sả. Vào những ngày nắng ráo, tranh thủ buổi trưa rỗi việc, lựa mấy bụi sả già ba chiếc ra, rồi bằm nhuyễn, phơi khô rang muối sả. Thời ấy, trong nhà tôi lúc nào cũng có mấy hũ muối sả. Nhà nghèo làm gì có tiền ăn bánh canh, hủ tiếu, bánh mì…, bữa “điểm tâm” của cha con tôi thường là cơm nguội – muối sả. Hôm nào “ăn sang” thì muối sả trộn với đường cát vàng (hồi đó có hai loại đường cát vàng và đường cát trắng, đường cát vàng rẻ hơn đường cát trắng). Vào đầu mùa mưa, đêm đêm ba mang đụt, xách đèn lúp (loại đèn đốt bằng dầu lửa, tim đèn lớn, có bịt miếng thiếc chắn gió 3 mặt và dồn ánh sáng về phía trước) đi soi. Ếch lớn, ếch nhỏ (gọi ếch giò), cóc, bù tọt… ba chụp cho vào đụt hết. Rồi cũng tự tay ba làm thịt và kho sả cho anh tôi ăn. Phải nói rằng cái món cóc, ếch, nhái kho sả của ba cũng ngon không thua gì món lươn kho. Nhưng thơm ngon và bổ dưỡng nhất đối với anh em tôi là món thịt chuột đồng chấy sả của ba. Vào mùa nắng, sau khi ruộng đồng thu hoạch lúa Đông – Xuân xong, ba vác cuốc ra đồng đào hang chuột. Chuột mẹ, chuột đực, chuột lứa, chuột con… ba bắt hết. Để thơm ngon, bay đi mùi tanh, làm chuột xong ba cũng bứt mấy tép sả, bằm nhuyễn chấy thịt chuột. Thịt chuột chấy sả mùi thơm bay khắp nhà… Vào mùa nước lụt và khi rã lụt cá nhiều. Chiều tối ba lại đi giăng lưới qua đêm, đến sáng sớm mới đi cuốn về. Cá dính lưới và chết lâu trong nước. Để món ăn thơm ngon, xua tan mùi tanh của cá, ba muối cá rồi chiên với… sả. Mùa nước nổi, ốc dưới sông trên ruộng trôi nổi nhiều, ba cũng đi vớt ốc về luộc với lá sả, hoặc kho ốc với sả để ăn cơm. Có lúc khan hiếm đạm động vật, ba lại cho anh chị em tôi đổi món sang đạm thực vật. Ba mua đậu hũ về kho sả, hoặc mua tương hột về xào sả chấm rau hẹ. Lắm lúc không tìm được đạm động vật, cũng không có tiền mua tương, chao, đậu hũ… ba lại đi hái lá giang bằm với sả làm nước mắm. Rồi ba ra rạch hái rau choại, rau mướp về luộc chấm nước mắm sả…

Không chỉ chế biến được nhiều món ăn ngon từ sả (ngon đối với anh chị em tôi), ba tôi còn biết cách dùng sả trị bệnh. Hồi đó mỗi lần anh chị em tôi bị cảm, thế nào ba cũng nấu nồi nước xông. Trong nồi xông của ba, không thể thiếu lá sả. Không chỉ dùng trong nhà, ba cũng thường cho sả nhiều người trong xóm nấu xông và dùng sả cứu giúp hàng xóm. Trước kia, quê tôi vùng sâu y học chưa phát triển như bây giờ, mỗi lần có trẻ em bị động kinh, khi nghe tiếng la “Bớ làng xóm! Bớ làng xóm! Cứu con tôi với!”, thế là bất chấp lúc giữa trưa hay nửa đêm hoặc mưa to, gió mạnh… ba cũng vội chạy ra hè giựt nhanh mấy tép sả. Rồi vừa chạy, vừa vuốt cho sạch đất và lột bớt lớp vỏ bên ngoài củ sả, ba cho vào miệng nhai ngấu nghiến để kịp đến nơi nhổ vào miệng đứa trẻ đang bị bệnh…

Tôi cũng xin vui vẻ kể thêm, không biết có phải nhờ hồi trẻ ba tôi lao động chân tay nhiều, hay ăn nhiều món ăn có sả, xông lá sả, hoặc là ba không uống rượu… hay là nhờ tất cả những thứ đó cộng lại, mà từ trước đến giờ, ba tôi luôn khỏe mạnh. Chỉ còn 5 năm nữa là ba tôi tròn 100 tuổi. Vậy mà từ hồi tôi biết đến giờ, ba chưa hề đặt chân đến trạm y tế xã, đừng nói chi đến bệnh viện nào. Hiện cặp mắt ba không còn nhìn thấy gì, nhưng tai vẫn nghe bình thường, ba vẫn còn đi lại và tự phục vụ cho mình, mà không nhờ sự trợ giúp của con cháu. Đặc biệt trí nhớ ba còn rất tốt, chuyện cũ ba nhớ rất nhiều. Hằng ngày ba vẫn ngồi bên chiếc ti vi nghe (nghe chớ đâu có thấy) thời sự, nghe chiếu phim và các trò chơi giải trí của nhà đài… nhứt là nghe các trận đấu bóng đá kể cả bóng đá nước ngoài.

Nguyễn Hữu Hậu
(Gò Dầu – Tây Ninh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 607

Ý Kiến bạn đọc