Tản văn

Món cháo gà

Tôi học nghề thầy giáo như một nhánh rẽ trên con đường văn. Bởi đề đạt nguyện vọng vào Tổng hợp văn thì tổ chức chuyển sang Sư phạm văn. Hình như hồi ấy – năm 1966, thiếu giáo viên thì phải. Cũng ngoan ngoãn theo tổ chức. Nghĩ bụng: nghề viết văn thì việc trang bị kiến thức bên Tổng hợp hay Sư phạm cũng được. Học xong 3 năm trường Sư phạm, trường muốn giữ lại làm cán bộ nghiên cứu và giảng dạy, nằng nặc xin đi dạy. Tôi muốn biến ước mơ trở thành nhà văn thành hiện thực… Thời chống Mỹ, những Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Đỗ Chu… đã nổi như cồn. Mình chả là cái đinh gì cả, ti toe tập viết tí văn, tí thơ ngô nghê. Muốn viết văn phải có ba cái vốn: vốn sống, vốn văn hóa, vốn chính trị. Vốn văn hóa có thể bồi đắp qua cái sự đọc, sự học. Vốn chính trị muốn có phải học tập, bồi dưỡng chính trị thời sự, phải tự tu dưỡng rèn luyện, nhất là phải phấn đấu vào Đảng. Kẹt nhất là vốn sống. Mình là anh chàng thư sinh Hà Nội biết gì về cuộc sống cần lao, dũng cảm ngoài kia. Vậy thì đi dạy sẽ được hai cái vốn: thực tế nhà trường vừa có thực tế vùng quê, người dân nơi trường đóng.

Cái “cây đời mãi mãi xanh tươi” mà tôi tiếp xúc đầu tiên là trường học sinh miền Nam Hà Tây thuộc huyện Bất Bạt, tỉnh Hà Tây. Năm 1969, sau khi Bác Hồ mất “đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa” (Tố Hữu), tôi xách va ly dò lên nơi trường đóng. Nói tới trường học sinh miền Nam tôi luôn có hai cái cảm nhận này: vừa mật ngọt yêu thương vừa xù xì, gai góc. Mật ngọt yêu thương vì tôi đã được tuyên truyền giáo dục và chuyển hóa thành tình cảm thiết tha, sâu sắc. Miền Nam là một nửa cơ thể của Tổ quốc đau thương, tang tóc, quật cường. Trường học sinh miền Nam là ngôi trường đặc biệt đào tạo “hạt giống đỏ” cho miền Nam và cho cả nước. Các em học sinh miền Nam là những thanh thiếu niên xa gia đình, xa quê hương, phải chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh. Tôi sẽ mang hết kiến thức, tình cảm truyền dạy cho các em. Điều tôi ngại nhất là học sinh miền Nam… quậy. Đã nghe chuyện học sinh Nam bộ, khu Năm đánh lộn đánh lạo, đã có máu chảy, thương tích. Lãnh đạo cấp cao xuống khuyên bảo, bộ đội, công an can thiệp nhưng vẫn chưa nguôi. Xù xì gai góc vậy nhưng tôi phải chấp nhận vì muốn có vốn sống thực tế.

Dạy học ở trường học sinh miền Nam, cái diễm phúc lớn nhất là trường nằm ngay cạnh sông Đà. Chỉ cần bước lên mặt đê là con sông Đà vừa trữ tình vừa hung dữ đã hiện ngay trước mặt cùng một lúc với câu văn Nguyễn Tuân phả vào mình cái không khí lãng mạn, mờ ảo: “Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, từ đầu tóc đến chân tóc ẩn hiện mây trời Việt Bắc, bung nở hoa ban hoa gạo, cuồn cuộn khói đốt rẫy của người Mèo”. Nghe nói để làm ra cái tuyệt tác Sông Đà cụ đã phải từ bỏ phở, cà phê, đường phố Hà Nội mà rong ruổi hàng năm trời lúc chống gậy lẽo đẽo đi bộ, khi một mình một ngựa. Tôi mê cái hào hoa văn tự của Sông Đà từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Và cũng gặp cụ Nguyễn Sông Đà loáng thoáng ở Hội Nhà văn. Cái tẩu thuốc ngậm lệch bên khóe miệng, batoong tỳ lên những viên sỏi đủ màu. Mái tóc bạc phủ gáy. Chính cụ Nguyễn và cuốn Sông Đà là hai liều dopinh kích thích tôi phải tận mặt con sông. Và may mắn thay, giờ thì ngày nào tôi cũng nhìn thấy nó.

Trường học sinh miền Nam Hà Tây toàn là học sinh khu Năm (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Tuy Hòa…). Nghe hơi khó kiểu như: “Dân Quảng Nôm giàu tình cổm”, nghe riết rồi cũng thành quen. Các em đều học bên khu học xá Trung Quốc, cách mạng văn hóa phải trở về. Chỉ vài tháng đầu tiên tôi đã hòa nhập. Học sinh suýt soát tuổi tôi, chỉ kém chừng một hai tuổi, trong lớp gọi bằng thầy, ra ngoài khi sinh hoạt vui chơi gọi bằng anh – anh Tư (trong gia đình tôi là con thứ ba). Mấy thầy lớn tuổi các em gọi bằng bố, “bố Thu”, “bố Thọ”, “bố Thứu” – trường có ba ông bố bắt đầu bằng chữ Th. như vậy. Các em nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ ba má chiến đấu trong đó, tình bạn, thoáng một chút tình yêu – nhiều cung bậc. Rất quý và thương thầy – đa số là giáo viên miền Bắc xa gia đình vợ con hết lòng vì học sinh miền Nam. Tôi còn trẻ thỉnh thoảng các em nữ sinh còn trêu đùa khiến tôi đỏ cả mặt. Tôi không còn e ngại vì chuyện đánh lộn đánh lạo chẳng hề xảy ra. Nhưng có một chuyện đã ăn sâu vào ký ức.

*
Một đêm mùa đông lạnh ngắt tháng 12-1969. Gió từ mặt sông Đà phùn phụt thổi về. Trăng lạnh cóng run rẩy trên trời cao chỉ tỏa ra thứ ánh sáng nhợt nhạt. Những cây cau tê tái trong giá buốt. Bụi duối dọc lối đi vào co ro trong làn sương trắng đục. Con chó đực nằm co quắp trong ổ rơm. Tôi đang ở trọ trong nhà dân, căn nhà mái tranh mưa nắng đã làm cho bợt bạt, xung quanh là phên liếp mỏng manh. Người cha ngoài 50 tuổi đã ra trận, cô con gái đầu lấy chồng xa. Trong nhà chỉ có người mẹ khoảng gần 50 lo việc đồng áng và cậu con trai đang học phổ thông. Hai mẹ con đã ngủ say trong căn phòng tối sẫm. Duy nhất chỉ còn một ngọn đèn dầu leo lét trên bàn, tôi chân xỏ tất, áo đông xuân ở trong, áo bông khoác ngoài mà thỉnh thoảng vẫn rùng mình vì những cơn gió lọt qua kẽ liếp. Tôi đang soạn bài giảng văn tác phẩm “Chí Phèo”. Mới ra trường nhưng đã được Ban giám hiệu tín nhiệm phân dạy lớp 10 (lớp cuối cấp). Viết đến cái đoạn người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn có cái tên kệch cỡm là Thị Nở cho Chí húp bát cháo hành khiến hắn rùng mình, vã cả mồ hôi ra, mắt ươn ướt vì cảm động. Bát cháo hành đã đánh thức cái ước mơ về một cuộc sống lương thiện đã ngủ quên, hắn buột miệng: “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ!”.

So-511--Anh-minh-hoa---Mon-chao-ga---Anh-1

Bỗng tay tôi bủn rủn, cây bút rời khỏi tay ngã vật xuống mặt bàn. Cái bụng cồn cào ra lệnh cho cái óc dừng lại, cái óc ra lệnh cho cái tay buông bút. Buổi chiều nay với lưng cơm độn ngô, bát canh rau muống lõng bõng, vài mẩu cá khô đã hết veo. Cái bụng hoàn toàn trống rỗng. Nó lên tiếng. Thời sinh viên Sư phạm tôi phong lưu, là cậu ấm.

Ngoài học bổng 23 đồng tôi còn được ba mẹ cho mỗi tháng 40 đồng nữa – ngang với mức lương khởi điểm của công chức. Các bạn sinh viên nông thôn sáng bụng lép kẹp đi học chứ tôi sáng nào cũng thoăn thoắt ra đầu làng, khi cháo gà, lúc bún riêu, bữa nào vội thì vài miếng bánh đúc. Từ khi đi dạy tôi không còn được chu cấp. Với mức lương khởi điểm 47 đồng, mỗi tháng nộp 20 đồng tôi vẫn còn 27 đồng tiêu vặt. Nghĩa là không phải thiếu tiền mà ở cái xứ hoang vắng này kiếm đâu ra quán xá. Lang thang đỏ mắt chẳng thể kiếm nổi một mẩu bánh mỳ, góc bánh chưng, một tô mỳ tôm không thịt nóng hổi hay thanh kẹo lạc giòn ngọt, cốc nước chè đậm đà. Không chịu nổi nữa tôi rón rén hé cánh cửa lách ra ngoài, bấm đèn pin lò dò bước ra giữa đêm đông hòng kiếm được một củ khoai, mẩu sắn gì đó. Các em học sinh có một vạt đất tăng gia trồng khoai trồng sắn ngoài khu vực trường để chống đói. Qua mấy dãy phòng nam đã ngủ yên ắng rồi, chỉ có một phòng đèn điện còn sáng trưng (trường có máy phát điện). Đây là phòng ở của học sinh nam lớp 10B – lớp tôi dạy, ngó vào thấy mấy chục em đang đứng ngồi lố nhố rất xôm tụ. Một cái nồi to sôi sùng sục tỏa mùi thơm ngào ngạt bởi những ngọn lửa ôm trùm lấy đít nồi. Tôi hít một hơi rõ dài mà vẫn chưa nhận ra mùi thơm phát ra từ cái nồi kia là mùi gì. Chợt em Long – lớp phó chạy tới kéo tay tôi vào phòng ấn ngồi xuống cái giường sắt lạnh toát:

- Anh Tư, mời anh ăn cháo gà!…

Tôi ngạc nhiên:

- Các em kiếm đâu ra gà mà nấu cháo vậy?

Long gãi đầu, cười hì hì:

- Tụi em góp tiền sinh hoạt phí vào trong xóm mua cặp gà về nấu cháo bồi dưỡng. Trời rét, đói quá!

Tôi chẳng dám bộc bạch mình cũng đang đói quặn thắt cả gan ruột đây này. Tôi thầm khen các em khéo léo tổ chức cuộc sống trong cảnh sống tập thể. Cháo chín, Long đưa muỗng quậy đều để thịt gà được phân phối công bằng. Em múc bát đầu tiên bưng hai tay đến tận nơi tôi ngồi.

- Mời anh Tư!…

Tôi cám ơn, cầm bát cháo mà rưng rưng xúc động vì tình cảm các em dành cho mình. Xúc từng thìa cháo nóng hổi, thơm lừng, ăn tới đâu ấm bụng tới đó. Cái món “nội công” này hiệu nghiệm thật, đang đói bụng mặc bao nhiêu áo cũng lạnh run thế mà có hơi cháo vào thấy ấm sực từ trong ra, muốn cởi ngay cái áo bông cho đỡ nóng. Nhìn Long múc từng bát cháo đưa cho từng bạn, nói cười vui vẻ tôi vừa xót xa vừa cảm mến vô hạn. Ba má em người Quảng Nam. Ba là bộ đội tập kết, năm 1965 trở về chiến trường khu Năm và đã hy sinh năm 1968. Má em làm ở ngành y đang sơ tán ở Hà Bắc. Long còn một người em gái đang học trường học sinh miền Nam Hải Phòng. Long lớn hơn các bạn trong lớp 2 tuổi. Là lớp phó, Long luôn được các bạn trong lớp tôn là “đại ca” vì biết chăm lo, bảo ban đàn em, đàn em nghe răm rắp. Ăn xong bát cháo tôi cảm ơn Long và các em rồi ra về. Mười giờ khuya, tôi soạn xong bài giảng, lặng lẽ lên giường đi ngủ. Trong giấc ngủ còn ấm sực mùi cháo gà…

Sáu giờ sáng hôm sau, tôi ra trường để tập thể dục cùng các em. Sân trường lác đác lá rụng. Theo tiếng còi của thầy thể dục thầy trò giang tay ngoẹo đầu bên trái, bên phải. Bỗng ở ngoài cổng trường một người đàn bà mắt trợn lên, vung tay xỉa xói về đám học trò:

- Cha cái con đẻ mẹ chúng mày ăn cắp gà của bà. Bà nuôi con gà bao công lao nay chúng mày cướp của bà. Trời tru đất triệt chúng mày đi. Cha cái con đẻ mẹ chúng mày!…

Cả trường xôn xao rồi vỡ ra. Tôi thoáng hiểu ra cơ sự, miệng đắng ngắt, muốn mặt đất nứt ra một cái kẽ để mình chui tọt xuống. Sao mình lại ngây thơ, cả tin đến thế. Đang sức ăn sức lớn, tiền sinh hoạt phí eo hẹp làm sao mà có tiền mua gà. Bỗng giận sôi lên vì bị Long lừa một cú ngoạn mục. Nhìn quanh lúc này Long và bạn đã trốn chui trốn nhủi đâu mất rồi. Con dại cái mang, thầy hiệu trưởng phải ra tận nơi mời bà mất gà vào văn phòng, năn nỉ xin lỗi và hứa giáo dục học trò, đền bù thỏa đáng. Tôi mang cái mặt mo đi dạy được hai tuần, hễ đến giờ tôi Long cúp tiết. Một hôm trên đường trở về nhà thấy Long đứng chờ tôi ở bụi duối. Mắt em rơm rớm, vẻ hối hận:

- Em… em xin lỗi anh Tư, đã làm anh mang tiếng.

Tôi cau mặt gắt:

- Sao em lại làm vậy? May mà thầy hiệu trưởng không biết tôi dính vào vụ này đấy…

Long phân trần:

- Em thấy các bạn đói quá, trời lại rét. Mình là anh lớn phải lo cho các em. Nên rủ một bạn nữa vào nhà dân trộm gà.

Tôi hỏi:

- Không sợ dân phát hiện đánh cho vỡ mặt, lôi ra giữa đường bêu xấu à?

Long thành thật:

- Làm sao mà phát hiện được anh Tư! Hết giờ học tụi em đi lảo rảo ngoài xóm, phát hiện mục tiêu. Buổi tối mới chui hàng rào, mở cửa chuồng gà, gà đang ngủ gà gật, em luồn tay dưới bụng gà, nó hết kêu…

- Trời đất ơi! – Tôi khẽ thốt lên, thế là thành chuyên nghiệp rồi còn gì nữa. Tôi hỏi gặn:

- Mấy lần rồi?

Long ấp úng:

- Dạ vài lần. Mỗi khi các bạn kêu đói quá, em hết chịu nổi, phải xách cái bị cói đi ăn trộm. Mấy lần trước họ tưởng hàng xóm. Lần này họ biết là học sinh miền Nam nên tới la.

Tôi biết Long đã nhận hết tội lỗi với thầy hiệu trưởng và nhận cái “án” cảnh cáo. Nếu không dạy trường học sinh miền Nam thì làm gì có “vốn sống” đắt giá như vậy. Câu chuyện vừa đáng giận, đáng thương này cứ ám ảnh tôi… Năm 1970, Long tốt nghiệp phổ thông vào học Đại học Bách khoa. Năm 1972, tôi lại đi vào chiến trường miền Nam để tìm kiếm vốn sống trong môi trường mới. Thời chiến cũng như thời bình tôi sống ở đất Đồng Nai. Từ đó tôi và Long chẳng thể gặp nhau…

*
Năm 2004, tỉnh Đồng Nai thành lập Ban Liên lạc học sinh miền Nam do anh Năm Bình – nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai làm Trưởng ban, tôi được cử làm thư ký của Ban. Năm 2014, kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường học sinh miền Nam trên đất Bắc, tôi cùng đoàn học sinh miền Nam Đồng Nai ra dự, đi thăm lại các trường học sinh miền Nam Hà Đông, Đông Triều, Hải Phòng và trở về Hà Nội dự Lễ kỷ niệm tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Chúng tôi ở tại một khách sạn ven Hồ Tây. Một buổi tối, tôi nhận được một cú điện thoại lạ:

- Xin lỗi có phải thầy Tú không ạ?

Tôi ngỡ ngàng không nhận ra:

- Vâng, tôi đây, xin lỗi ai ở đầu dây đấy ạ?

Một tiếng reo vui:

- Thưa thầy, thầy không nhận ra em à, Long đây, Long cháo gà đây!…

Tôi hỏi rối rít:

- Em đang ở đâu, thầy trò mình gặp nhau được không?

- Dạ, em đang ở Hà Nội, em sẽ đến chỗ thầy ngay bây giờ.

Tôi cho biết số phòng, địa chỉ khách sạn. Chỉ 30 phút sau Long đã có mặt trước cửa phòng. Một sĩ quan quân đội chững chạc.

Tôi hỏi:

- Em cấp bậc gì rồi?

- Dạ, đại tá ạ, em đã nghỉ hưu vài năm nay, hiện sống ở Hà Nội.

Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, mừng tủi sau bao năm xa cách. Long đưa tôi xuống dưới sảnh khách sạn gọi sinh tố mời tôi và kể:

- Em học Bách khoa được 2 năm, tới năm 1972 xung phong đi bộ đội, ở đơn vị pháo cao xạ, chiến đấu ở Quảng Trị, tới 1973 đơn vị rút về Quảng Bình và tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Sau giải phóng, em đi học nước ngoài 4 năm và tiếp tục ở quân đội cho đến ngày nghỉ hưu.

Tôi thắc mắc:

- Nghỉ hưu em không về quê mà ở Hà Nội à?

Long đáp:

- Dạ, thưa thầy má em mất rồi, vợ em là người Hà Nội, bạn học cùng trường Bách khoa với em, cô ấy là Tiến sĩ. Em có hai cháu, cháu gái đầu học và làm việc tại Úc lấy chồng bên ấy luôn. Cháu trai sau làm cho công ty nước ngoài, cũng đã có vợ con…

Tôi vẫn không hiểu tại sao em lại tìm ra tôi. Em giải đáp:

- Thầy có nhớ bạn Xuân, học cùng lớp với em, sau này ở cùng dãy nhà tập thể với ba mẹ thầy, mỗi lần thầy ra Hà Nội đều gặp. Bạn ấy cho biết thầy đang ở Đồng Nai và cho số điện thoại. Tôi “Ồ” lên một tiếng. Thật bất ngờ! Cô học trò xưa lại là cầu nối giữa tôi với Long.

Chúng tôi cùng tủm tỉm cười nhớ đến chuyện “món cháo gà”. Một “vốn sống” không bao giờ quên của đời dạy học ở trường học sinh miền Nam của tôi.

Bùi Quang Tú
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 511

Ý Kiến bạn đọc