Văn học nước ngoài

Mối tình thầm

 

Khi bàn bạc thuê phòng trọ tôi, Phú và Danh cùng thống nhất: phải thuê ở lầu 1, rộng trên 10m2, có bếp nấu ăn và nhất thiết phải có một cửa sổ mở ra khoảng không gian nào đó. Dĩ nhiên là W.C riêng, điện nước phải đầy đủ nhưng yêu cầu cuối cùng hơi bị khó. Giữa Sài thành hoa lệ, nhà hộp san sát, chen chúc nhau làm gì có phòng trọ cho sinh viên theo yêu cầu đó? Cũng có, nhưng giá cao ngoài khả năng, thuê nổi không? Cũng có, nhưng chỉ công chức chính ngạch, giáo chức ngoại hạng hoặc kỹ sư, bác sĩ ra trường đi làm mới may ra có tiền thuê. “Tụi mình cứ đi kiếm, nếu có tao chịu một nửa, còn hai đứa mày một nửa!” – Danh huơ tay nói như ra lệnh.

Danh con nhà giàu, học giỏi, tốt với bạn bè và có máu nghĩa hiệp. Danh đậu tú tài loại ưu, có đủ điều kiện đi du học Tây Đức nhưng không đi. “Đất nước đó cũng bị chia cắt như đất nước mình, đi làm gì? Con học ở Sài Gòn được rồi, ba ạ!” – Danh trả lời dứt khoát với ba mình như vậy. Nghe Danh nói thế ông “bô” cũng không phản ứng gì, vì ông biết học lực của con mình không thể lưu ban, mà có lưu ban ông cũng dư sức lo cho con khỏi đi quân dịch. Mẹ Danh thương con, không muốn con phải một thân một mình tận trời Tây xa xôi. “Thời buổi chiến tranh đi nước ngoài học vẫn sướng hơn, không đi sau này có gì đừng hối tiếc nghen!”, ba Danh nhẹ nhàng, qua loa cho xong chuyện.

Danh đậu vào Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ dễ như chơi. Ở nơi mà thi 100 người chỉ đậu vài người, Danh đúng là không hổ danh học sinh Phan Bội Châu chính hiệu. “Tao một là nổi danh, hai là ô danh chớ không đời nào để mất danh!”. Mắt nó sáng lên, tôi thấy nó cười cười, gắn tên mình vào câu nói vui vui, hơi tự cao tí chút khi coi thông báo trúng tuyển.

So-635--Vong-nguyet---Nguyen-Viet-Thanh---Anh-1
Vọng nguyệt – tổng hợp – NGUYỄN VIẾT THANH.

Quả thật, sau này Danh là một kỹ sư giỏi của ngành cầu đường, có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật đem lại lợi ích thiết thực cho đất nước.

Phú con nhà truyền thống cách mạng, thuộc tầng lớp trung lưu trí thức, có anh trai trốn lên rừng theo “Việt cộng”. Chơi với Phú, chúng tôi hơi ớn nhưng Phú chân thành, kín đáo và… ngâm thơ rất hay. Phú ngâm thơ hay đến nỗi có cô nàng mê Phú, mê luôn thơ rồi thuộc làu những bài thơ đó. Những “Tây tiến” của Quang Dũng, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, “Bài ca của người đi giang hồ” của Viên Linh… mỗi lần Phú ngâm lên, không gian như quánh lại, thời gian như ngừng trôi, và chúng tôi thì im thin thít, sững sờ.

Phú hay tìm cách khéo léo rủ rê tôi và Danh tham gia các cuộc biểu tình. Trước giải phóng độ mươi ngày, tôi tình cờ thấy được mấy bó truyền đơn trên tủ bếp. Phú cười tủm tỉm nắm tay tôi, dịu dàng: “Đã đến lúc công khai được rồi ông bạn ạ!”. Tình hình lúc đó Phú tin tôi mà nói thế, chớ ngay trung tâm thành phố còn gay cấn lắm. Và tôi hiểu phía sau điều Phú nói: Chiến tranh sắp kết thúc rồi!

Thật đau đớn, đất nước hòa bình rồi, bạn tôi lại hy sinh ở chiến trường Cà Tum thuộc vùng biên giới Tây Nam trong một trận đánh ác liệt với quân Pôn Pốt. Hai mươi hai tuổi, gan dạ mà nhát gái, mới có người yêu, bạn tôi ra đi vẹn nguyên như quỳnh hương trong đêm nguyệt tận. Hôm làm lễ truy điệu Phú tại nhà, trong lời đáp cám ơn vị đại diện lãnh đạo chính quyền địa phương, ba Phú phải dừng lại nhiều lần lấy khăn lau nước mắt. Ông vốn là người cứng rắn, quyết đoán trong mọi tình huống, phân minh phải trái trong mọi công việc, không nửa vời và sẵn sàng tranh luận với bất cứ ai về bất cứ vấn đề gì. Ông nghẹn ngào: “Phú ơi! Hòa bình rồi sao trên bàn thờ nhà mình lại có thêm một chân dung liệt sĩ? Hình ảnh con đây mà hình hài con thất lạc ở nơi nào? Thân xác con đang nằm trong lòng đất mẹ hay vĩnh biệt rồi mà vẫn ly hương?…”. Ông bước tới trước di ảnh con, thắp 3 nén nhang cắm vào lư hương, xong giơ tay chào theo kiểu quân nhân… và thật bất ngờ, ông cất cao tiếng hát: “Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu nước…”. Và cũng hết sức bất ngờ, bao nhiêu người dự lễ truy điệu đều đồng thanh hát theo bài “Quốc ca” do ông khởi xướng. Khi bước ra chái nhà sau, tôi và Danh thấy người yêu Phú đang đứng thút thít sau hè. Đó là người Phú yêu mới rợi, chúng tôi chưa hân hạnh được biết tên. Thật kỳ lạ, Phú có một mối tình đầu mà bạn bè và chính Phú cũng không biết tên… người ấy!

*
Đúng một tuần, sau khi lùng khắp quận 3, tôi, Phú và Danh cũng thuê được căn phòng như dự tính. Có điều giá hơi đắt: 15 ngàn một tháng. Tôi ngập ngừng: “Nhà tao cho một tháng 10 ngàn, trả hết 5 ngàn tiền nhà, lấy gì ăn?”. Phú cũng hơi ngần ngại: “Sang quá, mày ạ! Tụi mình đi trọ học tới 4 năm, chớ có phải đi du lịch ngắn ngày đâu, mậy?”. Danh quả quyết, giọng anh đại: “Tụi mày khỏi lo. Thay vì chịu một nửa như đã hứa, bây giờ tao chịu 10 ngàn, hai đứa mày chịu 5 ngàn!”. Tôi vẫn băn khoăn: “Số tiền như vậy bằng tiền ăn học cả tháng của tao, mày lấy đâu ra để bù?”. Phú xua tay, so sánh: “Trả tiền phòng 2 tháng bằng mua chiếc Honda, uổng lắm mày! Thôi đi kiếm chỗ khác, để dành tiền anh em mình học thêm sinh ngữ. “Dốt sinh ngữ phụ nữ nó khinh!”. Danh vẫn giữ vững “lập trường”: “Việc tiền nong là việc của tao. Tao không làm phiền cha mẹ, không lấy cắp của ai, mà do bàn tay và khối óc của tao làm ra. Tụi mày hãy tin tao!”.

Thì ra, khi đậu tú tài loại ưu có điều kiện đi du học Tây Đức nhưng không đi; sau đó thi đậu vào Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ, Danh được Hội Bánh mì Đức quốc tặng một học bổng 10 ngàn đồng mỗi tháng. Tầm triệu phú, ba má Danh để ý làm gì số tiền “bé con” này? Thế là cu cậu tùy nghi sử dụng theo sở thích. Và sở thích đó, Danh dành cho tình bằng hữu, cho nghĩa bạn bè…

Đầu tháng chúng tôi dọn đến ở. Căn phòng rộng 20m2, tương đối đầy đủ tiện nghi. Có cầu thang riêng, có giường ngủ, bàn học, bộ bàn ghế tiếp khách – không sang lắm nhưng tươm tất, ấm cúng như một căn hộ nhỏ. Và đúng như dự tính, căn phòng có cửa sổ mở ra một không gian nhỏ, gần gụi với một căn lầu khác. Căn lầu đó có cửa sổ đối diện với cửa sổ căn phòng chúng tôi thuê. Khoảng cách giữa hai cửa sổ là mái tôn căn nhà hàng xóm. Và thật diệu kỳ, ngay chiều hôm ấy, chúng tôi phát hiện sau rèm cửa có một cô nàng dễ thương như trong cổ tích. “Đó, hai đứa mày còn chê đắt nữa không? Ông chủ mà biết được điều này, ổng tăng thêm 5 ngàn nữa cũng ráng chịu! Hì… hì… hì…” – Danh tếu táo.

Mấy ngày sau chúng tôi thấy tấm màn cửa được thay mới bằng một tấm màn khác có màu sẫm hơn. Cửa sổ chỉ còn mở một cánh… và nghe tiếng dương cầm ngân lên giai điệu “Nỗi buồn” của Chopin. “Kiểu này chắc phải ở đây 4 năm tới khi ra trường luôn quá, tụi mày ạ!”, Phú ngẩn ngơ khi tiếng dương cầm ngừng hẳn. Tiếng đàn mênh mang một nỗi buồn xa vắng, nghe chơi vơi vô định, thoáng gần thoáng xa dâng trong lòng người nghe nghiêng ngửa mối ưu hoài.

Chuyện học hành lôi chúng tôi ra khỏi mơ mộng tình cảm đầu đời. Danh học trường hơi xa chỗ ở nên ba má Danh mua cho chiếc Honda Dame. Tôi đi xe đạp đến trường. Đại học luật gần nhà nên hàng ngày Phú bách bộ ung dung. Tôi với Phú tự phân công: tan học tôi ghé chợ mua thực phẩm; Phú về sớm nấu cơm, xong chờ tôi về cùng làm bếp. Danh thường xuyên ở lại trường ăn trưa nên ít rớ tay vào. Không biết tận dụng lợi thế về sớm hay cố ý về sớm mà chỉ hơn tháng sau, Phú khoe với tôi mảnh thư nhỏ màu xanh cứng như bìa sách, có mấy dòng nắn nót: “Hôm nào anh chép lại cho em bài Tống biệt hành, anh nhé? K.L”.

Tôi thật sự cảm phục Phú, cái thằng đào hoa thật. Hèn gì dạo này chiều chiều thấy cu cậu hay lấy sáo ra thổi rồi ngâm bâng quơ vài câu “Tống biệt hành”. Lúc ấy cửa sổ lầu bên mở hai cánh và tấm màn được kéo ra. Nhưng có điều K.L là gì? Tôi đoán là Kim Liên, Phú đoán là Kiều Lan, còn Danh mê nhạc Trịnh nên đoán đại là… Khánh Ly! Thôi thì đứa nào “chấm xí” trước là của đứa đó, tôi và Danh không can dự vào.

Thời gian êm đềm trôi qua, những mảnh thư xanh cuối dòng ký tắt K.L ngày càng nhiều thêm trong va li của Phú. Nhiều câu Phú khoe tôi, trong đó có mấy câu tôi còn nhớ: “Em không thể hát anh nghe, khoảng cách không xa nhưng tiếng hát sẽ loang và vì thế không phải hát riêng cho một mình anh”. “Chiều nay em đàn anh nghe bài “Thơ gởi Elise” của Beethoven”… Đúng là một mối tình đẹp như thơ!

Những tháng ngày sau đó, Sài Gòn sục sôi với những cuộc biểu tình liên tục. Phú tham gia vào phong trào tranh đấu, nhiều đêm ở lại trường không về. Tôi và Danh cũng bị cuốn theo không khí hừng hực ấy. Phái đoàn Liên Tôn thế giới qua Sài Gòn bị sinh viên chận đường làm dữ. An ninh chìm bố ráp gắt gao, bắt gần trăm sinh viên trong đó có Phú. Tôi và Danh thoát được về phòng, thay quần áo nằm im trùm mền ngủ. Đang lơ mơ chợt… nghe tiếng kèn đám ma trổi lên thống thiết. Mở cửa sổ ra, tôi sửng sốt thấy nhà K.L có treo cờ tang.

“Mày xuống hỏi bác Tư xem bên đó ai mất vậy?” – Danh bảo.

Tôi lật đật đi xuống cầu thang. Vừa gặp bác Tư chủ nhà, tôi chưa hỏi, bác đã nói: “Tội nghiệp con nhỏ, hồng nhan bạc mệnh! Mấy năm trước bị chứng nan y, chữa lành xong thì tắt tiếng luôn. Gần đây hẹp van tim nặng quá, đem tới Saint Paul buổi sáng thì buổi chiều chở về!”.

Tôi bàng hoàng, bước từng bước nặng trịch lên lầu. Nghe tôi nói, Danh thẫn thờ: “Làm sao cho thằng Phú hay, mậy?”. “Không cần đâu. Trong tình huống này cho nó hay không có lợi và cũng không giải quyết được gì!”.

Ba tháng sau, Phú được thả. Khi đẩy cửa bước vào phòng, tôi và Danh ái ngại chưa vội nói thì Phú đã nhỏ nhẹ, buồn buồn: “Mình biết rồi. Một anh bạn cùng khoa đã cho mình biết cách đây mấy hôm”.

Phú tới cửa sổ nhìn sang. Lầu bên ấy cửa sổ vẫn đóng im lìm. Phú khe khẽ ngâm: “Đưa người ta không đưa sang sông/Sao có tiếng sóng ở trong lòng?”. Giọt nắng nào sót lại của chiều rơi, tôi thấy nó ươn ướt và long lanh trong mắt Phú. Gió từ đâu ùa về rung nhẹ sợi dây cước kéo căng giữa hai cửa sổ như một sợi dây đàn.

Giờ đây bên kia bầu trời Phú có gặp lại nàng không?

KIM BẰNG
(Hội VHNT Bình Thuận)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 635

Ý Kiến bạn đọc