Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Mộ – Sự hòa quyện giữa thi pháp thơ ca cổ điển và một nhân sinh quan cách mạng

Cứ mỗi lần giở lại những trang thơ trong Nhật ký trong tù, thì lại một lần ta càng hiểu thêm tấm lòng yêu thương mênh mông, thiết tha với cuộc đời, với con người của Bác. Đặc biệt, ta sẽ bắt gặp ở đây một hồn thơ độc đáo – Một hồn thơ có sự hòa quyện giữa thi pháp thơ ca cổ điển và một nhân sinh quan cách mạng. Mộ là một trong những bài thơ đặc sắc đã thể hiện đầy đủ đặc điểm này trong thơ Bác.

Khi tiếp cận thơ Đường luật bằng chữ Hán của Bác Hồ, mỗi người sẽ có những hướng tiếp cận khác nhau. Ở đây, người viết chọn cho mình cách tiếp cận tác phẩm từ góc độ minh giải nguyên tác và đặc trưng thi pháp.

1. Trước tiên ta đi vào minh giải nguyên tác. Thiết nghĩ đây là một điều quan trọng khi ta tiếp cận với một bài thơ chữ Hán, vì nếu chỉ tiếp cận tác phẩm qua bản dịch chúng ta khó có thể nhận ra được hết giá trị của nguyên tác:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.

Sau là bản dịch của Nam Trân:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng”

Có thể nói đây là một bản dịch thơ khá hay và phổ biến. Tuy nhiên, bản dịch vẫn mắc một nhược điểm cố hữu trong công tác dịch thuật, đó là không chuyển tải hết được những nét đặc sắc của nguyên tác. Điều này vẫn là một thử thách lớn đối với bất kì một dịch giả tài hoa nào, bởi để chọn được nét nghĩa đúng thì lại bị vần luật chi phối nên nhiều trường hợp dịch giả buộc phải hy sinh nét nghĩa đúng để chọn nét nghĩa “hơi” khiên cưỡng nhằm đảm bảo vần điệu. Đối với bản dịch này ta có thể thấy ở hai câu khai và hợp đã được dịch giả dịch khá tốt. Tuy nhiên ở hai câu thừa và chuyển, dịch giả đã không chuyển tải được hết những nét nghĩa hay của một số chữ như câu “Cô vân mạn mạn độ thiên không”, được dịch giả dịch thành “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. Chữ “Cô vân” (孤雲) chòm mây cô đơn, xuất hiện nhiều trong thơ cổ. Chữ “cô” (孤) rất có giá trị biểu cảm nhưng bản dịch đã bỏ xót. “Trôi nhẹ giữa tầng không” dịch “mạn mạn độ thiên không” đã làm mất mát nhiều nét nghĩa. “Mạn mạn” (慢慢) là chậm chạp, trì hoãn. “Độ” (度) là một hoạt động đi từ bờ này đến bờ kia, từ ranh giới này đến ranh giới kia. Như vậy nghĩa của toàn câu là: Đám mây cô đơn chậm chạp trôi từ chân trời này sang chân trời kia. Cụm từ “mạn mạn độ” còn thể hiện tâm trạng của người tù đang trên bước đường thiên lý.

Tru-so-xa-Tuc-Vinh-Duc-Bao-Quang-Tay---Noi-tuong-gioi-thach-bat-giu-Ho-Chi-Minh
Trụ sở xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc),
nơi chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ Hồ Chí Minh, tháng 8/1942. Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Câu “sơn thôn thiếu nữ ma bao túc” được dịch thành “Cô em xóm núi xay ngô tối”, trong nguyên tác không hề có chữ “tối”. Chữ “tối” được thêm vào thì đâu có gì là sai? Bởi đầu đề là Mộ (暮) cũng là “chiều tối”? Nhưng nếu dịch giả để chữ “tối” ở đây sẽ làm lộ ý thơ. Bởi thời gian ở đây đã được tác giả miêu tả gián tiếp “dùng cánh bướm để tả vườn hoa”. Thời gian được độc giả tự cảm nhận, thơ cổ điển “mạch kị lộ, ý kị nông” (1).

2. Đọc Mộ, ta sẽ thấy hiện lên hình ảnh một “tù nhân”, hay đúng hơn là một “hành nhân”. Trên bước đường lao lý nhìn cánh chim mòn mỏi bay về cánh rừng xanh quen thuộc, nhìn đám mây cô đơn trôi nhẹ giữa không trung mà tâm hồn thi nhân đã bật thành cảm xúc:

“Quyện điểu quy lầm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không”

Hai câu thơ nén lại ở 14 âm tiết mà mở ra một khoảng không gian rộng lớn – không gian vũ trụ. Đồng thời lại diễn tả được bước đi của thời gian. Mô tả ngoại cảnh mà bộc lộ được tâm cảnh, được tình người, đó chẳng phải là cái hàm xúc, cái dư ba vẫn thường thấy trong thơ ca cổ điển.

Ở hai câu khai, thừa đã mở ra một không gian vũ trụ. Cái “thiên không” bao la khôn cùng chứa đựng một cánh chim nhỏ bé tìm về nơi trú ngụ, và chòm mây cô đơn đang lững lờ trôi. Hai câu thơ này đã được tạo dựng bởi thủ pháp đối. Tuy nhiên, các hình ảnh ở đây không được tạo dựng ở thế đối lập hoàn toàn mà chúng vừa đối lập lại vừa thừa tiếp bổ sung ý nghĩa cho nhau. Hình ảnh quyện điểu và cô vân có điểm tương đồng: cùng khắc họa sự cô đơn lẻ loi và mệt mỏi. Tuy nhiên, hai hình ảnh này lại vận động theo hai hướng khác nhau. Cánh chim mỏi kia sẽ tìm được nơi trú ngụ ở một cánh rừng quen thuộc nào đó còn chòm mây cô đơn cứ mãi lững lờ trôi, không phương hướng giữa bao la đất trời. Chòm mây cô đơn ấy biểu trưng cho hình ảnh của thi nhân trên bước đường lao lí, trực diện với cái khoảng không vũ trụ mà cảm thấy chạnh lòng, nỗi cô đơn càng canh cánh.

Trong quan niệm của văn học thời trung đại con người có mối tương giao với vũ trụ: “Thiên nhân tương cảm, thiên nhân tương chi, thiên nhân tương dữ”. Con người là một “tiểu vũ trụ” tương thông với “đại vũ trụ”. Do vậy mà người buồn thì cảnh buồn, người vui thì cảnh vui. Trong bài thơ này hình ảnh người tù nhân hiện lên cũng mang tâm thế của con người vũ trụ, cũng có những mối tương giao với vũ trụ: Con người mang tâm trạng cô đơn buồn bã thì cảnh vật cũng vì thế mà trở nên quạnh quẽ hiu hắt.

Thi pháp thơ ca cổ điển không chấp nhận cái không gian cá nhân, hoặc giả có đi nữa thì cái không gian ấy cũng bị hòa nhập vào vũ trụ. Do quan niệm triết học chi phối nên các nhà thơ cổ điển rất thích chiều cao, chiều cao chiếm ưu thế, chiều cao có giá trị “nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy” (người nhân thích núi, người trí thích sông). Điều đó lí giải tại sao đề tài “đăng cao vọng viễn” lại xuất hiện nhiều trong thơ ca cổ điển. Họ muốn đăng cao với khát vọng hòa nhập vào vũ trụ. Thế nên trong thơ cổ điển, đặc biệt là thơ Đường, khi muốn biểu đạt cái không gian khoáng đạt của vũ trụ bao la thì các thi nhân thường dùng hình ảnh cánh chim, chòm mây để diễn đạt chiều cao và cái mênh mông của vũ trụ.

Trong bài Đăng cao của Đỗ Phủ ta thấy xuất hiện một cánh chim bay lượn giữa bầu trời cao và bãi cát dài trắng xóa:

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai,
Chử thanh sa bạch điểu phi hồi.
(Gió gấp trời cao vượn nỉ non – Bến trong cát trắng lượn chim cồn)

Hay trong thơ Trần Nhân Tông ta cũng bắt gặp một cánh chim “bạch âu”, một chòm mây nhàn tản:

Thủy minh, sơn tĩnh, bạch âu quá,
Phong định, vân nhàn, hồng thụ sơ.
(Lượng Châu vãn cảnh)
(Nước sáng, núi im, cánh chim âu trắng bay qua – Gió im, mây nhàn, cây lá đỏ lơ thơ)

Và sau này Huy Cận cũng đã kế thừa:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
(Tràng giang)

Như vậy hình ảnh cánh chim, chòm mây là hình ảnh mà Bác đã tiếp nhận từ thơ ca truyền thống.

Bên cạnh đó chúng ta còn nhận thấy trong hai câu thơ đầu Bác đã sử dụng những “mã” đặc biệt của Đường thi. Đó là từ cô trong cô vân, từ không trong thiên không. Từ cô thường kết hợp một ít với danh từ và một ít với động từ. Có sự hiện diện của từ cô cảnh vật sẽ trở nên đơn lẻ: thuyền cũng thành cô chu, cô thuyền, cô bồng; mây cũng thành cô vân; đèn cũng thành cô đăng… Tất cả những hình ảnh gắn kết với từ cô thường gợi cho người đọc liên tưởng đến tâm trạng cô đơn, sầu não đang ẩn khuất trong tâm tư của nhân vật trữ tình.

Lí Bạch đã từng viết:

Chúng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn
(Độc tọa Kính Đình sơn)
(Chim bầy vút đi mất
Mây lẻ đi một mình)

Hay trong bài Xuân Đán của Chu Văn An:

Thân dữ cô vân trường luyến tụ,
Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan.
(Thân ta cùng đám mây cô đơn mãi mãi lưu luyến hốc núi – Lòng giống như mặt giếng cổ, chẳng hề gợn sóng)

Phan Ngọc khi đề cập đến không gian trong thơ Đường đã có nhận xét xác đáng: “Vì nhiệm vụ trong thơ Đường là nêu lên tính thống nhất cho nên không gian chiếm một chỗ rất lớn trong thơ Đường. Không gian này là không gian trống không, không khác gì bầu trời trống không trong quốc họa Trung Quốc” (2).

Trong thơ Đường, để biểu đạt hình ảnh bầu trời trống không ấy các thi nhân thường dùng từ không:

Bạch vân thiên tải không du du.
(Hoàng Hạc lâu – Thôi Hiệu)

Cô phàm viễn ảnh bích không tận.
(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng – Lý Bạch)

Ở đây, Bác cũng đã vận dụng lại từ không để biểu đạt tính chất của bầu trời trong bức tranh thiên nhiên, tạo hiệu quả đối lập giữa chòm mây lẻ loi và bầu trời rộng lớn từ đó nhằm khắc họa sâu sắc hơn tâm trạng của chủ thể trữ tình.

Bên cạnh đó chất cổ điển còn thể hiện sự cảm thức về thời gian. Thi nhân không miêu tả trực tiếp về thời gian mà thông qua sự vận động của cảnh vật, người đọc có thể cảm nhận được: Hoàng hôn đang dần buông xuống. Trong trường hợp này thủ gợi quen thuộc của Đường thi đã được vận dụng một cách tài tình. Thời gian không được nhắc đến bằng những từ “chuyên dùng” như “mộ”, “hoàng hôn”, “vãn”…, mà thi nhân sử dụng “hình ảnh” biểu trưng cho thời gian. Đó là cánh chim bay về núi. Hình ảnh thời gian này cũng mang tính truyền thống:

Chim hôm thoi thót về rừng.
(Truyện Kiều)

Chim bay về núi tối rồi.
(Ca dao)

Đến hai câu thơ cuối:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.

Ta thấy không gian và thời gian đã có sự hoán đổi. Từ không gian vũ trụ, thi nhân lại quay về với không gian đời thường: Khung cảnh lao động của một cô gái miền sơn cước với công việc thường nhật: Xay ngô và bếp lửa hồng rực đỏ. Có thể nói đây là nét độc đáo của thơ Bác. Khi ta đọc những bài thơ tứ tuyệt của thơ ca cổ điển thì thường hoặc là bài thơ ấy tả không gian vũ trụ hoặc là chỉ nói không gian đời thường nhưng ở Mộ, Bác đã diễn đạt được cả hai phạm trù không gian ấy trong một bài thơ chỉ vẻn vẹn 28 âm tiết.

Như trên đã nói hai câu thơ cuối tác giả đã vẽ nên một không gian rất đời thường, tuy nhiên cái ánh lửa hồng ở cuối bài thơ là ánh sáng duy nhất trong không gian vũ trụ đang tràn ngập một màu tối. Chữ hồng (紅) ở cuối bài thơ đã trở thành “nhãn tự”.

Trong cấu tứ độc đáo của Đường thi – gợi liên tưởng từ sự đối lập, các thi nhân thường dùng cái xa để nói cái cao:

Dục cùng thiên lí mục
Cánh thướng nhất tằng lâu.
(Đăng Quán Tước lâu – Vương Chi Hoán)
(Muốn tầm mắt nhìn thấu ngàn dặm –
Hãy lên một tầng lầu)

Có thể nói động để tả tĩnh:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn.
(Tự tình – Hồ Xuân Hương)

Như vậy ở đây thi nhân đã dùng sáng để nói tối. Nhà thơ không hề nói tối mà người đọc vẫn cảm nhận được không gian đang dần phủ một màu tối. Càng tối nên ánh lửa càng rõ, càng rực rỡ hơn. Thế nên không cần nói gì đến chữ “tối” mà người đọc vẫn cảm nhận được thời gian đang dần tối. Thời gian như luân chuyển theo cái nhịp xoay đều của chiếc cối xay ngô.

Đến hai câu thơ này ta mới cảm nhận được cái mới mẻ trong nhân sinh quan của thi nhân – một nhà thơ cách mạng. Các thi nhân xưa khi gặp cảnh ngộ đau buồn thì họ thường bất lực bế tắc, không làm chủ được hoàn cảnh. Còn ở đây nhà thơ đang trong cảnh ngộ éo le đau khổ nhưng nhà thơ lại nhận ra được một cuộc sống khỏe khoắn tươi đẹp ngay trong cảnh ngộ éo le đó. Tứ thơ chuyển đổi bất ngờ đã chứng minh cho cái nhìn đầy tích cực và lạc quan ấy. Nếu ở hai câu khai thừa, thiên nhiên hiện ra buồn bã và ảm đạm thì ở hai câu chuyển hợp cảnh sắc đã trở nên tươi tắn đầy sức sống. Cả không gian như được tỏa sáng bởi ánh hồng của bếp lửa – Ánh lửa của cuộc sống bình dị mà tràn đầy niềm tin. Đấy không phải là nét mới trong thơ Hồ Chủ tịch đó sao?

3. Bài thơ còn thể hiện cái nhìn của Bác đối với con người. Hình ảnh con người hiện ra làm cho bức tranh thiên nhiên buồn bã bỗng trở nên có sức sống và linh động hơn. Màn đêm dần buông xuống, bóng tối chực phủ đầy cả không gian. Con người đã kịp nhen lên bếp lửa hồng ấm áp. Ánh sáng, hơi ấm con người đã mang lại niềm vui cho bước chân kẻ lữ thứ. Trong cảnh ngộ đau thương của mình, Bác vẫn tìm thấy niềm vui từ cuộc sống lao động của một người dân Trung Hoa nào đấy trên đất Quảng Tây. Đây không phải là một cảm xúc bất chợt mà nó thường trực trong tấm lòng yêu cuộc sống, yêu con người thiết tha của Bác. Bác thương người phu làm đường vất vả (Phu làm đường), Bác xúc động khi nghe tiếng khóc của cháu bé ở trong ngục (Cháu bé ở nhà ngục Tân Dương). Bác cảm thương trước cảnh nông dân ở Long An – Đồng Chính mất mùa và vui sướng trước vụ mùa thành công của họ:

Xứ xứ nông dân nhan đới tiếu,
Điền giang xung mãn xướng ca thanh.
(Dã cảnh)
(Nơi nơi nông dân mặt mày hớn hở – Ruộng đồng tràn đầy tiếng ca hát)

Đọc thơ Đường luật ta vẫn thường thấy một điều: Khi nhân vật trữ tình mang tâm trạng sầu khổ cô đơn thì ở những câu cuối bài họ thường bộc lộ sự chạnh lòng cho nỗi niềm của chính mình. Chẳng phải vậy mà trong một buổi chiều trên đèo Ngang, trước nỗi cô đơn và niềm hoài cổ sâu nặng, Bà Huyện Thanh Quan đã thốt lên:

Dừng chân đứng lại trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
(Qua đèo Ngang)

Hay Thôi Hiệu trong một buổi chiều trên lầu Hoàng Hạc, bất giác cũng bật lên nỗi sầu tư hương:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn –
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai) (3).
(Hoàng Hạc lâu – Thôi Hiệu)

Bác cũng có thể kết thúc bài thơ theo hướng đó và không phải vì thế mà thơ Bác không hay. Nhưng điều đó đã không xảy ra ở Chiều tối và rất nhiều bài thơ khác trong Nhật ký trong tù Bác không hề ta thán cho cái nghịch cảnh lao lung của chính mình mà vẫn nặng lòng với thiên nhiên chan hòa cảm thông, chia sẻ với cuộc sống nhọc nhằn gian khổ của những con người lao động. Phải là bậc đại nhân, chí nhân mới có thể quên hết nỗi đau của mình để trải lòng với những con người cần lao mà Bác không hề quen biết đến như vậy.

Đọc Mộ, chúng ta thấy một chất Đường thi đã bén rễ xanh cây ấy vậy mà hoa trái lại ngọt ngào ý vị nhân sinh trong cái nhìn của một người chiến sĩ cách mạng – một cái nhìn nhân sinh hết sức lớn lao, vĩ đại.

Trầm Thanh Tuấn
(GV Trường THPT Long Hiệp, tỉnh Trà Vinh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 402

———————————————

(1) Vân đài loại ngữ – Lê Quý Đôn.
(2) Cái hay của thơ Đường.
(3) Tản Đà dịch.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quyển Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, Viện Văn học, NXB KHXH, 1997.
2. Hồ Chí Minh, Nhật ký trong tù, NXB Đà Nẵng, 2000.
3. Phan Ngọc, Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, NXB Trẻ, 1995.

Ý Kiến bạn đọc