Tản văn

Miền đất đội tên nấm mồ người con gái anh hùng

Cách Đây Đúng 51 Năm, Vào Năm 1967, Tôi Đã Được Nghe Ông Nguyễn Viết Khải – Tức Nhà Văn Mặc Khải, Quê Ở Vĩnh Long – Kể Chuyện Về Nàng Thị Cư Giết Cọp Cứu Dân Ở Vùng U Minh Và Nấm Mồ Của Cô Gái Rất Hào Hiệp Ấy Đã Trở Thành Một Địa Danh. Mấy Mươi Năm Qua, Tôi Hằng Ao Ước Được Đến Thăm Miền Đất Ấy. Những Năm Tháng Trước 1975, Do Cuộc Chiến Tranh Ác Liệt, Sự Đi Lại Không Dễ Dàng Và Sau Khi Hòa Bình Được Lập Lại, Do Nhiều Công Việc Bận Rộn Nên Chưa Thực Hiện Được Mơ Ước Ấy. Mãi Đến Ngày 6 Tháng 12 Của Năm 1997, Nhân Xuống Dự Lễ Bế Mạc Của Trại Sáng Tác Do Hội Văn Nghệ Kiên Giang Tổ Chức, Tôi Mới Có Được Dịp May Theo Chân Anh Đoàn Công Thiện, Chánh Án Ở Huyện Gò Quao Và Anh Tiến Nam, Trường Phòng Văn Hóa – Thông Tin Của Huyện Đến Thăm Mảnh Đất Còn Ghi Dấu Vết Của Người Con Gái Được Kể Như Một Anh Hùng Ở Trong Quần Chúng, Đầy Nét Huyền Thoại.

Từ thị xã Rạch Giá theo một con đường rải nhựa về hướng đông – nam độ 47 cây số là đến huyện Gò Quao. Nếu ngày xa xưa cây giá mọc đầy ở ven các rạch hay vùng tỉnh lỵ Kiên Giang nay kể như đã tuyệt chủng, thì ở nơi đây cây quao vẫn còn thấy mọc rải rác trên các bờ kinh. Đó là một loài cây dại có thể cao lớn nếu sống nhiều năm, với đặc điểm là các trái đều có hình thù cong queo. Tiếng quao, đồng nghĩa với queo, hẳn đã thành tên cho loại cây này. Một câu dân ca còn lại của người Khmer “bao giờ tìm được hai trái quao thẳng thì chúng ta sẽ nên vợ nên chồng” là lời chối từ dứt khoát của cô con gái, vừa khẳng định rõ đặc điểm của trái quao.

Chúng tôi, ra đi lúc 7 giờ sáng, hẹn gặp nhau ở văn phòng Huyện ủy. Ngồi sau chiếc xe Honda của anh Đoàn Công Thiện, tôi mải mê nghe anh kể chuyện xưa – những ngày đánh Mỹ, ngôi chùa người Miên bị giặc ném bom giết hại hàng trăm đồng bào lánh nạn… – và kể chuyện nay, một nhà máy đường hiện đại ở vùng Bến Nhứt đang hồi thi công… Và dầu đi trước, chúng tôi lại là những kẻ đến sau. Anh Tiến Nam, tác giả truyện ngắn Ông Hai Ròng Ròng và cô Việt Hà, một nhà nhiếp ảnh tự do, đã về tới đích trước 15 phút.

Anh Tư Tình ở văn phòng Huyện ủy tiếp đón chúng tôi một cách ân cần, và hẹn chúng tôi về dùng cơm trưa ở tại trụ sở. Anh Đoàn Công Thiện liên lạc điện thoại với công an huyện, và được đồng chí Sáu Kiên, Trưởng Công an huyện, sẵn sàng cung cấp phương tiện để cho chúng tôi lên đường.

Đúng 9 giờ rưỡi, chúng tôi bước xuống chiếc vỏ lãi do trung úy Lê Văn Sữa điều khiển. Trước khi chạy ra dòng sông Cái Lớn, xuồng ghé lại chợ để anh trưởng Đài truyền thanh của huyện, là Nguyễn Hữu Trọng – cùng đi với đoàn – ghé mua tặng tôi cuốn phim vì chiếc máy ảnh mà tôi mang theo đã hết phương tiện ghi hình.

Chiếc vỏ lãi bằng composite, khá nhẹ và chắc, gắn máy hiện đại lướt nhanh giữa dòng sông nước đang lớn mênh mông, sủi bọt trắng xóa ở phía sau đuôi. Mặc cho chiếc xuồng chòng chành vun vút lướt nhanh và những giọt nước bắn lên ướt đẫm tay áo, cô Việt Hà vẫn xoay người về phía sau xuồng, cố gắng thu hình của anh trung úy đang cầm tay lái nổi rõ trên nền bọt sóng.

Vượt 5 cây số trên sông Cái Lớn thì chiếc vỏ lãi rẽ trái, vào một nhánh sông gọi Xép Ba Tàu. Đi thêm chừng hai cây số thì xuồng chậm lại, tiếp tục rẽ trái, là rạch Thị Cư. Được 100 mét nữa thì xuồng ghé vào bờ rạch bên mặt. Lên bờ, nhìn vào độ 60 mét thì thấy một chiếc miếu nhỏ lợp lá ẩn dưới tán cây rừng và lá dừa nước mọc chung quanh.

Anh Đoàn Công Thiện vào nhà ông Nguyễn Văn Quí, người có nhiệm vụ chăm sóc ngôi miếu, và ít phút sau đã cầm một nắm nhang lớn cùng ông đi ra. Chúng tôi cùng kéo vào miếu, bước qua những đám lá rừng mục dày nhiều nơi mặt đất ngập đầy những nước. Anh Thiện đốt nhang, cắm trước bức tượng nhỏ được nắn bằng đất một cách thô sơ, tô điểm hết sức đơn giản, hình tượng gợi nhớ đến người thiếu nữ gan dạ ngày nào. Ông Quí cho biết vào thời chiến tranh miếu bị đốt cháy tan tành, cũng như khắp cả vùng U Minh Thượng chất độc khai quang đã biến thành vùng đất trắng. Sau ngày giải phóng, một người nông dân ở địa phương này là ông Ba Liễn kêu gọi anh em góp công để xây dựng lại. Người dân vốn nghèo nên miếu cũng chỉ lợp mái, che vách toàn bằng dừa nước. Cách đây hai năm, ông Tám Lăng ở vùng này đem đến cho miếu một bức tượng nhỏ. Và nhiều năm qua, một người họ Hồ quê ở Cái Đước, Giồng Riềng vẫn ghé lại miếu đốt nhang đến ba, bốn lần hàng năm. Theo với địa danh hiện nay thì miếu thuộc ấp Phước Bình, xã Vĩnh Phước, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Ông Nguyễn Văn Quí đưa chúng tôi vào ngôi nhà của ông, khá rộng, lợp bằng dừa nước, chung quanh mọc đầy những dừa. Chủ nhà hái dừa để chiêu đãi đoàn. Sự tích về nàng Thị Cư đánh cọp được ông kể lại với nhiều dè dặt, bởi ông Chín Quí cũng chỉ nghe lời truyền miệng từ những lớp người cao niên, và lớp người này lại được tiếp thu theo lối truyền khẩu của những lớp người đi trước. Câu chuyện xảy ra có lẽ từ vài trăm năm, và được biết đến như một truyền thuyết có nhiều thêm, bớt qua những người kể, nên mấy thập niên gần đây có nhiều nhà văn miền Nam như là Mặc Khải, Đoàn Giỏi, Sơn Nam, Anh Động… đều có viết về Thị Cư, tùy theo sự tiếp nhận được từ một nguồn kể nào đó và tùy theo sự chế tác của mình để mà lôi cuốn người đọc.

Cốt lõi câu chuyện như sau: Ngày xưa, miền này gồm những rừng rậm, hoang vu, dưới sông đầy sấu, trên bờ đầy cọp, những người khai khẩn đầu tiên luôn phải đối phó với một thiên nhiên bất trắc khôn lường. Có ông Tư Hưng, gốc người Bình Định, vào Nam lập nghiệp cùng cô con gái tên là Thị Cư, ở tuổi đôi mươi, sớm mồ côi mẹ, đều là những người võ nghệ cao cường. Khi đến đốn củi, khẩn hoang vùng này, cha con ông Tư đã phải nhiều lần đối phó với cọp và đã giết chết nhiều con cọp dữ quấy phá trong vùng. Cuối cùng, trong một trận đấu với bầy cọp dữ, cô nàng Thị Cư bị cọp sát hại. Người cha đau khổ, sau khi chôn con nơi mảnh đất này, đã tiến về miền đất khác để mà sinh sống. Dân chúng trong vùng thương cảm, biết ơn cô gái đã vì sự an lành chung mà đành hi sinh mạng sống, lập miếu để thờ. Mấy trăm năm qua, ngôi mộ của nàng không còn, nhưng cả vùng đất, từ đấy, có cái tên gọi là Mồ Thị Cư.

Các câu chuyện kể về nàng Thị Cư, qua các tác giả, có những chi tiết khác biệt như sau: Ông Tư Hưng có đến ba con, hai trai, một gái. Ở tác giả khác, ông có đến bảy người con mà nàng Thị Cư là út, nên được gọi quen Cô Tám Thị Cư. Về cọp, có người nói rằng cô phải đánh với chín con, và hạ được con thứ tư thì bị giết chết. Có người cho cô giết được cả bầy. Riêng về cái chết của cô thì sự tưởng tượng của nhiều tác giả cũng khá phong phú. Sau ngày giải phóng, Sở Văn hóa tỉnh Kiên Giang có cho ấn hành một tập truyện bằng tranh về nàng Thị Cư, trong đó tác giả Anh Động kể rằng trong lúc đánh cọp, cô gái vì nhảy khá cao để tránh miếng đòn của loài thú dữ nên để mái tóc bới trên đỉnh đầu móc vào một cành cây gừa khiến cô bị treo lơ lửng nên người cha cô đã vội nhảy lên, lật ngược lưỡi mác vớt trái vào nhánh cây gừa để cô rơi xuống, song ngay lúc ấy con cọp đã nhảy theo ông lôi chân ông lại, khiến cho lưỡi mác hụt xuống chém ngay vào cổ con mình. Thân thể cô Cư rơi xuống, chiếc đầu còn vướng ở trên cành gừa…

Trong tập “Truyền thống Anh hùng” của xã Vĩnh Phước, do ông Thiện Cẩn biên soạn, thuộc Ban Tuyên giáo Huyện ủy Gò Quao (1997) thì cái truyền thuyết về Mồ Thị Cư có lẽ đã được chép theo sự hư cấu ấy, của ông Anh Động.

Qua câu chuyện kể của ông Chín Quí, người giữ miếu nàng Thị Cư, và qua khá nhiều người khác đã viết về cô gái anh hùng này thì không hề có chuyện cha đã giết con mình như thế. Đa số kể rằng vì phải giao đấu với nhiều cọp dữ, Thị Cư quá mệt lại bị búi tóc trên đầu xòa xuống che lấp cả mắt, nên không tránh kịp ngón đòn của cọp mà phải hi sinh.

Trong một tác phẩm ấn hành cuối năm 1997, là Kiên Giang qua ca dao, ông Giang Minh Đoán có cho đăng tải ở phần Phụ lục câu chuyện Thị Cư đánh cọp của cô Minh Phượng, được trích từ bán nguyệt san Nắng Mới, ở mục “Chuyện xưa, bóng cũ”. Theo cô Minh Phượng, Thị Cư đã bị cọp vồ vì quá đuối sức trong khi cha cô – là ông Tư Hưng – đang phải giao tranh với loài thú dữ. Cuối chuyện, là những chi tiết đầy tính mê tín và nét hoang đường thường gặp trong các chuyện xưa: nào cọp cướp xác, trả xác, rồi lại đào mồ Thị Cư cướp lấy sọ đầu, nào chuyện cô gái lên đồng, đòi hỏi bà con phải lập miếu thờ. Và cũng theo cô Minh Phượng thì nàng Thị Cư họ Hồ, và chỗ nàng đã giết cọp, hi sinh, được người ta gọi xóm Hồ Thị Cư.

Qua nhiều người kể, cô gái đều được xác định thuộc về họ Hồ. Và người họ Hồ, quê ở Cái Đước, Giồng Riềng hiện nay vẫn đến thăm viếng miếu nàng Thị Cư – mỗi năm đến 3, 4 lần – phải chăng thuộc trong thân tộc của nàng? Nếu thế thì gọi xóm Hồ Thị Cư, hay Mồ Thị Cư, vẫn là phù hợp. Mặc dầu qua bao dâu bể cuộc đời nấm mồ của người con gái đã không còn nữa, nhưng còn mãi đấy tấm lòng tưởng nhớ của người dân Vĩnh Phước, của huyện Gò Quao, và cả vùng U Minh Thượng cũng như của khắp mọi miền đất nước về người con gái dũng cảm, chấp nhận đương đầu với gian nguy để góp phần đem an lành lại cho đồng bào. Cái chết của nàng đã khiến cho nàng bất tử. Và còn mãi đấy ngôi miếu Thị Cư, cũng như còn mãi con rạch mang tên của nàng. Mấy trăm năm đã trôi qua, song hình ảnh sống động về người con gái dân dã mang nhân cách bất khuất trước những áp lực xấu xa, cùng sự gan dạ đối đầu lại những đe dọa man rợ – tượng trưng là bầy cọp dữ – đã vì những người đồng cảnh, đồng bào chấp nhận hi sinh mạng sống của mình, cái hình ảnh ấy cũng đầy tính cách cao cả, thiêng liêng quyến rũ hồn người.

Mong rằng một ngày nào đó ngôi miếu Thị Cư lại được trùng tu, để được tồn tại vững bền ở trên bờ rạch mang tên của nàng vì đó là một di tích quí giá mang cái truyền thống anh hùng dân dã vô cùng quảng đại. Và nếu ta không có sử sách nào ghi lại trung thực hành động của nàng, thì mong rằng nhiều thế hệ đến sau sẽ không vì thế mà làm cho cuộc đời nàng, và cái chết của nàng, mang thêm những nét thương tâm. Tại sao lại không cho rằng nàng đã giết đến con cọp thứ mười, hay thứ hai mươi, tại sao lại không nghĩ rằng nàng đã liều mình cứu cha đang sắp bị loài cọp dữ phân thây nên đã bị chúng sát hại?

Thị Cư là một con người có thật, và chuyện nàng đã đánh cọp vốn là sự thật, như miếu và rạch vẫn còn có đấy minh chứng cho sự tích nàng. Vậy mong những ai muốn viết về nàng, hãy tạo nên câu chuyện kể đẹp nhất, và hào hùng nhất.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 508

Ý Kiến bạn đọc