Truyện ngắn

Mèo hoang

Đêm nào cũng vậy, chúng tôi xong việc vào tầm 1 – 2 giờ sáng. Kế hoạch tiếp theo là ghé vào một quán ăn nào đó. Nơi này phải xa nơi chúng tôi vừa biểu diễn đủ để không ai trong số những người có tham gia sự kiện nhận ra chúng tôi. Nhạc công vô danh như chúng tôi thì không có fan hay truyền thông quấy rầy, nhưng chỉ cần một ánh mắt chững lại, như phân vân, như cố nhớ cũng khiến chúng tôi thấy nặng nề. Biểu diễn chỉ đơn giản là công việc kiếm tiền, nên xong là hết! Chúng tôi không muốn dính líu gì tới công việc nữa.

Thường, chúng tôi đi qua cầu Nguyễn Văn Cừ về phía quận 8. Nếu tiếp tục đi thẳng sẽ tới khu nhà giàu Phú Mỹ Hưng, nhưng nếu đi ngược về gầm cầu thì vẫn còn dấu vết của một khu vực bình dân, thời mà con đường Dương Bá Trạc là một con đường nhỏ xấu xí, nhà cửa lụp xụp. Chúng tôi là khách quen của cả một góc đường bên hông cầu. Nơi đó có một tiệm bít-tết, bên cạnh là tiệm cơm chay, trước hai tiệm này là xe bánh mì, bên kia đường là quán cà phê, đi qua gầm cầu là quán cháo gà, cháo vịt. Nơi đây không có khái niệm cạnh tranh thương hiệu. Khách ngồi ở tiệm này có thể gọi món ở tiệm khác. Gần thì khách la to, có khi chính các chủ tiệm lớn tiếng gọi món dùm, xa chút thì gọi di động.

Do thầy tôi ăn chay trường nên chọn được nơi này là lí tưởng. Hơn nữa, ăn uống xong, ông sẽ tự đi bộ qua cầu Rạch Ông về nhà. Mấy lần tôi đề nghị chở ông về nhưng ông từ chối. Nhìn qua con đường Trần Xuân Soạn về đêm thấy khung cảnh khá ảm đạm, nhếch nhác, tôi đoán có thể do chỗ ở của ông không tiện có khách.

Đêm nay vừa trông thấy tôi, chị bánh mì nhanh nhẩu mời chào:

- Ngồi đi anh Công, ngồi bàn ngoài này cho mát.

Chúng tôi hay chọn bàn kê ở lề đường. Con đường này ồn ào suốt đêm. Kèn xe kêu, hú liên tục. Xe tải, container nối tiếp nhau liên tục qua cầu, thân cầu rung chuyển, phát ra âm thanh như tiếng rên rỉ, càng khuya nghe càng khó chịu. Dưới gầm cầu cũng lắm xe tải, xe tưới cây cho công viên, xe chở hàng, xe chở vật liệu xây dựng, xe bơm bê tông cho các căn nhà đang khẩn trương nâng cấp thành tiệm spa, khách sạn mini.

Thấy chị bán bánh mì đang sốt sắng chờ gọi món, mà cũng đã mấy lần tôi nhờ chị ta gọi dùm món ở các tiệm khác rồi, nên lần này tôi gọi:

- Chị cho một bánh mì ốp-la 2 trứng, gọi dùm cà phê luôn nhe chị.

Có lần tôi đề nghị ông thầy gọi luôn bánh mì ốp-la cho tiện nhưng ông lắc đầu:

- Tôi ăn chay thuần.

Thấy tôi có vẻ chưa thông, ông giải thích:

- Là không ăn sản phẩm từ động vật.

Không biết lợi ích của việc ăn chay thuần ra sao, nhưng theo tôi thấy, thời gian gần đây ông có vẻ hốc hác, bi quan, thất thường. Tôi vào trường nhạc năm 13 tuổi, lúc ấy tôi thấy ông rất già; theo năm tháng tôi lại thấy ông chỉ là già, nhất là từ khi ông gia nhập nhóm của tôi, khoảng cách tuổi tác không còn quá lớn nữa. Dạy đàn thì tôi có ưu thế hơn ông. Tôi chấp nhận các mục tiêu của người học đàn, đại loại như để giải trí, để tạo hình tượng, để phụ huynh khoe con… Có lần thấy tôi ngồi cặm cụi cắt giấy ghi các chữ số để học trò dán vào phím, mục tiêu là sau một tháng chúng có thể biểu diễn, ông nhìn tôi, cái nhìn như kiểu cạn lời! Cũng thường thôi! Sao tôi lại để con mình có ông bố nghèo kiết xác khi bản chất cuộc sống là sự khác biệt? Nhưng biểu diễn ở các sự kiện thì ông ưu thế hơn tôi. Ông chơi pop ballad rất hay, cả khi biểu diễn lẫn khi đệm.

Ở nhạc viện, học sinh gọi ông là sát thủ. Ông coi thi khó, học trò ông rớt rất nhiều, nhất là khi thi vấn đáp, chủ yếu do thần thái của ông làm tụi nhỏ mất tập trung. Hồi đó tôi có cô bạn gái học khoa sáng tác. Cô này nhờ tôi thi hộ để cô đi thực tập ở một trường khác. Tôi lại phải nhờ thằng bạn thân thi hộ tôi, có vậy tôi mới rảnh tay đi giúp cô ấy. Bạn tôi kể có lần tưởng bị ông phát hiện, nhưng may, cuối cùng cũng thoát. Hồi ấy chúng tôi thường tụ tập ở quán cà phê, lên kế hoạch, nhắn tin cho nhau liên tục, cảm giác rất hồi hộp. Hóa ra chẳng để làm gì cả, chẳng đi đến đâu cả! Vì bạn gái tôi sau lấy chồng, không phải tôi, rồi họ mở một tiệm bán dụng cụ thể thao. Thằng bạn tôi xuất cảnh theo bên vợ, qua đó cũng đổi nghề. Tôi theo hệ đại học ít lâu rồi bỏ học. Ông thầy tôi cũng không dạy ở nhạc viện nữa.

So-520--Tan-bo-duoi-nang---Astrid-Brunging---Anh-1
Tản bộ dưới nắng – Astrid Bruning.

Nhưng tính thật kỹ ra, thì vẫn còn một phần nhỏ của kế hoạch năm xưa còn tồn tại trong thế giới của chúng tôi. Đó chính là ông thầy đang ngồi cạnh, gầy gò, lạnh lẽo như xác chết. Lúc nhỏ tôi cũng rất sợ ông. Tôi thấy ông tỏa sáng, tài năng đến khó hiểu, nhưng xa cách, xa tới nỗi tưởng như ông và tôi không có mối liên hệ nào. Tuy nhiên, sau vài lần được ông ưu ái, tôi thấy ông cũng không đáng sợ lắm. Có lúc tôi tự hỏi: Nếu lúc trước ông không đối xử với tôi như một tài năng nhiều triển vọng, thì liệu ngày nay tôi có sống tốt hơn không?

Có người nói tuổi tác chỉ là con số, có người nói không ai chạy trốn được thời gian. Tôi thấy câu sau có lí hơn. Ông thầy tôi bắt đầu trở nên chậm chạp, lẩn thẩn, thành ra chúng tôi vốn đã ít nói chuyện với nhau giờ càng ít nói hơn. Một trong những hành động lẩn thẩn của ông là ông cứ thích quan sát những người lượm rác. Ban đêm, họ xuất hiện rất nhiều ở khu chúng tôi ngồi ăn vì dưới gầm cầu là nơi người dân hai bên đường mang rác ra tập kết. Các quán ăn cũng góp vào các vỏ chai, ly nhựa, túi xốp, hộp cơm… Có lần không nhịn được, tôi nói:

- Thầy đừng nhìn người ta, nhặt rác thì không ai thích bị nhìn đâu.

Thấy ông có vẻ không đếm xỉa gì, tôi tiếp: 

- Mẹ em nói, hồi nhỏ em rất ghét bị nhìn, hễ ai nhìn là khóc thét. Lớn chút biết đi thì có ai nhìn là chui núp sau tà áo mẹ. Đầu hẻm nhà em có một bà, chả biết sao mỗi lần em đi ngang là bả nhìn chằm chằm. Không biết nhìn cái gì, em không đẹp, không xấu, không nổi tiếng, không tai tiếng. Có lần tức quá, em quay lại nhìn thẳng vào bả, bả vẫn nhìn.

- Giờ bà đó còn nhìn anh không?

- Lâu nay sao em không thấy bả nữa. Chắc sống thực vật đâu đó.

- Sao anh không hỏi bà đó nhìn cái gì?

Tôi nhìn ông:

- Vậy nếu mấy người lượm rác tới hỏi thầy câu đó, thầy trả lời được không?

Nói xong tôi tự thấy mình hơi lố. Sao tôi lại phải căng thẳng với ông? Steve Jobs từng chia sẻ: “Nghĩ khác đi”. Vậy, biết đâu những người lượm rác cảm thấy ấm áp khi trong bóng đêm, dưới gầm cầu, họ cảm thấy có người chú ý tới họ. Từ đó tôi không có ý kiến gì về việc ông thầy tôi thích nhìn ai nữa. Tuy nhiên, khi chị bán bánh mì dọn thức ăn ra, tôi khá bất ngờ khi nghe ông hỏi chị này:

- Cái ông lượm bọc thấp thấp người, có râu sao cả tuần nay không thấy đạp xe ngang đây nữa vậy chị?

Chị bán bánh mì tròn xoe mắt nhìn ông, chắc cũng ngạc nhiên không kém gì tôi:

- Ổng chết rồi, mà chú quen hả chú?

- Không, tôi chỉ hay thấy ổng hay đạp xe ngang qua.

- Bữa đó ổng đi lượm bọc xong, về phòng trọ, rồi kêu mệt, đứa cháu chưa kịp chở đi bệnh viện là chết rồi.

Kể xong, chị ta đứng nhìn chúng tôi, như chờ lời bàn tán. Tôi không muốn làm chị ta thất vọng, nhưng ở cái thành phố xấp xỉ 10 triệu dân này, vào giờ cao điểm, đứng giữa cầu Nguyễn Văn Cừ nhìn thấy đèn xanh ngã tư Trần Hưng Đạo – Nguyễn Văn Cừ bật tới lần 3 may ra mới chạy xe tới dốc cầu được, thì bản tin của chị ta chẳng có chi tiết nào hấp dẫn. Thấy chúng tôi tập trung vào dĩa thức ăn, biết là hết chuyện, chị ta bỏ đi.

Ở chỗ này, phố đêm không bao giờ tịch liêu. Trên cầu, dưới đường xe lớn, xe bé, xe cứu thương, xe cứu hỏa nối đuôi chạy, liên tục phát ra những âm thanh chói tai, chưa kể thỉnh thoảng lại có xe tự chế, xe đạp rao bán hột gà nướng, trứng cút lộn, hột vịt lộn, bắp xào, bánh giò, xôi khúc… Bên kia đường là con sông, lâu lâu tàu chạy ngang, tiếng máy tàu kêu trầm trầm, xa vắng. Đây là thời khắc thú vị trong một ngày. Tôi không phải nhìn đồng hồ, không nghe báo thức, cứ thảnh thơi nhìn đường sá tới khi thấy buồn ngủ thì về. Cũng như mọi hôm, những người lượm bọc đi lại khá đông, có người vào nhặt nhạnh tận bên trong quán. Ông thầy tôi nhìn họ, như ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói:

- Sau khi ba tôi chết, mẹ tôi mang tôi từ Đà Lạt vào Sài Gòn sống. Hồi đó đất không quý như bây giờ, trước nhà tôi ở có bãi đất trống, tụi con nít thường ra đó chơi. Người dân khu đó hay mang rác ra chỗ đó đổ nên người lượm rác kéo tới cũng đông.

Có một ông vui vẻ nhất, trong cái túi to đựng rác của ông luôn có kẹo, ông hay phát cho mỗi đứa một cục, lâu lâu ông còn rút cây Harmonica từ túi áo ra thổi, đám con nít thích lắm. Thích nhất là tôi, vì tôi được ông xoa đầu, có khi ông còn cho 5 cắc, lúc đó cũng mua được cây cà rem. Thời nào cũng vậy, hưởng đặc quyền đặc lợi thì dễ khiến dư luận dậy sóng, mấy đứa con nít mang chuyện về kể cho má nó, rồi mấy bà hàng xóm kéo sang mách chuyện với mẹ tôi.

Bà thì nói:

- Thằng Thiện con chị mặt mày sáng sủa, coi chừng người ta bắt nó bán cho mấy người giàu mà không có con trai.

Bà khác lại bảo:

- Bán cho nhà giàu còn đỡ, sợ họ móc mắt, chặt tay chân con mình cho nó đi ăn xin.

Mẹ tôi tỏ ra rất sợ hãi, cả ngày và cả đêm, bà hỏi đi hỏi lại những câu như: “Ông đó cao hay thấp?”, “Ông đó nói gì?”, “Ông đó biết con ở đâu không?”, “Ông đó có cho tiền đứa nào khác không hay chỉ mình con”. Rồi bà cấm không cho tôi ra ngoài chơi, dặn đám trẻ con không được tiết lộ chỗ tôi ở. Vài ngày sau, vào ban đêm, bà nhanh chóng chuyển chỗ ở.

Mẹ tôi thuê một cái gác ở ngoại ô, rất xa chỗ cũ. Cả ngày, trừ lúc đi học, hai mẹ con tôi chỉ sống quanh quẩn trên gác. Bà không đi làm như trước mà nhận quần áo về thùa nút. Cả ngày cặm cụi đơm, mấy đầu ngón tay bà đau nhức, sưng lên, mãi tới lúc già bà vẫn thấy đau. Bà ngồi ở góc nhà, vừa giảng lí thuyết, vừa là nguyên mẫu, vừa thị phạm cho tôi thấm thía triết lí sống của bà. Nguyên tắc thứ nhất là không bạn bè. Bà nói:

- Lo học hành chăm chỉ, sau này đỗ đạt, mình đi làm, mang tiền về lo nội trong cái gia đình của mình, lo cái bổn phận của mình là thôi, không ai xem thường mình được hết. Không cần bạn bè làm gì.

Kèm theo, bà dẫn chứng chính cuộc sống cô độc của bà.

Nguyên tắc thứ hai là tiết kiệm. Bà nói:

- Giàu mà ăn xài không biết lo cũng thành nghèo chứ đừng nói là không giàu. Phải luôn tiết kiệm để dành tiền, cuộc đời có biết bao nhiêu thứ bất ngờ xảy ra, lúc đó lại nháo nhào đi vay đi mượn.

Kèm theo, bà dẫn chứng từ những người hàng xóm thỉnh thoảng vẫn chạy qua vay tiền bà. Xa hơn là những câu chuyện trong dòng họ, những con người tôi không hề biết mặt, có điểm chung là một thời trẻ sống hoành tráng và cuối đời nghèo đói, làm thuê, chết đường chết chợ.

Hai nguyên tắc đó được bà loại trừ thế giới văn nghệ sĩ. Bà nói bằng giọng khinh bỉ:

- Ôi, mấy người đó họ đâu sống giống mình!

“Giống mình” tức là theo hai nguyên tắc trên. Hồi đó, tôi chỉ biết thế giới hiện thực qua mô hình căn gác nhà tôi thuê, trong đó có mỗi một con người, là mẹ tôi, vì thật ra tôi đâu được tính vào.

Mấy ngón tay mẹ tôi càng ngày càng bị đau nhiều hơn, mà công việc cũng không kiếm được bao nhiêu. Ít lâu sau, mẹ tôi tìm được việc làm trong quân đội. Công việc của bà là ngồi ở cổng, ghi vào sổ các số xe ra vào trong ngày. Do không thể ở nhà trông chừng tôi, bà gửi tôi học nội trú ở trường Đắc Lộ. Nơi đây, ranh giới giữa tốt và không tốt cũng rất minh bạch dựa trên các nguyên tắc đơn giản, tựa như một phiên bản từ căn gác hai mẹ con tôi; cái khác là họ xem trọng âm nhạc, coi đó là phương tiện để tôn vinh Chúa. Họ sống rất kỉ luật, nên học nhạc hay dạy nhạc đều tận tụy. Tôi học hỏi họ, tham gia ca đoàn, rồi các chương trình truyền hình tôn giáo. Mẹ tôi có khi đi công tác xa nhà mấy tháng, tôi gần như sống trong trường, có lúc tôi nghĩ mình sẽ thành tu sĩ.

Đến năm 75, trường thành một cơ sở giáo dục của nhà nước. Lúc đó phong trào văn nghệ quần chúng rất mạnh. Mẹ tôi thất nghiệp, mang tâm lí từng làm việc cho chính quyền cũ nên dễ dàng cho tôi tham gia văn nghệ, từ phường, quận tới thành phố. Tôi cũng kiếm được ít tiền nhờ đàn khá tốt. Rồi tôi vào trường nhạc.

Kể tới đây, ông im lặng. Tôi tự hỏi câu chuyện của ông thì liên quan gì tới ngữ cảnh hiện tại của chúng tôi lúc này? Mấy hôm nay trời bão, đường phố về sáng thưa vắng, tôi thấy lạnh, muốn ngủ, nhưng cũng cố nán ngồi lại thêm ít lâu. Một lúc sau ông nói tiếp:

- Tai hại là lúc gần chết, mẹ tôi nói cái người nhặt rác năm xưa xoa đầu tôi chính là cha tôi! Mẹ tôi bỏ nhà trốn theo ông, do tưởng tượng ra cảnh sống bên nhau, trong tiếng đàn là vô cùng hạnh phúc. Nhưng chỉ vài năm sau ông bất ngờ bỏ đi. Trước khi chết, cha tôi muốn gặp tôi nhưng mẹ tôi không đồng ý. Mẹ tôi nói vậy để tôi đừng thắc mắc vì sao cha tôi không tìm lại con trai mình. Mẹ tôi cũng cho biết tôi có một người em trai khác cha, phòng khi đám tang bà người này xuất hiện, ấy do bà muốn tìm một người chồng có đầu óc đơn giản hơn, hy vọng sẽ có cuộc hôn nhân bền vững, nhưng rồi vẫn không thành công. Đó là lí do tôi chẳng thấy ông bố dượng có mặt trong đám tang của bà sau đó ít lâu. Và do tốn kém nhiều cho cuộc hôn nhân sau, bà nhờ tôi tự xoay xở lo hậu sự, cố đừng nhờ vả ai.

Ông trầm ngâm, nhìn ra con đường vắng:

- Sao cũng được. Điều tôi thắc mắc là tại sao họ lại cứ nhất định tin cách họ quyết định cuộc đời là đáng giá, khi họ phát điên vì quyết định tương tự của người khác?! Và, nếu họ nghĩ vậy, sao họ lại cố ngăn tôi nghĩ vậy? Cha tôi không cần sự đồng ý của mẹ tôi khi quyết định bỏ đi, vậy sao ông lại cần khi muốn quay trở lại? Sao mẹ tôi lại chế biến tôi thành một cuộc đời có một số chỗ giống hệt, một số chỗ khác hẳn cuộc đời bà. Có vẻ bà muốn được sống một lần hai cuộc đời, trải nghiệm gấp đôi. Ngẫm nghĩ, hình như đời tôi chỉ có vài ba bận tôi quyết định nghĩ khác đi, như lúc tôi lờ việc anh nhờ người thi dùm, mà xem ra cũng chẳng để làm gì nhỉ!

Hình ảnh một ông già đầu bạc, suy nhược, thổn thức, ấm ức mẹ mình trông vừa hài hước vừa bi thảm. Tôi dỗ dành ông:

- Dù sao thầy cũng có công việc của thầy…

Ông ngắt lời:

- Có công việc, có vợ con, có nhà cửa, không gặp tai họa gì… Anh cứ ôm mấy thứ đó mà tự an ủi mình đi, còn mấy chục năm nữa đấy. Tôi chán rồi.

Điện thoại tôi reo, ngoài đường, hàng dài xe tải chở vật liệu xây dựng đi ngang, rầm rộ, khiến tôi phải đứng lên đi vào con hẻm kế bên quán để nhận cuộc gọi. Khi trở lại, tôi không thấy ông đâu?!

Mưa về khuya khiến phố xá tịch liêu, chỉ có đội ngũ nhặt rác là vẫn đông như mọi hôm. Khải, người sau này tôi chọn thế vị trí thầy tôi, tuy hai người không giống nhau lắm, thắc mắc:

- Rồi anh có tìm được thầy của anh không?

- Không. Biến mất!

Tôi chưa tính kết thúc, nhưng Khải có vẻ thờ ơ, không khác mấy thái độ chúng tôi ngày trước sau khi chị bán quán kể chuyện người nhặt rác chết. Tôi thấy mình cũng giống chị ta, như đang chờ một cuộc bàn tán, nhưng đúng là đã hết chuyện. Tôi bảo Khải:

- Mình về thôi, mai còn nhiều sô (show) lắm.

Như thường lệ, Khải nhanh nhảu chạy vào hẻm dắt xe tôi ra. Trong lúc chờ, tôi nhặt nhạnh hai lon bia trên bàn, lấy từ ba lô ra thêm hai vỏ chai Sting, hai hộp nhựa đựng mì từ bữa trưa, chạy nhanh sang đường, bỏ vào đống rác dưới gầm cầu. Khi vừa đặt chúng xuống mặt đất, một con mèo con từ trong lùm cây phóng nhanh tới chỗ tôi như tia chớp. Dường như bản năng sống mách bảo nó đây là cơ hội được nhập đàn. Nhưng đúng lúc tôi tưởng như tóm được, nó bỗng chạy vụt trở lại lùm cây, giống như một bản năng sống khác cùng lúc xuất hiện, mách bảo trốn là cách an toàn nhất. Mưa càng lúc càng nặng hạt, vắng vẻ, tối tăm, giá lạnh… Tôi ngồi xuống, kêu “meo, meo”, nghe ngóng… Chỉ thấy im lặng! Có lẽ con mèo đã quyết định ở lại với cái thế giới mà nó đã quen…

Lê Linh Chi
(Q.5 – TP. Hồ Chí Minh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 520

Ý Kiến bạn đọc