Tản văn

Mẹ ơi! Con đã về

Khi khoác ba lô vào chiến trường miền Nam, hình ảnh mẹ tiễn đưa tôi ở vườn Bách Thảo (Hà Nội) và lời mẹ dặn: “Con đi mạnh khỏe, trở về nguyên vẹn…” cứ theo tôi suốt những năm tháng ở chiến trường. Qua bom đạn của chiến tranh tôi may mắn chỉ sứt mẻ sơ sơ. Hòa bình đất nước nghèo xơ xác, mẹ dậy sớm xếp hàng mua từng lạng thịt, bìa đậu bằng tem phiếu để bồi dưỡng cho tôi – đứa con trở về. Những năm tháng ấy mẹ còn khỏe mạnh, nhanh nhẹn – dù cuộc sống chồng chất khó khăn. Nhà ở tầng 4 khu tập thể, nước ri rỉ, điện phập phù, đồng lương còm, tiền nhuận bút ít ỏi của ba nhưng mẹ vẫn vui vì hai đứa con từ mặt trận trở về còn nguyên vẹn.

Mẹ tôi dắt díu 3 đứa con trai từ quê hương Đức Thọ, Hà Tĩnh ra Hà Nội năm 1955 vì khi ấy ba đang công tác ở báo Nhân Dân. Làm ở Công ty Nông thổ sản từ năm 1955 đến 1962, mẹ chuyển sang làm cán bộ thư viện Hội Nhà văn Việt Nam. Một mình mẹ cai quản hàng vạn cuốn sách báo có từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Nhập, vào sổ, cho mượn, nhận trả lại – từ năm này qua năm khác nhưng mẹ không hề làm thất thoát một cuốn sách, tờ báo nào. Lúc ấy làm gì có phương tiện chống ẩm mốc như bây giờ. Trời nắng mẹ cặm cụi bê từng chồng sách ra ban công phơi. Trời mưa mẹ lại tất bật bê sách vào. Mẹ còn đi học thêm một ít tiếng Pháp để có thể giới thiệu sách nước ngoài cho các nhà văn, nhà thơ. Nhà văn Nguyễn Đình Thi – Tổng thư ký Hội Nhà văn đã nhiều lần biểu dương tinh thần làm việc của mẹ trong những đợt bình xét cuối năm. Năm 1978, mẹ nghỉ hưu ở nhà làm nội trợ, trông cháu. Ba tôi – nhà văn Bùi Hiển vẫn làm việc ở Hội Nhà văn. Năm tháng nhọc nhằn thời bao cấp in hằn lên cuộc sống của mẹ. Mẹ thức khuya dậy sớm, tảo tần, thu vén lo cái ăn cái mặc cho cả nhà. Thương mẹ lắm, cả đời mẹ vất vả lo cho con cho cháu mà mấy anh em chúng tôi cũng chẳng giúp được gì cho mẹ, vì mấy anh em còn nghèo đều phải bươn chải lo cho con ăn học. Tôi ở Biên Hòa mỗi lần hướng ra Hà Nội nghĩ tới mẹ lòng lại xót xa, khắc khoải. Mẹ biết vậy nên chẳng đòi hỏi gì, chỉ nhắc nhở mấy anh em lo làm mà nuôi con ăn học. Thời đổi mới anh em chúng tôi khấm khá hơn, thỉnh thoảng lại biếu mẹ chút tiền, quà bánh. Có lần tôi gửi biếu mẹ một triệu, gọi điện báo, mẹ gạt đi: “Đừng gửi cho mẹ nữa, ba mẹ đủ rồi, con còn phải lo cho con ăn học”. Mẹ tôi là thế, lúc nào cũng chỉ lo cho con cho cháu, không nghĩ tới mình. Tôi biết ba mẹ còn khó khăn. Ấy vậy mà mẹ không nhận đồng tiền từ tôi – vì biết tôi là giáo viên kiếm đồng tiền vất vả. Mẹ chỉ nhận từ hai người anh – khi cần.

So-487--Anh-minh-hoa---Me-oi-con-da-ve---Anh-1

Năm tháng trôi qua mẹ tôi ngày càng già yếu. Buổi sáng mẹ không còn đi xuống phố mua quà sáng, con cá, bó rau, mẹ cũng chẳng thể đi thăm họ hàng, hàng xóm. Lưng mẹ còng xuống, đi lại khó khăn. Mẹ chỉ quanh quẩn trong nhà, túc tắc làm việc nhà, đặt nồi cơm điện, nhặt rau, phơi quần áo. Thỉnh thoảng mẹ ra ban công nhìn xuống đường phố đông đúc người qua lại. Mỗi lần ra Hà Nội thăm mẹ lòng tôi lại trào dâng lên niềm thương xót, hối hận vì do hoàn cảnh chưa lo được cho mẹ đầy đủ. Mẹ xuất thân từ dòng họ Hoàng nổi tiếng ở Đức Thọ, Hà Tĩnh (Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Xuân Nhị…). Những năm kháng chiến chống Pháp ba đi công tác biền biệt, mẹ ở nhà làm ruộng, dệt vải nuôi 3 đứa con. Máy bay giặc Pháp liệng trên bầu trời bỏ bom xuống làng mạc, năm 1952 nước lụt vào tận nhà mẹ chống chọi với tất cả để bảo vệ 3 đứa con trai đang tuổi ăn tuổi lớn. Thời chống Mỹ, mẹ đưa bà nội và con gái đi sơ tán liên miên theo Hội Nhà văn. Khi Bắc Ninh, Thạch Thất, Ứng Hòa – Hà Tây. Vừa lo cho ba đi thực tế ở tuyến lửa khu Bốn, khi gửi tiền khi gửi đường sữa thuốc men để ba có thể bám trụ sáng tác. Lại vừa lo cho bà nội và con cái. Mỗi đứa con một ngả, người là bộ đội ở tuyến lửa, người ở nước ngoài, tôi trong chiến trường miền Nam. Dứt bom đạn mẹ đã vượt qua thời bao cấp khốn khó “giá chợ đen ngoảnh mặt với đồng lương”, động viên con cháu sống có lương tâm, làm ăn để có cuộc sống khấm khá hơn. Thế mà khi anh em tôi có bát ăn bát để thì mẹ chẳng còn hưởng gì được nữa. Mấy anh em chỉ còn cách chăm sóc sức khỏe, mua thuốc thang, kêu bác sĩ gia đình thỉnh thoảng đến khám cho mẹ để mẹ kéo dài tuổi thọ. Thế mà trời chẳng chiều lòng mấy đứa con hiếu thảo. Một ngày mùa thu năm 2000, cơn gió lạnh thổi thốc vào căn phòng khi mẹ vừa tắm xong, mẹ tôi gục xuống, hôn mê sâu. Tôi vội vã bay ra, sau năm tháng chữa trị mẹ vẫn không hồi tỉnh và mẹ đã ra đi trong ngôi nhà của người anh trai vào đầu năm 2001.

Bây giờ mẹ tôi đã nằm trên sườn đồi Thanh Tước, bên cạnh mộ của nhà viết kịch Lưu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh (bố mẹ của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ). Nơi ấy có những hàng cây bạch đàn rì rào trong gió sớm mai, có những vì sao lấp lánh trong đêm khuya. Mộ của ba nằm chếch dưới chân đồi. Tôi như cảm thấy dưới cõi âm hai ông bà vẫn thủ thỉ trò chuyện với nhau về sự đời, về văn chương và con cái. Ba mẹ tôi đã gắn bó với nhau từ thời son trẻ khi ba tôi là một công chức ở thành phố Vinh bắt đầu khởi nghiệp văn tới khi đầu bạc răng long, khi ba tôi đã là một nhà văn lão thành nổi tiếng. Và bây giờ ông bà vẫn ở bên nhau trong Nghĩa trang Thanh Tước. Ba mẹ là tấm gương về cuộc sống, lao động, cống hiến, lòng nhân ái, sự tử tế mà suốt đời con cháu phải noi theo.

Tôi viết những dòng này dưới bàn thờ mẹ khi mùa xuân đang tới gần. Mỗi lần ngẩng nhìn lên như bắt gặp ánh mắt mẹ âu yếm, hiền từ nhìn tôi. Mẹ chẳng những nuôi dạy tôi nên người mà còn động viên tôi vào con đường văn chương. Biết con có đam mê đi theo đường văn chương mẹ đã mượn cho tôi nhiều cuốn sách cổ kim đông tây, trong đó có những cuốn sách quý mà người ngoài không dễ gì mượn được. Thỉnh thoảng mẹ lại kể những câu chuyện về các nhà văn, nhà thơ. Tôi như bị cuốn vào những trang sách, những câu chuyện và bắt đầu tập tành viết lách từ thời sinh viên. Ra dạy học ở Hà Tây mẹ thường thông cảm với tôi nỗi vất vả vì vừa dạy vừa viết nên dành tiêu chuẩn bánh kẹo đường sữa cho tôi bồi dưỡng. Tôi muốn thưa với ba mẹ rằng đến giờ phút này sự đầu tư của ba mẹ cho con đã không uổng phí, con đã kế thừa được phần nào truyền thống văn hóa của gia đình.

Viết tới đây lại nhớ tới thời hai cụ thân sinh đang còn, mỗi lần ra Hà Nội vào dịp Tết xe của sân bay Nội Bài chở tới rạp xiếc bên hồ Thiền Quang tôi vội vã bắt xe ôm về ngay khu tập thể G2 Trung Tự, lòng hồi hộp vì sắp gặp ba mẹ. Đứng dưới sân khu tập thể ngước nhìn lên căn phòng đầu hồi trên tầng 4, lòng tôi bỗng nôn nao. Lần lên từng bậc cầu thang đứng ngoài cửa sắt bấm chuông, từ phòng 401 mẹ tôi tóc bạc, lưng còng lững thững bước ra mở hai lớp cửa. Tôi reo lên như một đứa trẻ: “Mẹ ơi, con đã về”. Vào lúc này, ngồi viết dưới bàn thờ mẹ ở Biên Hòa tôi cũng muốn reo khẽ lên như vậy. Bởi vì về với mẹ là với yêu thương, nhân ái, về với cội nguồn văn hóa của gia đình.

Bùi Quang Tú
(P. Tân Tiến, TP. Biên Hòa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 487

Ý Kiến bạn đọc