Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Mẹ chặt cây rừng tìm con

Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Tình sinh năm 1937, quê xóm 3 Trần Xá, xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Mẹ có chồng và 4 con hy sinh trong cuộc chiến chống Trung Quốc ở Lào Cai.

Những thông tin về Mẹ Trần Thị Tình như có dao cứa vào tim gan, thôi thúc chúng tôi – đoàn làm phim TFS đi tìm mẹ. Gặp Mẹ rồi, chúng ta mới hiểu thêm giá trị trầm tích phía sau những con chữ. Người mẹ gầy yếu trước mắt tôi đã từng nhận 8 chiếc khăn tang trắng lên đầu. Nỗi đau của Mẹ khiến những ngôn từ đều trở nên bất lực…

Ẩn số từ Hà Nam đến Lào Cai

Mẹ cất giọng trầm buồn, nói: “Quê tôi vùng chiêm trũng đất chật, người đông; trong khi các vùng biên giới phía Đông Bắc, Tây Bắc rộng mênh mông, cần sức người khai khẩn. Hồi đó, khoảng năm 1964, theo lời kêu gọi của Bác Hồ, gia đình chúng tôi nhiệt tình rời quê làng Nguyên Xá, Lý Nhân ra đi. Nơi chúng tôi đến là vùng cao biên giới thuộc xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai…”. Mấy mươi năm đã trôi qua nhưng khó khăn những ngày khẩn hoang, đi xây dựng vùng kinh tế miền núi vẫn còn in đậm trong ký ức Mẹ. Đó là những bữa cơm độn khoai sắn, những ngày chặt cây, cuốc đất, dựng nhà người đau ê ẩm; những trận sốt rét, thuốc uống chỉ có lá rừng… Sau mười mấy năm, cuộc sống ổn định, khá dần lên thì chuyện đau lòng, bi thảm cho gia đình Mẹ xảy ra. Biên giới phía Bắc, ngày 17-2-1979, chiến tranh xảy ra trên toàn tuyến từ Lai Châu đến Quảng Ninh, mà gia đình Mẹ là một trong hàng ngàn gia đình vùng biên giới hứng chịu đau thương, mất mát…

me-vnah-tran-thi-tinh
Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Tình – Ảnh: Khắc Tuấn.

Những ngày đẫm máu

Lúc bắt đầu rời quê hương đi xây dựng vùng kinh tế miền núi, hai vợ chồng Mẹ Trần Thị Tình có 5 người con. Khi lên Lào Cai, Mẹ có thêm 5 người con nữa, cùng một đứa con đang mang trong bụng. Trước những dấu hiệu không lành, cảm nhận một cuộc chiến tranh khủng khiếp đang đến gần, Mẹ Tình đưa 6 người con nhỏ về quê rồi trở lên Lào Cai, để trở thành chứng nhân những ngày biên giới đẫm máu năm 1979. Mẹ kể: “Trước đó một tuần, đêm nào dân quân cũng báo động, nhà nhà đào hầm, làm công sự chiến đấu. Một số bà con chạy ra bến tàu, được Nhà nước sơ tán về Hà Nội. Ai có quê thì tìm đường về quê…”. Tôi hỏi: “Vì sao Mẹ không đưa hết gia đình về Hà Nam? Tại sao gia đình Mẹ lại có quá nhiều người hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới, trong khi những dấu hiệu không lành đã được báo trước?!”. Lặng đi một lúc, Mẹ nói: “Hàng chục năm trời, chúng tôi đã đổ không biết bao nhiêu công sức khai khẩn đất đai. Chồng và những người con trai lớn của gia đình tôi đều tham gia lực lượng Dân quân, nhận nhiệm vụ cùng bộ đội bảo vệ vùng biên giới. Nếu ai cũng chọn cho mình sự yên ổn thì ai sẽ ở lại để giữ lấy đất đai của ông cha mình?!”. Mím chặt môi, Mẹ nói: “Thằng Mỹ ác, ném bom phá hoại còn chừa ngày nghỉ cho đồng bào mình ăn Tết. Còn Trung Quốc miệng nói “Núi liền núi, sông liền sông” vậy mà năm đó, chẳng để cho bà con biên giới mình một ngày yên ổn ăn Tết. Ngày nào cũng quấy rối, cho đến đêm mùng 1 Tết năm 1979…”. Mẹ Trần Thị Tình nghẹn ngào…

Đêm mùng một tết năm 1979

Đêm ấy khắc sâu vào lòng Mẹ nỗi thương đau. Mẹ Tình kể: “Thời ấy, chồng và các con tôi được kêu gọi tham gia giữ vùng biên giới, ai cũng thuộc nằm lòng và tâm niệm khẩu hiệu: “Còn một người cũng phải bám chốt, còn một người cũng phải chiến đấu”. Đêm mùng 1 Tết, anh Trần Văn Khê (sinh năm 1957, mới tốt nghiệp trường cơ giới ở Ninh Bình. Sau khi chữa bệnh mắt ở Hà Nội, về Lào Cai thăm nhà) khoác chiếc áo bông vào người, nói với Mẹ: “Để con lên chốt gác thay cho bố và mấy em”. Mẹ nói: “Ba ngày Tết, con cẩn thận. Con mà ngủ quên thì chết đấy!”. Anh Khê trấn an: “Mẹ cứ phải dặn. Có đập đầu vào đá con cũng chẳng chết!”. Nó nói vậy nhưng mà nó chết thật. Nó đi rồi, tôi nghe bồn chồn, xốn xang, nước mắt cứ vòng quanh. Mấy đứa con hỏi mà cũng là an ủi: “Mẹ nhớ các em dưới xuôi nên mẹ buồn?!”. Tôi nói cho các con yên tâm: “Mấy năm trước cả nhà mình ăn Tết quây quần bên nhau, giờ phân nửa nhà mình về xuôi lánh nạn, làm sao Mẹ không nhớ?!”. Trong lúc gia đình quây quần bên nhau thì ở chốt gác, Khê bị bọn giặc bò sang bắn chết. Sáng hôm sau nghe tin con hy sinh, tôi chết đi sống lại nhiều lần. Trời ơi, mới hồi hôm ngồi trò chuyện với con thì sáng hôm sau tôi đã mất con!…”.

Trần Văn Khê hy sinh. Tuổi 22 của anh hóa thân vào ngọn đồi biên giới. Chồng mẹ là Trần Văn Nhu – phụ trách đội dân quân xã nhận vũ khí về nhà, trang bị chốt ngăn giặc. Bên ụ súng quyết sống chết giữ đất, mấy cha con anh ngồi thử lại từng tính năng của các loại vũ khí. Nhìn thấy đống súng đạn, Mẹ run rẩy, sợ hãi nhưng Mẹ hiểu không thể nào làm khác được. Và rồi chuyện đau lòng kế tiếp khủng khiếp hơn nhiều lần, ập đến gia đình Mẹ…”.

Rồi đêm 17 tháng 2

Mẹ Tình nghẹn ngào kể: Đêm ấy tôi qua bên kia xóm, cách một dòng suối, thăm người quen. Mải mê chuyện vãn, trời tối quá, tôi đành phải ở lại, định bụng sáng mai về sớm. Chợt có tiếng súng AK, súng trường rộ lên từ hướng nhà vọng sang, tim như bị xé nát, tôi gào lên: “Thôi chết rồi, chúng vây nhà tôi!”. Người ta an ủi tôi: “Không sao đâu, nếu bị tấn công, mấy người ở nhà cũng tìm cách chạy!”. “Chạy đi đâu?! Chắc chết hết rồi!”. Tôi xốn xang, cứ muốn về nhà ngay nhưng bà con đã cố giữ tôi ở lại. Sáng hôm sau thì tôi được biết quân Trung Quốc đã tràn sang. Chồng và các con tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Tôi không được trở lại nhà vì nơi đó bọn giặc đang chiếm giữ. Bà con ở Bát Xát được lệnh sơ tán. Tôi được đứa em rể đón về Yên Bái…

Hanh-quan-qua-rung---Trinh-Kim-Vinh
Hành quân qua rừng – In đá – Trịnh Kim Vinh (1932).

Nói sao hết được nỗi đau của mẹ Trần Thị Tình trong đêm 17-2-1979. Đêm ấy, chồng mẹ – ông Trần Văn Nhu cùng 3 người con trai Trần Xuân Đãng, Trần Đăng Kha, Trần Văn Trọng bám ụ súng chiến đấu. Tất cả đều hy sinh. Nỗi đau của Mẹ không dừng lại ở đó. Tại chốt các chiến sĩ dân quân bám trụ chiến đấu, nơi ngôi nhà Mẹ còn có cô con dâu Trần Thị Bột, vợ anh Trần Văn Đãng; con gái của Mẹ – Trần Thị Lan mới 12 tuổi và đứa cháu nội Trần Thị Nhung – con gái của anh Trần Xuân Đãng và chị Trần Thị Bột mới được 3 tuổi đều bị bọn Trung Quốc sát hại. Đêm đau thương ấy, gia đình mẹ Trần Thị Tình có 7 người hy sinh và bị giết chết. Kể luôn anh Trần Văn Khê hy sinh đêm mùng 1 Tết năm 1979; gia đình Mẹ VNAH Trần Thị Tình có tất cả 8 người đã ngã xuống trên mảnh đất biên giới Lào Cai…

“Mẹ ơi, đừng đặt tên em con là con côi!”

Tất cả đều bị chôn vùi trong “ngôi nhà làm pháo đài” ở Lào Cai. Khi chồng và các con hy sinh, những mùa đông ở quê hương Hà Nam của mẹ Tình càng buốt lạnh. Nỗi đau mất người thân không bao giờ nguôi ngoai trong lòng Mẹ. Tôi hỏi Mẹ: “Điều gì đã giúp Mẹ vượt qua nỗi đau, để tồn tại đến hôm nay?!”. Mẹ Trần Thị Tình lau nước mắt nói: “Tôi chết đi sống lại nhiều lần. Nhưng lúc ấy, tôi đang mang thai đứa con út. Đứa nhỏ trong bụng đã cứu tôi, giúp tôi tỉnh lại. Tôi nhớ ra trên đôi vai mình còn có 6 đứa con nữa. Những đứa con đang rất cần mẹ khi cha và các anh chị mất đi. Vì trách nhiệm nặng nề đó mà tôi cố sống. Đứa con út của tôi chào đời trong những ngày tang tóc, thê lương. Lúc đầu tôi định đặt tên con là “Cái Côi” vì chồng, con, cháu chết gần hết. Một trong những đứa con còn lại của tôi khóc ròng ngăn lại: “Mẹ ơi, đừng đặt tên em con là Con Côi!”. Tôi giật mình nghĩ “Côi” có nghĩa là côi cút thì buồn quá. Tôi mong đời con hạnh phúc, tươi vui hơn đời mình nên cuối cùng đặt tên con là Vui – Trần Thị Vui”. Chị Trần Thị Vui ngày hôm nay đã có gia đình, sống trong hạnh phúc, bên chồng và các con…

Một người mẹ kiên cường

Có thể nào tin, người mẹ gầy gò, bé nhỏ trước mặt tôi sau cuộc chiến ngày 17-2-1979 từ Hà Nam về Lào Cai, chặt cây rừng, đi tìm chỉ huy trung đoàn 206 đóng quân sâu trong rừng núi biên giới. Mẹ không cam lòng khi những người ngã xuống bị vùi lấp trong hầm hố giữa rừng sâu, các lối đi phủ đầy cây rừng. Người chỉ huy lặng người sau khi nghe Mẹ bày tỏ ý nguyện được đưa hài cốt chồng và các con cháu ra Nghĩa trang Liệt sĩ. Sau phút xúc động, anh nói: “Chúng con cũng có ý nguyện như mẹ nhưng bom mìn ở đây còn nhiều lắm, mẹ ạ!”. Mẹ Tình bức xúc nói: “Dẫm mìn tôi cũng đi”. Người chỉ huy từ tốn: “Mẹ chết vì tình yêu dành cho chồng con đã hy sinh nhưng còn các em thì sao?! Để khi nào dò mìn an toàn, con gọi Mẹ”. Người chỉ huy giữ đúng lời hứa. Mẹ trèo qua đồi đưa chồng, con, cháu ra nghĩa trang phía bên kia ngọn đồi, gần đường quang, để dễ thăm viếng. Mấy năm sau, người mẹ ấy lại lặn lội ra Lào Cai, đưa tất cả hài cốt người thân về nghĩa trang xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Giờ đây, tại nghĩa trang này là nơi yên nghỉ của Liệt sĩ Trần Văn Nhu, Liệt sĩ Trần Văn Khê và nấm mồ tập thể gồm hài cốt Liệt sĩ Trần Xuân Đãng, Trần Đăng Kha, Trần Văn Trọng cùng con dâu, con gái và cháu nội của mẹ. Những người ngã xuống cùng những người đang sống là chứng nhân của cuộc chiến tranh biên giới ngày 17-2-1979. Trước những tấm mộ chí, Mẹ càng xót xa thấu hiểu sự mong manh vòng tay tình mẫu tử trước sức mạnh cuộc chiến tranh!

Trầm Hương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 449

Ý Kiến bạn đọc