Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Mấy vấn đề văn học từ Hội nghị Tam Đảo

Hội nghị LLPBVH lần thứ IV tại Tam Đảo trong các ngày 24, 25, 26/6/2016 đặt ra nhiều vấn đề cần phải trao đổi. Sau đây là trao đổi cụ thể, trực tiếp với các tác giả đã đăng đàn tại Hội nghị.

1. Với nhà văn Kiều Vượng

a. Thân phận, cảnh ngộ của Phùng Gia Lộc, tác giả “Cái đêm hôm ấy… đêm gì?” không phải thê thảm như nhà văn Kiều Vượng nói, rằng trước khi anh tắt thở, vợ con phải mài củ khoai với nước chè đổ cho anh…

Huu-Loan-o-dm-tho-Tu-Thanh-tai-Ha-Noi-ngay-28-8-1993
Hữu Loan ở đêm thơ Tứ Thanh tại Hà Nội ngày 28-8-1993.

Sự thực là thời điểm đó, các nhân vật bảo thủ trong lãnh đạo Đảng và chính quyền ở Thanh Hóa đã rất khắt khe với dư luận và giới thông tin như Phùng Gia Lộc. Dù vậy, Phùng Gia Lộc vẫn bằng mọi cách ra được Hà Nội, tá túc ở nhà Bế Kiến Quốc và Đỗ Thị Mai lúc đó còn ở tạm tại trụ sở báo Văn Nghệ, 17 Trần Quốc Toản. Có thể do cơ duyên trước đây Đỗ Thị Mai về thực tập ở cấp III Thọ Xuân, quê của Phùng. Bản thảo “Cái đêm hôm ấy…” may mắn đã đến tay Bế Kiến Quốc – lúc ấy đang là Thư ký Tòa soạn báo Văn Nghệ – và đã được lên trang báo, tạo ra dư luận sôi nổi rộng khắp có thể nói chưa từng thấy. Ở Thanh Hóa đã có sự-mua-bán các phó bản bài báo. Sau bài “Được vật báu” thì người ta tung tin là có viên ngọc đó và hiện đã chuyển sang Paris, người vào xem phải mua vé (!). Sau các bài báo, Phùng Gia Lộc không bị đàn áp gì cả. Dĩ nhiên là cũng không ít người tức tối đối với anh. Và thực tế là sau hai bài báo trên Văn Nghệ, Phùng Gia Lộc lâm vào hoàn cảnh rất khó khăn. Anh bị hen suyễn rất nặng, vào thời kỳ cuối, phải nằm liệt. Gia cảnh cũng khó khăn. Vào cuối năm 1991 tôi về quê có việc, đến thăm anh. Tôi và Phùng Gia Lộc cùng huyện khác xã, cùng bên phía tả ngạn sông Chu với Lê Đình Cánh. Hôm đó anh đã rất yếu nhưng giọng nói vẫn cương lắm. Tôi đã trở lại nhà Phùng một vài lần nữa mới viết được bài “Phùng Gia Lộc – Vinh quang và cay đắng” đăng trên Tiền Phong chủ nhật, cuối tháng 12/1991.

Sau khi bài báo đăng lên, dư luận thăm hỏi ủng hộ Phùng Gia Lộc rất nhiều cả tinh thần và vật chất. Tôi đã mấy lần chuyển tiền ủng hộ của bạn đọc từ Tòa soạn báo Tiền Phong về trao tận tay cho Phùng Gia Lộc. Hồi đó nghệ sĩ Bạch Tuyết đang tu nghiệp ở Bun-ga-ri cũng gửi về ủng hộ Phùng Gia Lộc một khoản đáng kể. Nhưng Phùng Gia Lộc qua đời ngày 18-1-1992. Gia đình, bè bạn, cơ quan cũ của anh – Phòng Văn hóa huyện Thọ Xuân – cũng tổ chức đưa đám anh chu đáo. Đâu đến nỗi đơn bạc quá không còn chút tình người.

Về sự này bạn đọc có thể tham khảo bài Phùng Gia Lộc – Vinh quang và cay đắng đã in vào Luận chiến văn chương quyển Một năm 1996, 1997, 2000, NXB Văn học.

b. Về nhà thơ Hữu Loan:

Dư luận nói đã quá nhiều. Ông đã có một thời cực kỳ gian khổ. Từ sau Nhân văn – Giai phẩm đến Đổi mới (1986). Sau Đổi mới thì ông được tôn vinh lại, đâu phải là chịu số phận cay đắng. Khoảng sau 1987, Hữu Loan ra Hà Nội, tá túc ở nhà anh Chu Thành, biên tập viên NXB Thanh Niên, lúc ấy ở dưới hầm nhà 64 Bà Triệu. Các tầng trên là cơ quan NXB Thanh Niên và mấy cơ quan nữa của Trung ương Đoàn. Biết tin đó, bạn bè, bạn đọc đến với ông rất đông. Nhà thơ Hoàng Cát tuy còn một bên chân, mà quì xuống, lết lại vái Hữu Loan. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn thường xuyên đi với ông để đọc Màu tím hoa sim. Trịnh Thanh Sơn đồng hương hàng huyện với Hữu Loan. Nhà thơ Trần Lê Văn cứ trầm trồ mãi về bàn tay cứng như kìm sắt của Hữu Loan. Sơn có giọng đọc thơ rất tốt. Anh thường đọc cho Đài TNVN. Nghe Sơn trình diễn Màu tím hoa sim, Trường ca Sông Lô, Bên kia sông Đuống… thực là một hạnh phúc. Dịp đó Hữu Loan ở lại Hà Nội cũng được kha khá. Có thể hơn một tháng. Sau đó, ông vào Sài Gòn rồi về quê. Vào dịp Hội Văn nghệ đồng hương tổ chức Đêm thơ Thanh Hóa tại Hà Nội, Hữu Loan được trân trọng đón mời. Đêm đó ông không đọc thơ nhưng tôi đã mời ông lên sân khấu để bạn đọc ngưỡng mộ.

Ở quê hương Nga Sơn, Hội Văn nghệ Thanh Hóa đã xây tặng ông một căn nhà. Xinh xắn. Tôi đã đến nhà thăm Hữu Loan ba lần. Lần thăm thứ hai vào khoảng năm 2004, sau

Hội nghị phát hành Sách ở Thư viện Thanh Hóa, tôi và đoàn NXB Trẻ do chị Hai Tú cùng về Hà Nội, nhân chị muốn thăm nhà thờ Phát Diệm nên trên đường đi, đưa chị ghé thăm nhà Hữu Loan. Vào năm này có lẽ do tuổi già, Hữu Loan đã không còn tỉnh táo. Sau mấy câu thăm hỏi, ông buông lời xúc phạm bậc tiên hiền. Chúng tôi đứng dậy về ngay. Sau đó tôi còn một lần đến thăm Hữu Loan. Năm đó, bà vợ ông bị ngã gãy cổ xương đùi, nằm bên trong. Còn ông ở bộ dạng già yếu, mệt mỏi, nằm ở nhà ngoài. Mọi sự sinh hoạt cô cháu trông nom. Ông không nhận ra tôi nữa.

Năm tôi đi du lịch xuyên Việt (2006) được nghỉ ở trang trại của anh Nhân, người nhà nhà văn Huỳnh Thạch Thảo. Trang trại chính đỉnh đèo Cả. Tôi chụp không chán cảnh Vũng Rô – Đèo Cả – Đá Bia – cua Đá Đen… Anh Nhân ngỏ ý mời Hữu Loan vào và khắc bài Đèo Cả lên vách đá rất đẹp trên trang trại. Nhưng không thành. Sau có một công ty tư nhân mua với giá 100 triệu đồng bài Màu tím hoa sim. Một trong mấy siêu nhuận bút… số phận Hữu Loan tuy có gian nan cơ cực nhưng có hậu, đâu phải cay đắng.

Hữu Loan cầm trong tay khoản nhuận bút đó khi còn tại thế. Đó là niềm an ủi lớn với ông. Cũng phải nói thêm. Thời gian khổ của Hữu Loan chủ yếu về tinh thần. Về vật chất, là nỗi khổ chung của thời buổi. Và một phần nữa cũng do ông. Ông sinh 11 người con. Thời buổi ấy, một hai con đã khổ. Huống gì.

Thói thường, với mỗi nhân vật, sự kiện đặc biệt, người đời hay thêm thắt tam sao thất bản, hư cấu thêm, sáng tạo thêm, nhấn thêm phía này phần kia theo tình ý riêng mà vượt qua cả sự thực. Tiếc là trong giới nhà văn cũng không hơn thói thường thiên hạ.

c. Về phát hành tiểu thuyết của nhà văn tỉnh lẻ.

Nhà văn Kiều Vượng nói một tác phẩm của tác giả tỉnh lẻ rất khó đến với nhà phê bình ở Trung ương và sự phát hành thì cũng phân biệt lắm. Xin thưa không phải thế. Về phát hành hiện nay nằm trong tay các đại gia. Họ có vốn lớn và mạng lưới mạnh. Hoặc có hệ thống cửa hàng mạnh như các công ty. Sự phát hành tùy vào qui luật giá trị thị trường. Nếu sách bán được, thường bị “luộc” – nói cho sang là nhân bản. Số lượng in ghi trên sách thường rất ít, một vài ngàn. Nhưng thực tế thì “thiên biến vạn hóa”. Có nhiều đại gia sách xuất thân là chân “sốp-phơ” của nhà xuất bản, hoặc nhân viên gì đấy, mà phất lên đấy. Còn tác phẩm của nhà văn tỉnh lẻ với giới phê bình chuyên nghiệp, Trung ương… kể cũng khó nói nhưng dễ hiểu. Song, cuốn Bão không có gió đã được bình luận trên Văn Nghệ rất sớm. Cả một trang. Bởi nhà phê bình văn học Kiều Oanh. Còn riêng tôi đã đọc ngay sau khi sách ra, ở nhà Đinh Ngọc Diệp (Sầm Sơn – Thanh Hóa). Hấp dẫn lắm vì có cái cốt người thật việc thật, cái phần ký nhiều lắm. Nên phải kính nhi viễn chi vì các sự sau:

* Dương Thu Hương đến thăm nhà Kiều Vượng, thấy cái xe đạp Phượng Hoàng đã rất cà tàng, dựng bên hè, bèn đá một phát bay xuống ao, bảo: Để tao gửi cho vài cái Mi-pha… It lâu sau, Kiều Vượng nhận được thùng hàng hai cái xe đạp Mi-pha gửi về, Dương Thu Hương nói là của cháu gửi cho.

Tình nghĩa đôi bên càng mặn nồng từ ấy. Hay quá. Siêu quá. Dương Thu Hương phải là siêu đại lực sĩ, có thể hơn cả đại lực sĩ Hà Châu. Trước những siêu nhân như thế, chi bằng “kính nhi viễn chi”.

* Lần Kiều Vượng do chuyện nội bộ gì đó, không muốn thực hiện quyết định thuyên chuyển công tác, bèn nghĩ kế hoãn binh, vờ thổ huyết. Hôm đó ngậm tiết lợn vào miệng. Đến cơ quan, làm việc với đương sự, dở chừng nổi cơn ho, thổ huyết… Hoãn binh chi kế thắng lợi. Siêu quá. Đúng là ngậm máu… mà ngậm siêu thế. Lâu thế. Lại vẫn nói năng được trước khi nổi cơn ho. Chả bù cho mình, ngậm miếng nước hay miếng gì đó nhu mềm, chỉ mấy phút là nước miếng tứa ra, không nhịn được, hoặc phải nuốt vào, hoặc phải nhổ ra. Còn Kiều Vượng thì siêu nhân quá.

Bình thường Kiều Vượng dị nhân rồi. Mà trong sáng tạo văn chương, anh siêu nhân thế. Ai dám cả gan bình luận các siêu nhân siêu vật như chân sút của Dương Thị văn sĩ, như trảo nha, nhục thiệt của Kiều văn sĩ!

Mong anh xót thương cho đám phê bình chuyên nghiệp, Trung ương… Họ người trần mắt thịt… lắm!

2. Với nhà phê bình Lại Nguyên Ân

a. “Nên xem lại chủ nghĩa thực dân và công lao khai hóa. Trước khi người Pháp sang, Việt Nam chưa có một mét đường sắt, đường ô tô…”, ông Lại Nguyên Ân đã nêu ra công việc cho giới sử học đấy. Muốn xem lại chủ nghĩa thực dân, xem công lao khai hóa của người Pháp, thiết tưởng phải kê cứu được trong quá trình đó (từ 1847 đến 1954) họ đã làm lợi làm hại như thế nào cho đất nước này, dân tộc này trên tất cả mọi phương diện: kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội – đến cả tài nguyên – môi trường… Nếu giới sử học chưa làm thì cần làm. Nếu đã làm rồi thì tại ông Lại Nguyên Ân chưa làm. Thì nhìn lại sao được! Lại phải tham khảo bên ngoài nữa. Như tác giả công trình “Người Đông Dương ở Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai, từ 1939 đến 1953… cũng thấy được nhiều lắm ông ạ. Hai vạn người (20.000 người) bị đày đọa, bóc lột. Số người Việt Nam bị thiệt mạng bởi sự đô hộ của thực dân Pháp sẽ là bao nhiêu trong 100 năm ấy (1847-1945)?

b. Do chủ nghĩa thực dân cũng có công khai hóa cho nên các nhà văn hóa cộng tác với chính quyền thực dân cũng nên xem lại, như chủ bút Nam Phong tạp chí…

Cần đặt ra các vấn đề sau:

* Định nghĩa lại Nhà văn hóa. Có phải viết nhiều là thành nhà văn hóa không? Tức là phải xem đến bản chất của hoạt động văn hóa của nhà văn hóa đó.

* Xem xét đầy đủ ý nghĩa nhân văn – dân tộc trong hoạt động – trước tác của nhà văn hóa đó. Trên cơ sở văn bản chính thức, công trình chính thức.

Nhà văn hóa đó mục đích, bản chất như thế nào có lợi có hại cho văn hóa dân tộc đến đâu. Tính lịch sử của hoạt động văn hóa đó.

* Về “nhà văn hóa Phạm Quỳnh” nên xem xét:

- Tác phẩm cùng hành động thực tiễn của Phạm Quỳnh trong bối cảnh lịch sử – xã hội Việt Nam trong quá trình thực dân của Pháp (1847-1954).

- Xem xét Phạm Quỳnh với các học giả khác như Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Ngọc Phan…, các nhà văn thời kỳ đó như Tản Đà, Vũ Trọng phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố…

l Tôi rất cảm ơn tham luận của ông Nguyễn Hòa và xin được chuyển một phần tham luận đó tới nhà văn Lại Nguyên Ân, nhà văn Nguyên Ngọc và các vị đồng tư tưởng để thấy được cái giá người Pháp đã trao trả độc lập một cách hòa bình cho các xứ châu Phi thuộc Pháp như thế nào: “Như để được trao trả độc lập, 14 nước ở châu Phi (Guinea Xích-đạo, Benin, Burkina Faso, Guinea-Bissau, Côte d’Ivoire, Senegal, Niger, Mali, Chad, CH Trung Phi, Cameroon, Gabon, Togo, Congo) đã phải cùng ký với Pháp Hiệp ước thuộc địa mở rộng với 11 điều khoản cụ thể:

1. Phải trả tiền cho những cơ sở hạ tầng do Pháp xây dựng từ thời thuộc địa;
2. Phải gửi dự trữ tiền tệ quốc gia vào Ngân hàng trung ương Pháp;
3. Pháp có quyền ưu tiên mua bất kỳ tài nguyên thiên nhiên nào mới tìm thấy;
4. Pháp và các công ty của Pháp giữ vai trò chính trong mua sắm công và đấu thầu;
5. Pháp được độc quyền cung cấp thiết bị quân sự và đào tạo quân sự;
6. Phải cho Pháp sẵn sàng triển khai quân đội, can thiệp quân sự để bảo vệ lợi ích của Pháp;
7. Có nghĩa vụ lấy tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính của quốc gia và ngôn ngữ cho giáo dục;
8. Có nghĩa vụ sử dụng hệ thống tiền tệ thuộc địa Pháp FCFA;
9. Có nghĩa vụ gửi đến Pháp dự trữ, cân đối thu chi hàng năm;
10. Không được gia nhập bất cứ liên minh quân sự nào khác trừ khi được Pháp cho phép;
11. Có nghĩa vụ liên minh với Pháp khi có chiến tranh, khủng hoảng toàn cầu.
(Kỷ yếu – Tham luận Hội nghị LLPBVH lần thứ IV – Văn học – 30 đổi mới, hội nhập và phát triển, trang 113)

(Kỳ tới)
Những ngày Hội nghị Tam Đảo, tháng 6-2016

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 409

Ý Kiến bạn đọc