Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Mấy vấn đề Văn học từ Hội nghị Tam Đảo (Tiếp theo số báo 409)

3/ Với GS. Nguyễn Đăng Mạnh

Phát biểu trên diễn đàn Hội nghị sáng 25/6/2016, GS Nguyễn Đăng Mạnh nêu mấy luận điểm sau:

- Phê bình văn học đã xuống cấp.

- Phê bình văn học phải có tài năng.

- Phê bình văn học phải có lý luận đúng.

- Chưa xuất hiện tác phẩm lớn có giá trị nên chưa định hình hệ giá trị mới.

Các luận điểm trên vừa rất cũ vừa rất sai.

Xin trao đổi lần lượt:

- Phê bình văn học đã xuống cấp.

Chỉ có cá nhân nhà phê bình nào đó xuống cấp chứ hoạt động phê bình văn học không xuống cấp. Nó rất khác trước đổi mới – đương nhiên là thế – nhưng sao lại là xuống cấp? GS đã rất ít thông tin về phê bình văn học. Chỉ cần đọc trên Văn Nghệ TP.HCM, trên Hồn Việt, trên Nhân Dân và Quân đội nhân dân, trên Văn Nghệ… thì thấy rõ.

- Phê bình văn học phải có tài năng.

Là luận điểm quá suông sáo, gia trưởng, nhà trường và trong thực tế là lộn ngược quá trình.

Anh-minh-hoa---May-van-de-van-hoc-tu-hoi-nghi-Tam-Dao

Mỗi cá nhân do ham thích, do có năng khiếu bẩm sinh, tự nguyện nhập vào hoạt động phê bình (hay sáng tác). Qua quá trình họ thể hiện tài năng đến đâu. Không có cá nhân nào dám tự nhận: Tôi có tài, tôi phê bình văn học. Tài năng cao, thấp, rộng hẹp, ít, nhiều… là thể hiện trong hoạt động cụ thể. Qua việc phê bình một bài thơ, một quyển truyện hay một quyển sách phê bình văn học. Tài năng của nhà phê bình thể hiện trong công trình cụ thể đó. Người làm phê bình văn học là do ham thích do sở trường sở đoản, do trách nhiệm xã hội mà duy trì hoạt động của mình. Có người tài năng không phải đặc sắc nhưng họ viết nghiêm túc, đều đặn… có thể bảo họ rằng: anh không có tài, đừng viết phê bình nữa… được không?

Thực tế trên diễn đàn Hội nghị, có vị tuổi cao đạo trọng mà tài năng lại tỏ ra rất ngược chiều với tuổi tác, danh vọng… thì nên như thế nào? Có thể vỗ vai vị đó rằng thôi ngài đừng nói gì nữa… được không?

Cách tư duy của GS Nguyễn Đăng Mạnh như vậy là rất gia trưởng bề trên kẻ cả… Không nên như thế. Hãy khuyến khích, đón chào, vui mừng trước những cây bút phê bình văn học. Còn tài của họ đến đâu, qua thực tiễn mới thấy được. Và đời sống văn học sẽ nói lên điều đó. Vả như thế nào là tài. Chữ tài… khó nói lắm Giáo sư ạ.

- Phê bình văn học phải có lý luận đúng.

Phàm là Giáo sư, là nhà phê bình có kinh nghiệm không nên nói như thế. Chẳng khác gì bảo thuyền phải có lái gái phải theo chồng… Cứ như đấm vào khung cửa trống. Cái chỗ rất quan trọng rất cơ bản trong luận điểm này, Giáo sư lại lẩn đi. Thế nào là lý luận đúng? Cho nên Giáo sư đã đưa ra lý luận rất sai, ấy là lý luận về con người chân thực, về hai thứ văn chương: Văn sư tử và Văn cầy cáo. Giáo sư ngạo mạn quá mà không biết mình đang thể hiện thứ văn chương không phải sư tử, không có chút nào sư tử. Xin Giáo sư xem lại bài “Văn sư tử và Văn cầy cáo” chúng tôi đã đăng báo và in vào sách (Luận chiến văn chương Quyển Ba – NXB Văn học. H. 2015, trang 34). Và trong bài Thuật luyện đan của thầy Hữu Tá (VN TP.HCM, số 396, năm 2016).

- Về giá trị, tác phẩm, hệ giá trị… Giáo sư cũng nói ngược. Tác phẩm lớn đương nhiên là có giá trị lớn. Nhưng tác phẩm dù lớn đến đâu cũng không sinh ra hệ giá trị. Giá trị – Hệ giá trị là xuất phát từ nền tảng Đạo đức của mỗi nền văn hóa, thời đại, thời kỳ văn hóa, truyền thống văn hóa, vùng miền văn hóa. Thang giá trị của sản phẩm vật chất có tính phổ biến, cố định, như cách tính tuổi vàng chẳng hạn. Nhưng thang giá trị của lĩnh vực tinh thần, tâm hồn, đạo đức… Nói chung trong lĩnh vực nhân văn, lại không hẳn thế. Giáo sư lạ gì chuyện vặt này. Nhưng mà cứ phải thưa lại, vì Giáo sư đã lộn ngược vấn đề.

Có thể thấy Giáo sư rất ít thông tin, tư liệu khi chuẩn bị cho phát biểu của mình. Tiếc quá, vì không phải tháng nào năm nào cũng tổ chức được một Hội nghị khoa học như thế này.

4/ Với GS. Trần Đình Sử

GS-TS Trần Đình Sử không có tham luận và không dự Hội nghị. Nhưng phát biểu của GS tại Hội thảo ở Đại học Văn hóa là vấn đề lý luận cần phải làm sáng tỏ. GS cho rằng văn học trước Đổi mới – Văn học cách mạng và kháng chiến là văn học đồng phục. Đây là một luận điểm chà đạp lên sự thật của đời sống văn học. Rõ ràng phong cách nghệ thuật – của Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi… là rất khác nhau. Ở các thế hệ sau, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ… có đồng phục đâu. Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh… có đồng phục đâu. Giáo sư muốn chê chối văn học cách mạng và kháng chiến đến đâu cũng được nhưng đừng nhắm mắt nói liều như thế. Hãy nhớ lại mình đã viết Thi pháp Thơ Tố Hữu như thế nào đi! Ngọn cờ đầu của văn học đồng phục đấy! Giáo sư ơi! Nói người hãy ngẫm đến ta, phải ngẫm đến ta. Sao tự mình lại bỏ mất cái mình đi như thế. Tự mình chẳng thương mình quí mình biết mình tự trọng với mình thì còn mong ai? Học thuật mà cứ xoay theo chiều gió thì làm sao khám phá được bản chất của các hiện tượng. Giáo sư tự nhận làm lí luận trên đường biên… là đúng lắm. Chỉ tiếc một Giáo sư – Tấn sĩ như Giáo sư lại tư duy ngược đời như thế. Để khái quát được thành lí luận, phải khảo sát các hiện tượng thuộc lãnh vực đó bất kể ở ngoại biên hay trung tâm. Và khi có được lý luận – tức là khái quát được bản chất của các hiện tượng – thì lí luận đó lại trở thành trung tâm, chi phối hoạt động của các hiện tượng trong lãnh vực đó. Và nó phải có tính ổn định tương đối mới gọi là lí luận. Lí luận, dù là văn học nghệ thuật – nghĩa là của cuộc sống luôn luôn phát triển – cũng đâu phải kiếp con vờ, kiếp phù dung!

Văn học cách mạng và kháng chiến đã hoàn thành trách nhiệm cao cả của nó, góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do giành lại quyền sống của cả dân tộc, của hàng triệu đồng bào. Sự nghiệp đó đã hoàn thành, đất nước, dân tộc, cộng đồng dân tộc chuyển sang giai đoạn mới với những nhiệm vụ mới. Văn học nghệ thuật theo đó mà đổi mới, phát triển. Cần phải thấy văn học cách mạng – kháng chiến và văn học đổi mới là thống nhất về tính nhân văn. Vậy thì có điều gì phải chối bỏ, bỉ báng diễu cợt quá khứ như vậy. Sinh viên Trần Đình Sử, lưu học sinh Trần Đình Sử, Giảng viên Trần Đình Sử, nghiên cứu sinh Trần Đình Sử đến Phó tiến sĩ Trần Đình Sử, Tiến sĩ Trần Đình Sử – Giáo sư – Tiến sĩ Trần Đình Sử dù trang phục y phục mỗi thời kỳ mỗi khác nhau nhưng vẫn là con người đó thôi – qua thời gian, theo thời gian mà già dặn thêm lên. Nếu Trần lão tiên sinh lại chê chối, bỉ báng Trần lưu học sinh, Trần nghiên cứu sinh, Trần giảng viên, Trần Trưởng khoa Ngữ Văn… thì phong phú đa dạng quá nhỉ! Thôi mà, Giáo sư!…

Giáo sư Trần Đình Sử lại đưa ra luận điểm văn học ít nỗi đau nên không hay. Không ngờ quan niệm mĩ học, cái nhìn của GS lại lẩm cẩm như thế. Cuộc nhân sinh ở đất nước này hơn trăm năm qua có đau không? Hàng ngàn bà mẹ Việt Nam đã mất cả gia đình – mất hết chồng, con – trong cuộc chiến tranh giành độc lập tự do cho những người còn sống, họ có đau không? Nỗi đau đó tầm mức đến thế nào? Nỗi đau của con người trong cuộc sống thì vô vàn. Nhưng nỗi đau nào mang ý nghĩa nhân văn, làm thức tỉnh nhân tính trong người đọc, đó mới là vấn đề của văn chương. Vấn đề không phải chỉ bây giờ, mà được đặt ra từ khi có văn chương. Đây là vấn đề lớn. Chỉ nói qua một ý chính để thấy cái nhìn của GS đã ngoại biên mất rồi. Nỗi đau của dân tộc này lớn lắm. Các nhà văn chưa đủ tài đủ tình chưa cảm được đấy thôi. Nỗi đau đời xưa nay đâu thiếu.

5/ Với Giáo sư Phong Lê và các Tấn sĩ Văn Giá, Chu Văn Sơn

Trong văn học – nghệ thuật mà cứ đòi nhận diện, khẳng định thế hệ thì thương quá. Thì ngây thơ dễ thương quá. Thôi mà! Ngoan mà! Cứ cố gắng làm việc đi, sáng tạo sáng tác đi, người đời nhận diện, đánh giá, ghi nhận khẳng định ở thành quả, ở sản phẩm, tác phẩm… Người ta khao khát cái thành quả sáng tạo chứ ai khao khát cái thế hệ, tuổi tác. Cũng có đấy. Nhưng là cái khao khát tuổi thơ: Tiến lên Đoàn viên em ước ao bao ngày… Rồi sẽ đến thôi mà. Hết năm này. Hết năm này. Hết năm này… là đến. Cứ chăm ngoan vào thể nào cũng đến…. Nhưng sáng tạo nghệ thuật, nó khác. Gái 17 bẻ gãy sừng trâu là một thực tế, một xác suất xác định. Một qui luật sinh học. Khôn chi khôn trẻ khỏe chi khỏe già… cũng là một xác suất, một qui luật vượt lên qui luật sinh học. Thầy già con hát trẻ… là như thế. Thế hệ chưa phải là, chưa thể là đại diện cho giá trị sáng tạo. Vả lại, qui luật sinh học trong sáng tạo là… rất ít qui luật! Nguyên Hồng, Chế Lan Viên… được khẳng định năm 16 tuổi. Thiên tài vĩ đại như Vũ Trọng Phụng qua đời năm 27 tuổi. Tô Hoài lại dai dẳng theo thời gian… Nhật ký trong tù ra đời khi tác giả ở tuổi ngoài ngũ thập. Nguyễn Xuân Khánh Đội gạo lên chùa ở tuổi 80. Sáng tạo nghệ thuật nó mông mênh như bơi ra đại dương. Cậy khoẻ cậy trẻ rất dễ chết chìm trước sóng gió…

Về sinh học, tre già măng mọc, măng già tre non, tre già măng lại mọc, cứ thế. Nhưng trong sáng tạo nghệ thuật, không hẳn như thế. Mà phải lo tre già để có măng tre non. Chớ đừng tre già măng sậy mọc!

Luận điểm cho rằng đã qua thời nhà văn chiến sĩ, bây giờ là nhà văn kẻ sĩ cũng thật nực cười. Sao lại ngộ nhận ngây ngô thế. Thời nào cũng thế, nhà văn chân chính trước hết phải là kẻ sĩ, kẻ sĩ quân tử theo quan niệm Nho giáo. Kẻ sĩ chân chính bao giờ cũng là chiến sĩ tiên phong trong cuộc nhân sinh, lo trước thiên hạ vui sau thiên hạ (Tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu, hậu thiên hạ nhi lạc chi lạc – Hoàng Đình Kiên).

Như Chu Văn An dám dâng sớ đòi chém bọn gian thần (Thất trảm sớ). Như Nguyễn Đình Chiểu, dẫu mù lòa đôi mắt vẫn đứng trên tuyến đầu chống giặc ngoại xâm… Chủ tịch Hồ Chí Minh nói văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Văn nghệ sĩ phải là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Quan niệm đó chẳng những có ý nghĩa thời sự cụ thể mà về lâu dài, toàn diện vẫn giữ giá trị có ý nghĩa khái quát như một định đề. Người cũng nói văn hóa nghệ thuật phải khuyến thiện trừng ác, văn hóa soi đường cho quốc dân đi… Chẳng phải là nói đến sứ mệnh tiên phong, chiến sĩ của nhà văn trong công cuộc xây dựng con người và xã hội hay sao. Cái ý diễu cợt của Chu Văn Sơn quả là nông nổi. Ngày nay nhiều người làm văn chương thấy bằng cấp danh vọng mà tưởng là kẻ sĩ nhưng thực ra là lạm dụng, là gian lận dối trá. Có nhà văn là giáo sư, thầy học của Chu Văn Sơn viết Hồi ký chửi rủa đồng nghiệp, huênh hoang về danh vọng, giải thưởng, lập ngôn lập thuyết, bịa đặt xuyên tạc bôi nhọ hạ thấp lãnh tụ của dân tộc lại vẫn khư khư hưởng bổng lộc, chửi nhà Chu hết điều lộc nhà Chu chẳng bỏ, rất vô liêm sỉ… mà vẫn có người dua nịnh là “sĩ phu Bắc Hà”. Quay đầu chiêu hồi, phản bội chính mình, đi biện hộ cho tội ác man rợ tàn bạo của quân xâm lược như Nguyên Ngọc trong vụ Bob Kerrey thì Chu Văn Sơn sẽ gọi là nhà văn gì? Ôi! Nhà văn kẻ sĩ bây giờ khó hiểu vậy thay!

Phát biểu tại Hội nghị Tam Đảo, 25/6/2016

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 410

Ý Kiến bạn đọc