Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Mấy vấn đề lý luận văn học và lịch sử hiện nay

 

Lý luận văn học của các Giáo sư Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà… và lý luận sử học của GS. Phan Huy Lê là cần phải trao đổi rộng rãi. Chúng tôi thấy các lý luận đó không phản ánh đúng qui luật của văn hóa Việt Nam và trong thực tế đã đưa đến hành động sai lầm.

Trước hết về sử học.

GS. Phan Huy Lê – nguyên Chủ tịch Hội KHLS Việt Nam – người được xem là có thẩm quyền cao nhất về khoa học lịch sử ở Việt Nam. Trong thực tế, hơn 50 năm giảng dạy môn Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội – nay là Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, ông có rất đông học trò ở nhiều thế hệ. Vì thế, tầm ảnh hưởng của lý luận của ông là rất lớn.

Trong bộ tứ Sử học Lâm – Lê – Tấn – Vượng có lẽ GS. Phan Huy Lê là người tuyên ngôn nhiều nhất về sử học. Nhưng chỉ sau Đổi Mới. Năm 2011, ông trả lời báo Tuổi trẻ: Cần phải vượt qua rào cản ý thức hệ để có cái nhìn khách quan trung thực về lịch sử (Tuổi trẻ. 23-10-2011).

Trước đó, năm 2008, tại Hội thảo về Vương triều Nguyễn, trong lời tổng kết Hội thảo, ông cho rằng triều Nguyễn (Gia Long) có công thống nhất đất nước và đã để lại cái gói thơm thảo (đất nước thống nhất) cho chúng ta hôm nay. Ông cho rằng xu thế khách quan trung thực đã chiếm ưu thế trong nghiên cứu, đánh giá khẳng định công lao của Trương Vĩnh Ký. Kết luận Hội thảo Bình Định với chữ quốc ngữ (2017), ông hứa sẽ đề nghị Nhà nước có hành động tri ân đối với Alexandre de Rhodes và De Pina. Tại Hội nghị Thông báo “thành tựu” nghiên cứu sử học (tháng 2-2017) ở Hà Nội, ông đề nghị noi theo tấm gương Trung Quốc viết sử theo “lãnh thổ hiện tại”. Ông cũng đưa ra “những khoảng trống cực kì nguy hiểm” của sử học đương đại như Cải cách ruộng đất, lịch sử Đồng bằng sông Cửu Long, các “thực thể chính trị” như Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa…

Cần xem xét cụ thể.

Về “rào cản ý thức hệ”. GS. Phan Huy Lê đã phát ngôn một cách hàm hồ, phản khoa học và vô trách nhiệm. Vì Chủ tịch Hội KHLSVN cũng là vị Thầy có đông học trò và có ảnh hưởng quốc tế – là cộng tác viên có thời hạn (nhiệm kì 2 năm) của Viện Hàn lâm Mỹ thuật và Bi kí thuộc Viện Hàn lâm Pháp. Tương tự như Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Thế nhưng, ông đã nhận là được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Nhờ tác giả Lê Mạnh Chiến và bạn đọc giúp cho tư liệu. Ông đã tự sửa chữa. Trong tác phẩm có lẽ là cuối cùng, được xem như một Tuyển tập, quyển Lịch sử và văn hóa Việt Nam – tiếp cận bộ phận. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, in lần thứ tư năm 2018, ông rất khiêm tốn, chỉ ghi: PHAN HUY LÊ, Giáo sư Sử học. Sinh năm 1934. Quê quán: Xã Thạch Châu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ: 7 Vọng Đức, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Email: phle3@yahoo.com.

Ở trên chúng tôi nói rằng GS. Phan Huy Lê đã rất hàm hồ, phản khoa học và vô trách nhiệm. Dù có là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hay không thì trong hơn nửa thế kỉ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Việt Nam ở Đại học Quốc gia Hà Nội và nhiều năm làm Chủ tịch Hội KHLS Việt Nam, GS. Phan Huy Lê đã chấp nhận ý thức hệ Mác-xít. Ngày nay, nếu vượt qua ý thức hệ mà ông đã có thâm niên như thế, ông sẽ đến với ý thức hệ nào? Sẽ đứng ở ý thức hệ nào để có cái nhìn khách quan trung thực. Và hơn 50 năm qua, ông có khách quan trung thực trong nghiên cứu lịch sử không? Chỗ này chúng tôi thấy GS. Phan Huy Lê chỉ nói theo thời mà không chứng tỏ sự nhận thức của cá nhân ông về ý thức hệ. Một sinh viên khoa Sử nói như vậy thì có thể thông cảm vì họ chưa hiểu được lịch sử của khái niệm. Nhưng một giáo sư đầu ngành về khoa học lịch sử thì không chấp nhận được. Bởi ý thức hệ là sản phẩm của lịch sử, có tính khách quan. Đâu phải chiếc áo tơi quàng lúc trời mưa đã đành mà “… trời đổ nắng chang chang vẫn quàng” theo thói quen (nhạc An Thuyên). Liên Xô và hệ thống XHCN Đông Âu sụp đổ không có nghĩa là ý thức hệ Mác-xít không còn nữa. Vì ý thức hệ Mác-xít không chỉ là quan niệm về thế giới theo mô hình XHCN mà chủ yếu nó là quan niệm, là cái nhìn vào thế giới (thế giới quan), là cái nhìn vào bản chất của chủ nghĩa tư bản. Chừng nào bản chất của chủ nghĩa tư bản thay đổi thì hẵng nghĩ đến sự thay đổi của ý thức hệ Mác-xít. Đương nhiên là luôn luôn phải bổ sung phát triển làm phong phú ý thức hệ. Đó là qui luật của khoa học. Xin có một ví dụ nhỏ. Ý thức hệ của các nhà đầu tư, kinh doanh, sản xuất, phân phối rượu – bia trong đó có một cổ động viên là ông nghị Dương Trung Quốc không đồng tình với đạo luật chống tác hại của rượu – bia. Nhưng Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua đạo luật này và Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành Nghị định cấm người sử dụng rượu – bia điều khiển phương tiện giao thông. Đạo luật, Nghị định này là biểu hiện cụ thể của ý thức hệ. Nếu kiên trì thực hiện nghiêm túc nó sẽ góp phần quan trọng làm thay đổi cuộc sống theo ý thức hệ XHCN. Một xã hội “người với người sống để yêu nhau” (Tố Hữu), mỗi bước đi là một niềm vui, một sự an tâm… tốt hơn hay là một xã hội người người đều say xỉn, bước ra khỏi nhà là bất an, đâm đổ va quệt, rượu say rồi lao cả người và xe xuống biển (như ở Quảng Ninh). Rượu vào lời ra… xưa nay biết bao nỗi đau. Kẻ chết trong rượu còn nhiều hơn chết đuối trong sông biển (Ngạn ngữ phương Tây).

Từ ý thức hệ trong rượu – bia ta trở lại ý thức hệ trong sử học. Ý thức hệ phong kiến đã bị lịch sử phủ định. Ở Pháp là Cách mạng 1789. Ở Nga là Cách mạng 1717. Ở Việt Nam là Cách mạng 1945. Vậy chỉ còn ý thức hệ tư sản, đến nay đã có ít ra là 500 năm lịch sử (1500 – 2000. Xem Lịch sử của chủ nghĩa Tư bản. Michel Beau. NXB Thế giới. H.2002). Và ý thức hệ Mác-xít, xuất hiện từ 1848 với Tuyên ngôn cộng sản (Mác – Ăngghen) cho đến nay. Vậy giáo sư “vượt rào này” thì đến “vườn nào”? Chúng tôi thấy Giáo sư tuyên ngôn như thế, nhưng trong thực tế Giáo sư lại trở về “vườn nhà”. Nếu Vương triều Nguyễn được chiêu tuyết thì quan thượng thư họ Phan Huy cũng được mát mẻ ít nhiều. Nếu thừa nhận các thực thể Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa thì Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Quốc gia Việt Nam Phan Huy Quát và Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Phan Huy Quát (người đã kí Thông báo mời quân lực Mỹ vào Việt Nam năm 1965) sẽ được “dần dà rồi sẽ liệu về cố hương…) (Kiều). Về ý thức hệ Mác-xít, các học giả tư sản cũng phải thừa nhận “Thế kỉ XXI là thế kỉ của Marx”. Có dịp, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này. Xem Tại sao Mác đúng? của Terry Eagleton. NXB Chính trị Hành chính. H.2012.

Vậy thì ý thức hệ quan hệ với tính khách quan trung thực trong sử học như thế nào? Giáo sư tuyên ngôn hơi dài nhưng nhờ vậy cũng hai năm rõ mười một chút:

“Trong hơn nửa thế kỉ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Việt Nam… tôi luôn tự nhủ và tự răn mình là phải cố gắng giữ ngòi bút cho ngay thẳng, phải ra sức thu thập tư liệu, mở rộng các nguồn sử liệu, xử lý thật nghiêm túc để… phục dựng lại những trang sử khách quan, trung thực… Nhưng càng nghiên cứu và nghiền ngẫm, tôi tự thấy giữa lịch sử được nhận thức với lịch sử khách quan, hay nói nôm na, giữa những trang sử viết và dòng sử đời, một khoảng cách đáng kể luôn luôn tồn tại trước các nhà sử học. Nguyên nhân có nhiều… Nhưng dù do nguyên nhân nào thì nhà sử học cũng phải tôn trọng sự thực lịch sử và chức năng của sử học là phải cố gắng… rút dần khoảng cách giữa những trang sử được nhận thức với lịch sử tồn tại khách quan” (Phan Huy Lê. Lịch sử và văn hóa Việt Nam – tiếp cận bộ phận. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. H.2018. Trg.8). Những dòng nhấn mạnh là do chúng tôi – H.N.Q – lưu ý độc giả.

Quan điểm về chức năng của sử học như Giáo sư nêu trên là rất mơ hồ và mị dân. Vì rất đơn giản. Nếu không có một ý thức hệ xác định thì nhà sử học chỉ có thể kể chuyện lịch sử theo tầm quan sát của mình mà không thể khái quát được bản chất của lịch sử. Bởi những trang sử đời thì vô cùng tận. Nhà sử học phục dựng trang nào, dòng nào trong sự phong phú đa dạng của hiện thực lịch sử, của những trang, những dòng sử đời. Điều này không có gì khó hiểu. Bởi chính thực hành của Giáo sư đã chứng tỏ Giáo sư nói vậy mà không phải vậy, không làm vậy!

Xin có một số dẫn chứng.

Về Vương triều Nguyễn

Những bộ phận yêu nước và tiến bộ của Vương triều Nguyễn (1802-1945) là cần phải khẳng định và giới sử học đương đại đã và đang làm điều đó. Nhưng nhìn khái quát thì Vương triều Nguyễn là vương triều phản động về tư tưởng đi đến phản dân tộc. Gia Long đã có cơ hội trước người Nhật trong sự tiếp xúc với phương Tây. Trên văn bản chính thức, Hiệp ước Versailles được kí kết giữa Vua Pháp và Vua Nam kì vào ngày 23-11-1787. Trong khi Phó đô đốc Hoa Kì Perry phải đến năm 1853 mới đến Nhật Bản (Bàn về văn minh. NXB Thế giới. Fukuzawa. H.2018. Trg.9). Không những thế, một số người Pháp còn được Gia Long phong quan chức, làm việc trong triều (Tạp ghi Việt Sử Địa. Nguyễn Đình Đầu. Tập II. NXB Trẻ. 2018). Khi người Nhật mở cửa với phương Tây thì Gia Long đóng lại, thần phục nhà Thanh và luật pháp, nội trị ngoại giao, quan chế, thậm chí đến y phục cũng theo nhà Thanh. Mục tiêu của Vương triều Nguyễn từ Gia Long đến Bảo Đại là giữ được ngôi vị, xem ngôi vị cao hơn quốc gia. Giáo sư nên xem lại cái “gói thơm thảo” mà Vương triều Nguyễn để lại. Chí ít, từ phong trào của Trương Định từ 1862 – sau Hiệp ước “Phan Lâm mãi quốc triều đình khí dân” cho đến ngày 30-4-1975 xem là như thế nào.

Cái phản ý thức hệ (không phải vô hay phi) còn bộc lộ ở chỗ này: Khi những người Việt làm sử học bên Paris nêu lên chủ đề thảo luận: Gia Long hay Nguyễn Huệ có công thống nhất đất nước? Vào thời điểm đó (trước 1960) ở Việt Nam đang như thế nào? Ở Hướng Điền, Vĩnh Trinh, Phú Lợi… đang như thế nào? Ông Hoàng Lệ Kha vào thời điểm đó là người như thế nào? (Ông Hoàng Lệ Kha quê gốc ở Hà Phong (Đò Lèn), Hà Trung, Thanh Hóa, được Đảng phân công vào miền Nam từ trước đó. Ông bám trụ ở Tây Ninh và lập gia đình ở đó). Vậy mà đến sau năm 2000, GS. Phan Huy Lê vẫn lặp lại cái chủ đề “thừa giấy rỗi hơi” bên tận Paris hồi nào! Cái “ý thức hệ” sử học nó hay như thế đó!

Về đánh giá Trương Vĩnh Ký

Cái đáng nói là GS. Phan Huy Lê tự nhận khuynh hướng khách quan trung thực đã chiếm ưu thế khi nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký. Chúng tôi thấy họ Trương là người có tài. Có chút đóng góp cho chữ quốc ngữ lúc ban đầu. Công thì nên nhớ nhưng tội cũng chớ nên quên (khi cái quan định luận). Nhìn khái quát, toàn diện toàn bộ thì Trương là người không theo lời răn của Chúa, phản quốc và phản văn hóa dân tộc. Chúa răn sống lành thiện để được lên Thiên đàng nhưng Trương làm ngược lại. Tự Trương thú nhận trong thư từ với Paul Bert, trong sự “dấn thân” vào Viện cơ mật, bao vây nhà vua, trấn áp các sủng thần v.v… Còn “đồng hóa người An Nam” theo văn hóa Pháp, dù thành hay bại, cũng ngang với Hiệp ước Versailles của Nguyễn Ánh năm 1787. Có khi còn nặng hơn. Thì sẽ biến cả dân tộc An Nam thành thứ dân nô lệ tự nguyện.

Về Alexandre De Rhodes

Sau khi đọc bài Nhận thức lịch sử cần được khẳng định về linh mục Dòng tên Alexandre de Rhodes của Lê Cung trên Tạp chí Hồn Việt số 150 / tháng 8-2020, thì thấy rất rõ ràng là những người bênh vực, đề cao Alexandre de Rhodes hoặc chưa biết đến sử liệu cực kì quan trọng này. Hoặc biết mà ra vẻ không biết vậy. Cảm ơn tác giả Lê Cung, cảm ơn Tạp chí Hồn Việt. Cố GS. Phan Huy Lê không còn cơ hội “mở rộng và suy ngẫm” về tư liệu này nên chúng tôi cũng xin được dừng lại. Song, lý luận của Giáo sư, sách vở của Giáo sư vẫn còn đó. Nên chúng tôi muốn mượn lời một người bạn thân của Giáo sư để tạm kết thúc bài viết:

“Tôi có một anh bạn thân, phải nói là rất thân, học với nhau từ thuở hàn vi, lại cùng làm việc dưới một mái trường đại học trên ba chục năm trường… Anh là con “quan lớn”, em của “ngụy lớn” nhưng “có đức có tài”, được chọn làm “hàng mẫu không bán”… nói năng với TRÊN với DƯỚI bao giờ cũng chừng mực… Anh thường bảo tôi: “Tớ thì về cơ bản cũng như cậu thôi. Nhưng cậu thông cảm, mỗi người một tính, một nết, một hoàn cảnh. Cậu “thành phần” tốt, ăn nói táo tợn thì quá lắm người ta cũng chỉ bảo cậu là “bất mãn cá nhân” thôi. Tớ “thành phần xấu”, ăn nói bằng 1/10 cậu thôi cũng bị qui là “phản ứng giai cấp” rồi. O.K! Anh cứ sống kiểu anh. Tôi cứ sống kiểu tôi. Chỉ có một điều thôi, là vì vậy – và vì nhiều lý do sâu xa khác nữa – nên nước ta chỉ có những nhà trí thức, chứ không có giới trí thức. Vậy thua thiệt thì Dân ráng chịu!

(Trần Quốc Vượng. Nỗi ám ảnh của quá khứ. Đất Mới (Hoa Kì). Tháng 5 – 6 năm 1991. Trg.26-27)

Ẩn nhẫn chờ thời như thế cũng là trí lự lắm! Giáo sư đã vượt qua rào cản ý thức hệ nhưng chưa đến được sự khách quan trung thực.

Hà Nội, tháng 10-2020

(Còn tiếp)

Hạ Ngọc Quang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 615

Ý Kiến bạn đọc