Người tốt - Việc tốt

Mấy vấn đề lớn trong “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo xây dựng và chỉnh đốn Đảng, bởi đây là điều kiện tiên quyết đưa cách mạng tới thành công. Một trong những tác phẩm quan trọng, nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng là cuốn “Sửa đổi lối làm việc” Bác viết với bút danh X.Y.Z, xuất bản lần đầu vào tháng 10/1947.

Sau đây là một số vấn đề lớn rút ra từ tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (theo bản in của NXB Chính trị Quốc gia và NXB Trẻ, năm 2005).

Bài I: Vấn đề “Phê bình và sửa chữa” trong cán bộ, đảng viên.

Ngay chương I của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (NXB Chính trị Quốc gia và NXB Trẻ, in năm 2005), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên việc “Phê bình và sửa chữa” (từ trang 7 đến trang 20), đủ thấy vấn đề phê bình và sửa chữa khuyết điểm trong Đảng và mỗi cán bộ đảng viên (CBĐV) quan trọng đến mức nào. Bác viết: “Cán bộ và đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập. Đó là một khuyết điểm rất to. Khác nào người thầy thuốc chỉ đi chữa người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa./ Từ nay, chúng ta cần phải thiết thực học tập, sửa chữa các khuyết điểm, công việc mới có thể tiến bộ” (tr. 7).

Phê bình và sửa chữa thường xuyên trong Đảng và trong mỗi CBĐV thực chất là sự tự phản biện trong mỗi cá nhân và mỗi tập thể cơ quan, đơn vị, để thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển, vững mạnh của bản thân và tổ chức của mình. Đây là một vấn đề có ý nghĩa nguyên tắc, mang tính khoa học, đồng thời là một quy luật tất yếu của sự phát triển.

Bác chỉ rõ cách phê bình: “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi lối làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ./ Vì vậy, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người./ Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét” (tr. 8-9).

Chu-tich-Ho-Chi-Minh-va-Tuong-Vo-Nguyen-Giap-lam-viec-voi-cac-si-quan-cua-Quan-doi-Nhan-dan-trong-cuoc-chien-chong-Phap-nam-1950---Anh-1
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Võ Nguyên Giáp làm việc với các sĩ quan
của Quân đội Nhân dân trong cuộc chiến chống Pháp, năm 1950 – Ảnh: kenh14.vn

Nội dung chính của chương I, Bác viết với tiêu đề “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng”. Đây cũng chính là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Bác đặt vấn đề rất rõ ràng: “Đảng ta hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tranh lại thống nhất và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang./ Nhưng, nếu mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, thì thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa./ Cán bộ và đảng viên làm việc không đúng, không khéo, thì còn nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm nhiều thì thành tích ít. Khuyết điểm ít thì thành tích nhiều. Đó là lẽ tất nhiên./ Vì vậy, ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công” (tr. 9-10).

Từ thực tiễn cách mạng và tư tưởng, hành vi, lối sống của CBĐV thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác nêu ra nhiều thứ khuyết điểm, nhưng Bác xếp vào “ba hạng”: “bệnh chủ quan”, “bệnh hẹp hòi” và “bệnh ba hoa”. Rồi Bác phân tích tác hại của “ba hạng” khuyết điểm đó.

Đối với “bệnh chủ quan”, Bác chỉ rõ nguyên nhân sinh ra bệnh này là “Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông”. Về khái niệm “lý luận” (mà nhiều người thường hiểu là những điều sách vở rất cao siêu – ĐNĐ ghi chú), Bác giải thích rất ngắn gọn và dễ hiểu: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính” (tr. 11). Ở đây, ta thấy tư duy, trí tuệ Hồ Chí Minh rất uyên thâm, trác tuyệt. Người đã diễn giải đoạn văn của V. Lênin trong tác phẩm “Bút ký triết học” nổi tiếng, mang đầy tính triết học về quy luật nhận thức của con người để hình thành lý luận: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng để nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” – thành nội dung rất giản dị và dễ hiểu như đã nói ở trên. Và Bác nhấn mạnh: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế./ Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Bác phê phán loại CBĐV “kém lý luận”: “Vì kém lý luận, cho nên gặp một chuyện không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại” (tr. 11). Bên cạnh những CBĐV “kém lý luận”, lại có những CBĐV tuy làm được việc và có kinh nghiệm, nhưng lại mắc bệnh “khinh lý luận”. Bác viết: “Họ quên rằng: nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều. Họ quên rằng: “kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi./ Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”

(tr. 11-12). Đồng thời lại có một số CBĐV tuy đọc được nhiều sách lý luận, nhưng lại không đem lý luận đó áp dụng vào thực tế, nên công việc cũng kém hiệu quả. Bác gọi đó là loại CBĐV mắc bệnh “lý luận suông”. Bác viết: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông…/ Xem nhiều sách để mà lòe, để làm ra ta đây, thế không phải là biết lý luận./ Những anh em đó cần phải ra sức thực hành mới thành người biết lý luận” (tr. 12).

Đối với “bệnh hẹp hòi”, Bác nhấn mạnh rõ: “Bệnh này rất nguy hiểm./ Trong, thì bệnh này ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết./ Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân./ Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa (tức suy thoái, hư hỏng, biến chất – ĐNĐ ghi chú)… đều do bệnh hẹp hòi mà ra” (tr. 15). Bác phân tích rất sâu sắc, nêu rõ những tác hại của bệnh này và phê phán rất nghiêm khắc. Ví dụ: “Vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách tẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Đó là một thứ bệnh hẹp hòi, trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất của Đảng” (tr. 15).

(Đối với “bệnh ba hoa”, Bác viết riêng thành một chương (chương VI – chương cuối cùng của cuốn sách).

Phần cuối chương I, Bác viết: “Để chữa khỏi những bệnh kia, ta phải tự phê bình ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau” (tr. 19). Và Bác kết luận: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như vậy thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng việc tự phê bình và phê bình trong mỗi CBĐV. Bác nói: “Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ nó mà chúng ta sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng” (“Hồ Chí Minh – Toàn tập”, NXB CTQG, Hà Nội – 1995, tập 7, tr. 575). Người có nhiều bài nói, bài viết về vấn đề này. Cho đến “Di chúc”, Bác còn nhắc nhở: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.

Đọc những điều Bác viết trên đây, ta thấy Bác thật sâu sát thực tế lúc đương thời, thẳng thắn và nghiêm khắc vạch ra, phê phán những khuyết điểm của Đảng và của mỗi CBĐV. Đồng thời ta thấy Bác vô cùng tinh tường, nhạy cảm và đầy tính tiên tri: Bác như đang sống cùng chúng ta bây giờ – thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, tức những thập niên đầu của thế kỷ XXI mà vạch ra những thứ “bệnh” nan y của Đảng, của CBĐV hiện nay, như: bệnh lười biếng học tập lý luận, bệnh chủ quan, tự mãn, bệnh quan liêu, xa rời thực tế, bệnh lợi ích nhóm… – diễn ra đang rất phức tạp và tinh vi, gây nhiều tác hại lớn cho Đảng và xã hội.

(Còn tiếp kỳ sau)

Đào Ngọc Đệ
(Giảng viên chính – Đại học Hải Phòng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 470

Ý Kiến bạn đọc