Người tốt - Việc tốt

Mấy vấn đề lớn trong “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bài IV: Bác Hồ nói về “Chống thói ba hoa“

Ngay ở chương I của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (NXB CTQG và NXB Trẻ, in năm 2005), với tiêu đề “Phê bình và sửa chữa” (từ trang 7 đến 20), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra “ba hạng” khuyết điểm lớn của cán bộ, đảng viên (CBĐV): “Khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan./ Khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng với ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi./ Khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa” (tr. 10). Song, Bác dành cả chương VI, chương cuối cùng của tác phẩm (từ trang 105 đến 115) để phân tích, phê phán thói ba hoa. Đây là một chương Bác viết rất hay, rất sinh động và thiết thực, bổ ích, có giá trị lâu dài. Các CBĐV nói chung, nhất là những người làm công tác tuyên truyền (tuyên giáo, báo chí, văn nghệ, soạn thảo các thông tư, nghị quyết…) càng nên tìm đọc và nghiên cứu kỹ chương này.

Thói ba hoa thường thấy trong rất nhiều CBĐV các cấp, các ngành, các đơn vị, các địa phương, nhưng đặc biệt phổ biến ở những người đứng đầu và các CBĐV làm công tác tuyên truyền, báo chí và văn nghệ. Bác viết: “Chúng ta chống bệnh chủ quan, chống bệnh hẹp hòi, đồng thời phải chống thói ba hoa. Vì thói này cũng hại như hai bệnh kia. Vì ba thứ đó thường đi với nhau. Vì thói ba hoa còn, tức là bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi cũng chưa khỏi hẳn” (tr. 105).

Bác Hồ vạch ra nguyên nhân của thói ba hoa: “Vì chúng ta trước kia học chữ Hán, sau này học chữ Pháp, cho nên khi nói và viết, hay dùng chữ Hán và theo cách Pháp. Thành thử dài dòng mà khó hiểu, khó nghe. Lại cũng vì chủ quan và hẹp hòi” (tr. 105).

Sau đó, Bác nêu ra và phê phán những biểu hiện của thói ba hoa:

Trước hết, Bác phê phán bệnh nói/ viết “dài dòng, rỗng tuếch”: “Nhiều anh em hay viết dài. Viết dòng này qua dòng khác, trang này qua trang khác. Nhưng không có ích cho người xem. Khác nào vải băng bó mụn lở, đã thối lại dài” (tr. 105). Về việc này, Bác phân tích rất dí dỏm: “Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch như thể? Chỉ có một cách trả lời: là quyết không muốn cho quần chúng xem. Vì đã dài lại rỗng, quần chúng trông thấy đã lắc đầu, ai còn muốn xem nữa?” (tr. 105 – 106). Và Bác nhắc nhở: “Trong lúc kháng chiến này, chiến sĩ trước mặt trận phải đánh giặc, đồng bào ở hậu phương phải tăng gia sản xuất. Ai có thời giờ đâu mà xem những bài dài quá” (tr. 106).

Anh-minh-hoa---May-van-de-lon-trong-Sua-doi-loi-lam-viec-cua-Chu-tich-Ho-Chi-Minh-1

Lập luận rất chặt chẽ, Bác cũng phê phán cả việc viết ngắn mà rỗng: “Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài…. Chúng ta chống là chống nói dài, viết rỗng. Chứ không nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt” (tr. 106).

Tiếp đó, Bác phê phán thói nói/viết “cầu kỳ”: “Trên các báo, sách, bức tường, thường có những bức vẽ, những khẩu hiệu, nhiều người xem không ra, đọc không được./ Họ cho thế là “mỹ thuật”. Kỳ thực, họ viết, họ vẽ, để họ xem thôi” (tr. 106 – 107). Từ đấy, Bác dạy: “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem./ Nhiều người tưởng: mình viết gì, nói gì, người khác cũng đều hiểu được cả. Thật ra, hoàn toàn không như thế. Dùng cả đoạn chữ Hán, dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây, mỗi câu dài dằng dặc, thì quần chúng hiểu sao được?” (tr. 107). Bác phê phán thói “cầu kỳ” với lời văn thật dí dỏm: “Tục ngữ nói: “Đàn gẩy tai trâu” là có ý chê người nghe không hiểu. Song những người tuyên truyền mà viết và nói khó hiểu, thì chính người đó là “trâu”” (tr. 107).

Bác còn chỉ ra và phê phán cách viết/nói “khô khan, lúng túng”: “Nói đi nói lại, cũng chẳng qua kéo ra những chữ “tích cực, tiêu cực, khách quan, chủ quan”, và một xốc danh từ học thuộc lòng. Thậm chí những danh từ đó dùng cũng không đúng. Chỉ làm cho quần chúng chán và ngủ gật” (tr. 107). Rồi Bác căn dặn: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới lọt tai quần chúng./ Tục ngữ có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được. Vì cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn. Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi viết, khi nói, khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực” (tr. 107 – 108).

Tiếp đó, Bác phê phán bệnh “báo cáo lông bông”: “Một là báo cáo giả dối. Thành công ít, thì suýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi, không nói đến. Thành thử cấp trên không hiểu rõ tình hình mà đặt chính sách cho đúng. Hoặc báo cáo chậm trễ. Thành thử khi cấp trên nhận được báo cáo, thì việc đã trễ rồi, không đối phó kịp” (tr. 109).

Bác còn phê phán các biểu hiện khác của thói ba hoa, như: bệnh “lụp chụp, cẩu thả”, bệnh “theo sáo cũ” (khuôn sáo, máy móc trong cách nói/ viết, trong hội nghị, hội thảo, trong các lớp huấn luyện), “bệnh “nói không ai hiểu”(nói/ viết cao xa, màu mè, không phù hợp với trình độ quần chúng).

Ở phần này, Bác Hồ phê phán “bệnh hay nói chữ” (tức thói ham dùng tiếng nước ngoài – ĐNĐ). Bác dạy: “Tiếng ta còn thiếu, nên nhiều lúc phải mượn tiếng nước khác, nhất là tiếng Trung Quốc. Nhưng phải có chừng mực. Tiếng nào ta sẵn có thì dùng tiếng ta”; và: “Chúng ta không chống mượn tiếng ngoại quốc để làm cho tiếng ta đầy đủ thêm. Nhưng chúng ta phải chống cách mượn không phải lối, mượn đến nỗi bỏ cả tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu” (tr. 108). Về việc vay mượn tiếng nước ngoài, Bác viết hàm súc như thế, nhưng rất khoa học, chứng tỏ Người rất am tường về khoa Ngôn ngữ học.

Phần cuối chương VI, Bác nêu ra “Cách chữa thói ba hoa” (tr. 114 – 115), gồm 5 điều; trong đó Bác nhấn mạnh: “1- Phải học cách nói của quần chúng…./ Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng./ 2- Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu./ 3- Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm làm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?”…

Sáu năm sau khi viết “Chống thói ba hoa”, vào tháng 8- 1953, trong bài giảng về “Cách viết”, tại Lớp chỉnh Đảng Trung ương (Xem “Hồ Chí Minh – Toàn tập”, tập VI, NXB Sự Thật – Hà Nội, 1986, từ trang 443; hoặc “Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục”, NXB Giáo dục, Hà Nội – 1990, từ trang 116 đến 119), Bác Hồ cũng dành một phần quan trọng để dạy các CBĐV làm công tác tuyên truyền về cách viết: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết sao cho ngắn gọn, dễ hiểu, thiết thực với quần chúng và phê phán “bệnh” ham dùng chữ nước ngoài.

Bây giờ, 70 năm sau khi ra đời tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, ta thấy những điều Bác nêu ra trong việc “Chống thói ba hoa” vẫn mang tính thời sự bức thiết; nghĩa là hiện nay – trong một bộ phận không nhỏ CBĐV, nhất là ở những người giữ cương vị lãnh đạo cấp trưởng, cấp phó các ngành, các cấp, các tổ chức, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị, địa phương và các cán bộ làm công tác tuyên truyền, báo chí, văn nghệ – “thói ba hoa” vẫn còn khá trầm trọng. Hiện tượng các diễn văn dài dòng, mênh mông, các báo cáo giấu giếm khuyết điểm nhưng lại “tưởng tượng” ra rất nhiều “thành tích”, những bài viết, bài nghiên cứu nội dung nghèo nàn mà viết “tràng giang đại hải”… đang rất phổ biến khắp nơi. Không phải bỗng dưng, không phải ngẫu nhiên mà nhân dân gọi những người “ba hoa”, sáo rỗng, nói không đi đôi với làm, là hạng người: “Ưa chém gió”, và “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa”! Câu này đáng tiếc đã trở thành tục ngữ, thành ngữ hiện đại! Rồi cái “bệnh” ham dùng chữ/ tiếng nước ngoài vẫn còn rất phổ biến trong giao tiếp hằng ngày, trong các hội nghị, hội thảo, nhất là trên các phương tiện truyền thông!

Đọc lại và suy ngẫm “Sửa đổi lối làm việc” – 1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lần nữa ta càng thấy Bác Hồ kính yêu – Lãnh tụ tối cao của Đảng và dân tộc – dù bận trăm công nghìn việc quốc kế dân sinh, nhưng Bác luôn luôn gần gũi, thấu hiểu và đồng cảm với nhân dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân, lấy mục đích phụng sự nhân dân làm lẽ sống; đồng thời Người rất sâu sát với mọi diễn biến tư tưởng, tác phong, lề lối lãnh đạo, cách làm việc và lối sống của các CBĐV. Vì thế, trong tác phẩm này, Bác nêu ra và phân tích sâu sắc, cặn kẽ rất nhiều khuyết điểm của các CBĐV mà Bác gọi là các “chứng bệnh”. Từ đó, Người đề ra cách “Sửa đổi lối làm việc”, đặc biệt coi trọng công tác cán bộ (lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng, đề bạt và xử lý cán bộ), dùng tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để sửa chữa các sai lầm, khuyết điểm, nhằm làm cho mỗi người và đồng chí mình cùng tiến bộ, làm cho Đảng ngày càng lớn mạnh.

Thiết nghĩ, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là SÁCH GỐI ĐẦU GIƯỜNG của mỗi CBĐV – nhất là đối với những người giữ vai trò lãnh đạo, dù đang tại chức, hay đã nghỉ hưu, mỗi ngày đọc lại và chiêm nghiệm vài trang trong cuốn sách bất hủ, như ta thường rửa mặt hằng ngày.

Đào Ngọc Đệ
(Giảng viên chính – Đại học Hải Phòng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 473

Ý Kiến bạn đọc