Tản văn

Mảnh vườn ao của nhà ngoại Nguyễn Bính

LTG: Xuân Kỷ Hợi (2019) này, nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn bước vào tuổi 100. Sức không còn khỏe nhưng cụ vẫn còn minh mẫn để trò chuyện. Một trong số đó là chuyện văn về người em họ con cậu: Nguyễn Bính. 

 

Ở mé nam xóm Bến, thôn Vân, rộng chừng bốn năm ngàn mét vuông có ba cái ao (một chiếc gọi là ao Đào Từ – nay lại tắm ao Đào) và một ruộng mạ liền nhau giáp một khu vườn. Phía trước vườn, gần bờ ao là ba gian nhà ngói và một dãy nhà gỗ xoan trông ra hướng nam và đông nam. Ngoài cùng là lũy tre xanh, sát lũy tre là con sông Vân.

Cạnh cổng ngõ vào nhà có chiếc giếng Ngọc và một con ngòi trên có chiếc cầu tre bắc ngang. Dưới cầu thường có những chiếc thuyền nan nhỏ mà quê tôi gọi là thuyền “bơi”.

Ngày trước, ba cái ao vừa thả cá vừa trồng các thứ sen trắng, sen hồng (Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen), súng, ấu, rau muống, rau rút. Trên bờ ao trồng đặc các loại cây ăn quả: bưởi, chanh, cam, yên, dâu, táo, ổi, nhãn, dừa, sán (vỏ cây này giã nhỏ sơn trít vào thuyền nan, quả nó nhỏ như hạt ngô, khi chín màu tím thẫm, vị ngọt), sung… mùa nào thức ấy. Ngoài ra, còn có những vạt đất trồng thuốc lào, thuốc lá (Rượu dâu nhà cất, thuốc lào nhà phơi).

Mấy sào vườn rộng trồng toàn chè, cau. Khi vườn tốt lá, trẻ con ẩn nấp tìm nhau rất khó. Vườn còn trồng các loại cam chanh, cam đường, mít na, mít mật, lê, mơ, mận, na, táo, đào, quất, quýt, còn có mãng cầu xiêm, vú sữa… một gốc thông cao vút, trên những cây khế có nhiều chùm hoa đỏ. Ven ao, ngòi là mấy cây dừa và những rặng liễu.

Hoa cũng rất nhiều: Hồng, cúc, lan, tử tiêu, ngọc lan, lạp mai, mẫu đơn, ngâu, huệ, những giàn thiên lý và nho xum xuê trước sân… Loại cây thuốc có hoa cũng rất nhiều: huyền sâm, thiên môn, huyết dụ, bồng bồng, gừng, nghệ, riềng, bo bo… Nhà có nhiều cây vừa do cậu ruột của Bính thích trồng cây hoa, vừa do các học trò của ông mang tới trồng tặng thầy làm kỷ niệm:

Thôn Vân có biếc có hồng
Biếc trong nắng sớm hồng trong vườn chiều.

Và:

Ăn gỏi cá, đánh cờ người
Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân.

Giữa làng có con đê đất “Ất Hợi” (vì đắp năm Ất Hợi) chạy ngang qua – một đầu giáp ga xe lửa cầu Họ, một đầu giáp dãy núi Ngăm, Tiên Hương. Đây là một con đường hàng năm tháng 3 âm lịch đông người trẩy Hội Phủ Giầy…

Hiện tại, ngoài chiếc lư trầm nhỏ có hình “người dắt trâu” do Nguyễn Bính tặng, tôi còn giữ một bức tranh chì màu. Bức tranh cũng vẽ người dắt trâu ở bờ ruộng lũy tre thôn Vân của Hoàng Lập Ngôn (1940). Năm này, Ngôn về chơi thôn Vân. Vì bà Bùi Trình Khiêm, mợ của Bính, lại là dì ruột của Ngôn. Nguyễn Bính và Hoàng Lập Ngôn từng gặp nhau ở thôn Vân – quê ngoại của Bính – và ở Hà Nội, Nam Định…

Hoàng Lập Ngôn là một họa sĩ, người từng có sáng kiến đóng một chiếc xe ngựa, rồi gia đình nhỏ (3 người) của Ngôn ở luôn trên đó, với ước mơ xe sẽ lăn khắp các miền đất nước.

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---Manh-vuon-ao-cua-nha-ngoai-Nguyen-Binh---Anh-1

Trong tập Hồi ký “Đường Mê Ly” viết về nhà lăn Mê Ly (Mê Ly là tên con gái đầu lòng của Ngôn) có đoạn nhắc tới Nguyễn Bính như sau: “Và mãi tới mồng 6 tháng 4 năm 1941, sau một buổi nói chuyện để từ biệt các bạn, tôi mới bắt đầu lăn ở đường Cổ Ngư để đi Hải Dương, Thái Bình…”.

“… Chín giờ kém mười lăm tới Cổ Ngư, nước hồ xanh, xanh như màu sơn trong xe tôi. Rét với gió, các bạn nhất định đòi “mã thượng bôi” (rượu tiễn biệt nhau trên lưng ngựa). Tôi đành phải mời các bạn “bôi” sơn vào chung quanh xe, thành chữ, thành hình. Gọi là giây phút kỷ niệm”.

Nguyễn Bính đã “bôi” vào “Nhà lăn Mê Ly” của Hoàng Lập Ngôn 4 câu thơ sau:

Đây chiếc xe lăn của bốn trời
Trăng vàng chan chứa ngó mê tơi
Hôm nay xe lại lên đường nhỉ
Hồn nhớ mơ về nhé bạn ơi!

*
Mồng 6 tháng 3 năm Quý Dậu (1933), Bính từ xóm Trạm xuống Hội Phủ Giầy, vào nhà cô ruột (lấy chồng ở đó) ăn bữa cơm trưa. Buổi chiều, lấy vé ôtô đi Hà Nội. Sau này, theo Bính kể lại, cái cớ “bắt đầu những chuyến giang hồ qua quýt” ấy là:

- Hôm ấy, trong xóm có đám tổ tôm, thói thường ngày xưa, khi đánh tổ tôm, người chơi bài có một khoản tiền “hồ”. Hồ là tiền để nhà chủ dùng vào các việc như nước nôi, cơm cháo, dầu đèn hoặc chỉ cho những người chia bài cho một “Hội” – danh từ một cuộc chơi bài. Ví dụ, vào đầu Hội, mỗi người đóng góp 10 đồng (Tổ tôm có 5 chân bài – 5 người vị chi là 50 đồng). Hội trích ra một khoản nào đó làm tiền “Hồ”. Còn lại chi cho những ván bài “ù”. Trong số chơi bài sáng hôm ấy, có người ù nhiều, được lắm tiền, bỗng thèm ăn kẹo sìu và bánh đỗ xanh Hanh Tụ của thành phố Nam Định, lúc này đang thời Hội Phủ Giầy, nên có mang về bán tại Tiên Hương, địa điểm chính của Hội Phủ Giầy…

Năm ấy, Bính mười lăm, mười sáu tuổi, uất ức vì nỗi “Trọc phú ti toe bàn thế sự – Điếm già tấp tểnh nói văn chương” như thơ Bính sau này từng viết. Do đó, Bính xuống Phủ Giầy rồi đi luôn Hà Nội. Tới Hà Nội, Bính tìm tới Hàng Bồ xin việc bán báo lẻ để kiếm sống. Nhưng, một chú bé lớ ngớ mới ở tỉnh lẻ lên Hà Nội thì không thể nào cạnh tranh nổi với những “thổ công Hà thành” bấy giờ. Bính tìm vào nơi anh ruột là Nguyễn Mạnh Phác. Lúc này Mạnh Phác đang dạy học ở trường tư thục Hà Văn trong thị xã Hà Đông. Song, Phác cũng chỉ mới chân ướt chân ráo tới Hà Đông được ít lâu, nên cuộc sống còn nhiều khó khăn. Bính tìm lên Thái Nguyên, vào huyện Đồng Hỷ dạy học trong các trại ấp. Ít lâu sau, vừa phần cảnh rừng núi hiu quạnh, vừa phần cái máu sông hồ đang sôi nổi… lúc này Bính đã làm được một số bài thơ, nhưng chưa đăng ở đâu.

Lại về Hà Nội ở với anh ruột. Nguyễn Mạnh Phác đã thôi dạy ở Hà Đông, ra Hà Nội làm thuê cho một hiệu thuốc Đông y bào chế kiêm nhà in. Thơ Bính dần dần được đăng báo, được giải khuyến khích của Tự Lực Văn Đoàn. Và tới “Lỡ bước sang ngang” đăng liền mấy số trên Tiểu Thuyết Thứ Năm thì nổi tiếng… Dạo đó, hầu như ở đâu cũng có người đọc “Lỡ bước sang ngang”.

Bài thơ của Bính được đăng báo đầu tiên là bài “Cô hái mơ” và Tiểu Thuyết Thứ Năm là tờ báo đăng thơ Bính nhiều nhất.

Thời kỳ này kinh tế khó khăn, cảnh nhà sa sút, nên từ khoảng những năm 1934-1935 trở đi, tôi cũng đi học một số nghề lặt vặt, chụp ảnh hoặc sửa bản in thuê… nhưng cũng chả có gì ổn định cho lắm. Do đó, tôi cũng có lúc ở Nam Định, Hà Nội và có lúc ở Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) lần thứ 2… Chuyến chia tay dài giữa Bính và tôi khoảng cuối năm 1941 (cho tới cuối 1954 mới gặp nhau bên Hồ Gươm).

Dạo ấy, Trúc Đường (anh ruột Bính) có thuê một gian buồng nhà lá ở cuối phố Chợ Đuổi – nay là vào khoảng phố Tuệ Tĩnh giáp phố Bùi Thị Xuân gì đó. Có những kỳ mưa liền mấy hôm, bữa trưa chỉ mua vài hào khoai lang luộc ăn trừ bữa và dành mấy xu mua vé xe điện buổi chiều (Trúc Đường có vé tháng). Ở căn buồng nhỏ này thường có treo một bài thơ của Bính. Ở đây Bính và tôi đã gặp những cô gái Huế mang tên hoa mùa thu rất xinh đẹp và tất nhiên là mê thơ Bính…

Trước khi Bính “giang hồ qua quýt” vào Thanh Hóa, một tối, anh em Bính cùng tôi lên chỗ chú Cả Biền (chồng cô ruột tôi). Chú Cả Biền cùng vợ kế và 4 con nhỏ đều dọn lên Hà Nội và mở một quán bán bánh cuốn nhỏ ở phố Ngọc Hà. Vì vậy trong bài thơ ở Huế, Bính có viết: “Gia đình thiên cả lên Hà Nội”.

Khoảng mười giờ rưỡi tối, ba chúng tôi “cuốc bộ” từ Ngọc Hà về Chợ Đuổi. Đường đi qua vườn hoa Canh Nông (nay là vườn hoa Công viên Lênin – đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình, Hà Nội) ngạt ngào hương cúc tháng 9. Trăng khuya trời lạnh, nhắc lại chuyện gặp gỡ những cô gái Huế mang tên hoa, Bính bảo tôi:

- Đi Huế chuyến này và gặp lại Cúc thì tuyệt.

Ở Thanh Hóa, khi được tin Nhi xa thôn Vân, Bính gửi cho tôi bài “Hoa với Rượu”, dài 100 câu, trong đó có những câu:

Từ ngày Nhi bỏ rơi làng cũ
Mộng ngát duyên lành cũng bỏ tôi

Chắc ở nơi nào dưới mái gianh
Chị em Nhi vẫn sống yên lành
Chị Nhi cất rượu cho Nhi bán
Hồn vẫn trong mà mộng vẫn trinh

Ngày xưa còn nhỏ Nhi còn đẹp
Huống nữa giờ Nhi đã đến thì
Tháng tháng mươi mười lăm buổi chợ
Cho người thiên hạ phải say Nhi

Xóm chị em Nhi ở mấy nhà
Bến đò đông vắng chợ gần xa
Nhà Nhi thuê có vườn không nhỉ
Vườn có giồng cam có nở hoa?…

Có lần, ở Sài Gòn ra Hà Nội, gặp Nhi ở một nhà bên số lẻ gần Hồ Gươm thuộc phố Gia Long (nay là đường Bà Triệu) tôi kể chuyện Bính gửi thơ cho tôi, trong có nhắc nhiều tới cô. Cô buồn bảo tôi:

- Thì cũng cái cảnh lỡ bước sang ngang với nhau cả!

Ít lâu sau, từ Hà Nội, Trúc Đường gửi thư cho tôi, trong có kèm bài “Thôn Vân”. Ngay từ dạo ấy, nhiều người trong gia đình ở thôn Vân và xóm Trạm đã thuộc lòng. Nhất là những câu:

Thôn Vân có biếc có hồng
Biếc trong nắng sớm hồng trong vườn chiều
Đê cao có đất thả diều
Trời cao lắm lắm có nhiều chim bay.

Sau khi nhận được bài “Anh về quê cũ” tôi có viết một bài thơ gửi Bính, trong đó có mấy câu như:

Ba năm cát bụi kinh thành
Ngoài hai mươi tuổi chưa đành học buôn
Tranh đời chấm phá vàng son
Mưa bay quán khách hoàng hôn quê nhà.

Hoặc:

Bính từ dấn bước sông hồ
Nhặt mai kinh khuyệt lỡ đò Trữ La
Nửa đời làm khách người ta
Mùa xuân này nữa vẫn là tha hương.

Ít lâu sau, Bính gửi cho tôi một tờ tạp chí (tôi nhớ mang máng là bìa màu vàng nhạt) trong đó có in bài thơ “Con nhà Nho cũ”. Con nhà Nho cũ cùng là một cái tên một cuốn sách được quảng cáo trên một tờ báo xuất bản nhân dịp Tết Ất Dậu, gồm bài thơ “Con nhà Nho cũ” và những bài thơ về thôn Vân của Bính, ngoài ra còn có bài và thơ của Trúc Đường và tôi nữa. Nhưng sau không có điều kiện in.

Trong bài thơ “Con nhà Nho cũ”, Bính có nhắc tới: “Đống Lương anh Duận, Lúa Đò anh Ban”. Lúa Đò chỉ cách thôn Vân có một quãng đường đồng không rộng, Đống Lương cũng nằm bên con đê Ất Hợi như thôn Vân, cách xa nhau chừng 4km. Cả hai làng đều thuộc huyện Vụ Bản. Đinh Văn Duận (tổ tiên là họ Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư, Ninh Bình) và Nguyễn Đức Ban là học trò ông Bùi Trình Khiêm. Hai anh này cùng học ở thôn Vân với Bính trong những năm cuối thập kỷ XX.

Sau những buổi nghe giảng bài xong, Bính cùng Duận, Ban và bọn tôi thường đánh cờ, hoặc câu cá… Có hôm mát trời, rủ nhau bơi thuyền nan vượt sông Chân Ninh sang dãy núi Suối, lên tháp Chương xây từ thời nhà Lý, hoặc cũng có lúc cùng mấy cô gái thôn Vân rủ nhau đi chơi Hội Phủ Giầy, Hội Chùa Hương…

Bầu giời cảnh Bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non nước nước mây mây
Đệ nhất động “hỏi rằng đây có phải”.

Bùi Hạnh Cẩn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc