Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Màn khiêu khích đêm giao thừa và cuộc “đấu trí” giữa sào huyệt địch

Sau ngày Hiệp định Paris có hiệu lực, ông Vũ Bình (bí danh của ông Nguyễn Văn Khả, Phó Trưởng phòng bảo vệ an ninh Quân Giải phóng miền Nam) được cấp trên điều về làm Trưởng ban bảo vệ an ninh của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B). Sau hơn 40 năm, Đại tá Nguyễn Văn Khả, nguyên Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ (Tổng cục Chính trị) đã nhớ lại những ngày đầu Xuân Quý Sửu 1973, khi ông có mặt tại Trại Đa-vít để làm nhiệm vụ “đấu trí” giữa sào huyệt địch.

Màn “khiêu khích” đêm giao thừa

Chiều ngày 2-2-1973 (tức chiều 30 Tết Quý Sửu), các Trưởng đoàn trong Ban liên hợp quân sự bốn bên bắt đầu họp phiên đầu tiên. Sau cuộc họp, phía đoàn Mỹ yêu cầu các bên tranh thủ họp cả ngày hôm sau, tức mồng 1 Tết. Đồng chí Trần Văn Trà, Trưởng đoàn B liền có ý kiến: “Ngày mai là Tết Nguyên đán, đề nghị các bên dừng họp để người Việt Nam chúng tôi ăn Tết”. Ý kiến trên được cả đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Đoàn A) lẫn đoàn của Chính quyền Sài Gòn đồng tình.

Năm ấy, ông Khả và đồng đội đã có một cái Tết khó quên, bởi lần đầu tiên hai đoàn đại biểu quân sự của hai miền có dịp tề tựu, chung vui ngay giữa sào huyệt đối phương. Trong mâm ngũ quả đặt trên bàn thờ Tổ quốc, ngoài cành mai còn có cành đào do thành viên phái đoàn miền Bắc mang vào. 

So-486-Man-khieu-khich-dem-giao-thua-va-cuoc-dau-tri-giua-sao-huyet-dich---Anh-2a
Đại tá Nguyễn Văn Khả kể lại cuộc “đấu trí” 40 năm trước – Ảnh: Bùi Vũ Minh.

Sau giao thừa, khoảng 2 giờ sáng mồng 1 Tết, trong lúc anh em đang vui vẻ hàn huyên bỗng thấy có 4-5 chiếc trực thăng quần đảo trên nóc khu nhà ở trong Trại Đa-vít. Từ trên máy bay, địch chiếu đèn xuống sáng rực. Ngoài cổng, nhiều chiếc xe tăng, xe bọc thép đang “rít” kèn kẹt, quân lính thì trang bị súng ống, lưỡi lê và tỏ một thái độ rất ngang ngược. Ta chưa rõ chuyện gì nên cử người ra tìm hiểu. Thì ra, địch phát hiện ta đang treo một lá cờ đỏ sao vàng, đó là lá cờ do một sĩ quan thông tin của ta tự ý treo lên trước cửa phòng để đón năm mới. Việc treo cờ khiến đối phương cho rằng ta “khiêu khích” và chúng đã kéo quân tới để… uy hiếp. Biết chuyện, Trưởng đoàn Trần Văn Trà nói với các thành viên hai đoàn: “Hiện nay chúng ta đang xúc tiến bàn với đối phương về việc ngừng bắn, trao trả tù binh và các bước tiếp theo, trong khi chưa thống nhất được cụ thể thì chưa nên tự phát làm theo ý mình. Vì việc lớn, chúng ta hãy bỏ qua chuyện nhỏ này đi”. Lá cờ được hạ xuống, tình hình trở lại bình thường. Tuy nhiên, nghỉ Tết xong, khi các bên vào họp trở lại, phía ta đã không bỏ qua vụ “đụng độ” ấy. Trưởng đoàn Trần Văn Trà đã đem chuyện đối phương khiêu khích ra nói tại cuộc họp với những lời lẽ cứng rắn:

- Các ông có lẽ đã quen với việc dùng vũ lực để dọa nạt người khác, nhưng bao nhiêu vũ lực của các ông đều đã bị thất bại nên giờ đây mới phải chấp nhận việc thực thi Hiệp định Paris, vậy các ông hãy nhớ rằng chúng tôi tới đây là để nói chuyện hòa bình, chứ không phải đem quân vào để đánh nhau.

Lúc này, cả Út-uốt (Gilbert Woodward) – Trưởng đoàn Mỹ, lẫn Ngô Du – Trưởng đoàn Việt Nam Cộng hòa đều tỏ vẻ “ngơ ngác”, không rõ chuyện gì. Sau đó, Ngô Du cũng trả lời chống chế:

- Có lẽ lực lượng của chúng tôi phát hiện ra điều gì đó khả nghi nên mới làm vậy để đảm bảo an ninh cho khu vực sân bay…

- Từ nay, yêu cầu các ông bỏ ngay cái trò khoa trương sức mạnh ấy đi. Nếu như Quân Giải phóng của chúng tôi ở gần đây mà biết được các ông “đón khách” một cách vô văn hóa và mất lịch sự như thế thì họ sẽ suy nghĩ và “hành động” thế nào đây ? – Trung tướng Trần Văn Trà cảnh cáo.

So-486-Man-khieu-khich-dem-giao-thua-va-cuoc-dau-tri-giua-sao-huyet-dich---Anh-1a
Ông Nguyễn Văn Khả (đứng thứ tư, từ trái sang) và các sĩ quan bảo vệ hai phái đoàn ta tại Trại Đa-vít 
(22-12-1973) – Ảnh do nhân vật cung cấp.

Sau “sự cố” đêm Giao thừa, các thành viên của hai đoàn Nam – Bắc chúng ta đều xác định: Đối phương sẽ còn tiếp tục sử dụng nhiều thủ đoạn hòng làm nhụt ý chí của ta.

Những cuộc “đấu trí”

Một lần, các cán bộ bảo vệ đoàn B phát hiện những dấu hiệu khả nghi của Bùi Thiện Khiêm, một nhân viên đang làm việc trong Trại Đa-vít. Với vai trò “nhân viên điện nước”, Khiêm có thể tới vào bất kỳ giờ nào để kiểm tra, sửa chữa tại nơi ở của hai đoàn ta. Qua tìm hiểu, được biết trước đó anh ta từng là một thiếu tá công binh, rất có thể được địch cài vào, nhưng do không phải là một tên tình báo chuyên nghiệp nên Khiêm đã có những màn kịch khá vụng về: gặp ai trong số các cán bộ của ta Khiêm cũng nhìn rất kỹ, như để nhận mặt người quen. Ông Khả chỉ đạo anh em sàng lọc xem trong đoàn của ta có ai trùng họ hoặc cùng quê với Khiêm. Quả nhiên, trong danh sách đoàn B có một người tên là Bùi Thiện Hùng, cùng quê Cao Lãnh với Khiêm và đang làm phiên dịch tiếng Nga cho đoàn. Từ đó, mọi hoạt động của Khiêm luôn được anh em bảo vệ theo dõi.

Hôm ấy, Bùi Thiện Hùng đang làm nhiệm vụ tiễn đoàn Ba Lan và Hunggari về nước thì Khiêm đứng gần đó chợt chạy ra ôm chầm lấy Hùng. Hai anh em ruột ở hai chiến tuyến vui mừng nhận ra nhau. Rất bất ngờ, nhưng Hùng vẫn bình tĩnh bảo em: “Gặp lại em, anh rất mừng, nhưng anh còn đang bận việc, em cứ ra ngoài kia để anh báo cáo cấp trên rồi sẽ gặp nhau sau”. Sau đó, Bùi Thiện Hùng về báo cáo với trưởng đoàn và cán bộ bảo vệ an ninh của đoàn. “Chúng tôi bàn bạc và thống nhất cho hai anh em được gặp nhau, Hùng còn cẩn thận tới gặp tôi để xin ý kiến cụ thể. Tôi có khuyên Hùng: Lúc này anh có lợi thế vừa là anh trai, vừa là người của cách mạng nên có thể khéo léo chỉ bảo người em nhiều điều hơn lẽ thiệt, tránh để bị kẻ địch lôi kéo. Quả nhiên ngay sau đó vì đối phương nhận thấy việc “cài cắm” không hiệu quả nên đành chuyển “nhân viên điện nước” Bùi Thiện Khiêm đi nơi khác”, đại tá Khả nhớ lại.

Trong thời gian ở Trại Đa-vít, ông Khả không chỉ phụ trách công tác bảo vệ an ninh mà còn là Phó Trưởng Tiểu ban trao trả của đoàn B. Ngay trong đợt trao trả đầu tiên, ông và đồng đội đã được chứng kiến một cuộc “đấu trí” khá căng thẳng giữa ta và địch. Khi các bên thỏa thuận cuộc trao trả sẽ được tiến hành vào 8 giờ sáng ngày 12-2-1973 thì 10 giờ đêm 11-2, đồng chí Lê Trực – Trưởng Tiểu ban trao trả của đoàn B – nhận được điện của Trần Vĩnh Đắt – Trưởng Tiểu ban trao trả của Chính quyền Sài Gòn – cho biết: “Trên 900 tù binh bên phía các ông không chịu đi nên ngày mai không thể trao trả số người này như đã thỏa thuận”. Lãnh đạo đoàn triệu tập gấp một cuộc họp và đưa ra hai khả năng: Có thể địch cố tình phá hoại, hoặc do số anh em ta cảnh giác, không tin có việc trao trả. Sau cuộc họp, phía ta thống nhất trong ngày 12-2 sẽ hoãn việc trao trả 27 quân nhân Mỹ tại sân bay Lộc Ninh cho tới khi có chuyến bay chở số người của ta hạ cánh xuống.

So-486-Man-khieu-khich-dem-giao-thua-va-cuoc-dau-tri-giua-sao-huyet-dich---Anh-3a
Một dãy nhà trong Trại Đa-vít – nơi đóng trụ sở hai đoàn đại biểu quân sự của ta – Ảnh do nhân vật cung cấp.

Sáng 12-2, ông Khả được cử làm Trưởng đoàn sĩ quan tới Trại giam Tam Hiệp (Biên Hòa) để xem xét và xử lý tại chỗ. Cùng đi với ông còn có một cán bộ đoàn B và một số cán bộ ở đoàn A. Đoàn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng cử 2 sĩ quan đi cùng. Khi tới nhà lao Tam Hiệp, phía ta yêu cầu tên Phong – Giám đốc nhà lao – cho gặp tất cả 935 anh em tù binh. Phong nhăn nhó: “Anh em nhà lao họ “căm” chúng tôi lắm, nếu để tất cả đến đây sợ không an toàn, xin được cho họ cử đại diện tới gặp các ông”. Ông Khả ra điều kiện: “Nếu phát hiện số người mà chúng tôi tiếp xúc là do các ông “cài cắm” thì cuộc gặp sẽ bị hủy, khi ấy cũng sẽ không có cuộc trao trả 27 quân nhân Mỹ nữa”. Phong đồng ý.

Khi 12 người xuất hiện từ xa, ông Khả và đồng đội đã cố gắng quan sát xem những thân hình gầy gò, ốm yếu và bước chân tập tễnh ấy liệu có phải là những người do địch cài vào? Các cán bộ của ta tiến đến bắt tay, nhưng không ai trong số họ chìa tay ra đáp lại. Lúc ấy, ông Khả tự nhủ: “Đúng người của ta rồi! Các anh không vồn vã bắt tay vì họ đang thận trọng, sợ địch giả mạo việc trao trả để thủ tiêu đây!”. Nén xúc động, ông Khả tự giới thiệu mình và các thành viên trong đoàn, sau đó đưa những giấy tờ liên quan có chữ ký xác nhận của hai Trưởng đoàn là Trung tướng Trần Văn Trà và Thiếu tướng Lê Quang Hòa để họ bớt nghi ngờ. Để chắc chắn, ông Khả hỏi thêm: “Trong những ngày qua, anh em đã được Nhà lao phổ biến nội dung Nghị định thư trao trả rồi chứ?”. Tất cả đều trả lời: “Làm gì có chuyện đó”. Vậy là rõ, do không được phổ biến thông tin về đợt trao trả nên các đồng chí của ta đã có sự cảnh giác cần thiết. Lúc đó, ông Khả mới có dịp nhìn kỹ hơn những gương mặt xanh xao, hốc hác nhưng cũng thật bản lĩnh đang đứng trước mặt mình, rất có thể họ từng là những cán bộ cấp trung đoàn, tiểu đoàn của ta bởi gương mặt họ toát lên vẻ cương nghị và dạn dày trận mạc. Sau khi thông báo ngắn gọn nội dung chính trong Nghị định thư về trao trả tù binh, quà miền Bắc là những bao thuốc lá Thăng Long, thuốc lá Điện Biên, những gói chè Ba Đình… đã được các cán bộ của ta trao vào tay đồng đội ngay trước mặt kẻ thù. Lúc ấy, ông Khả được một bạn tù ghé tai, nói nhỏ: “Bọn em được anh Nguyễn Thương là Bí thư chi bộ nhà lao cử tới gặp các anh. Anh Thương không muốn lên đây vì rất lo các anh nhận ra, anh ấy sẽ bị lộ”. Sau này, ông Khả được biết Nguyễn Thương chính là đồng chí Trần Văn Trân, một sĩ quan cao cấp của ta. Sau lần bị địch bắt, Trần Văn Trân đã khai mình là “Y sĩ Nguyễn Thương” – tên một đồng đội cùng đơn vị đã hy sinh – để che mắt địch.

Ngay chiều hôm ấy, ông Khả cùng các thành viên đoàn ta và những người được trao trả đợt một đã có mặt trong chuyến bay từ nhà lao Tam Hiệp tới sân bay Lộc Ninh, kết thúc màn “đấu trí” căng thẳng trong ngày trao trả đầu tiên…

Bùi Minh Tuệ
(Báo Quân đội Nhân dân, Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 486

Ý Kiến bạn đọc