Văn học nước ngoài

Ma xui quỷ khiến

 

Nếu anh ấy không giàu thì người ta đã nói Annabel đang lãng phí đời mình với một gã mù rồi. Dù gì họ cũng nói thế khi xem cái cách cô phải dẫn anh xuống phố Joubert như dắt chó. Anh ta nên cưới cô chị, họ nói. Làm sao mà một người như anh ta biết được cô này khác cô kia ở chỗ nào kia chứ?

Chà, tôi đã có thể bảo họ anh làm như thế nào. Người đàn ông ấy có tai. Từ hồi Annabel còn là một đứa trẻ, họ đã nhận thấy những khác biệt giữa chúng tôi. Nó cao, xinh đẹp và hát như một chú chim. Tôi thì thẳng đuột và hay ngượng ngùng, mắt nhỏ, mũi to thô. Đứng cạnh nó thì đối với bất cứ người đàn ông nào, thậm chí với người mù, tôi là cái gì chứ?

“Đi bảo nó cậu ta đến rồi”, mẹ nói với tôi. “Và đừng có gào lên đấy”. Tiếng chân anh ấy lê bước lên bậc tam cấp luôn làm mẹ thấy không vui, và hôm nay anh ấy sẽ ở lại ăn trưa, đó là lí do thêm vào. “Sao cậu ta cứ phải cười với hư không thế chứ?”, bà sẽ càu nhàu. “Chẳng bao lâu nữa mẹ sẽ nói cho cậu ta biết là không có gì để cười trong tình cảnh như thế hết”.

Mẹ luôn bị một tai họa nào đó lớn hơn nỗi khổ của mình làm cho không yên lòng. Cả đời bà, từ hồi trẻ cho tới lúc đã góa bụa, từ nước này sang nước khác, bà đã bị nỗi thất vọng đeo bám. Annabel là phần thưởng duy nhất đền ơn cho sự kì vọng của bà.

Và giờ thì thế này đây.

Tôi thấy Annabel duỗi người ra trên giường xem xét tỉ mỉ một bức tranh nó vừa cắt ra từ một tạp chí. Nó khá lười, cũng hay giữ bí mật và lạ lùng nữa. Trên tường đâu đâu cũng là tranh ảnh – không phải là ngôi sao điện ảnh và các cô gái quyến rũ mà chỉ là những thứ nó thích – một viên phi công tựa người vào cánh một chiếc máy bay nhỏ, cảnh một cái vịnh từ ban công với thuyền buồm và người đi bơi, và những vách đá trắng ngoài xa.

“Đóng cửa lại đi”, nó bảo tôi, “em không chịu được. Mẹ đang chiên hành để đổi món đấy”.

Tôi nhặt bức tranh nó vừa xem. Đó thực sự là một bức vẽ, nhưng nếu cắt mất khung thì bạn sẽ nghĩ nó là cảnh thật – một hồ nước thật trong một khu rừng thật. Ba nữ thần ở trong hồ, tất cả đều khỏa thân, và họ đã bắt được một sinh vật – nửa bò mộng nửa người với sừng, móng guốc và mắt chứa cái nhìn hoang dại. “Cái gì thế?”, tôi hỏi. Nhưng giờ nó đang ngồi ở bàn trang điểm và ngân nga trong miệng. Lúc nào nó cũng ngân nga. Tôi từng nghĩ nó làm thế để nhắc tôi rằng tôi không có khả năng thẩm âm. Nhưng thật sự là vô phương cứu chữa với tôi rồi. Nó tự thấy vui khi nhìn mình trong gương và khi người ta quay sang nhìn mình đi qua trên phố.

So-559--Anh-minh-hoa---Ma-xui-quy-khien---Anh-1

“Sẽ ra sao nếu chúng ta đột nhiên biến mất?”, nó nói. “Ý em là tan biến ấy? Như đường ư? Hay như muối?”. Nó có đầy những thắc mắc như thế, nhưng chúng chẳng bao giờ làm tôi quan tâm. Thứ tôi thích là đứng trong bếp, đặt bột và trứng lên hai bên bàn cân, hoặc cắt vải may áo sơ mi từ chiếc váy bằng vải bóng của mẹ. Tôi là người sẽ may áo cưới cho Annabel. Nhiều năm trước, nó đã cắt một bức ảnh cô dâu ra từ tạp chí của McCall, và trong nhiều năm tôi đã nhìn nó, tự hỏi mình sẽ ghim những nếp gấp để giấu đường may và đường chiết eo như thế nào.

“Đã bao giờ chị nghĩ rằng nếu chị cắt một ổ bánh mì làm đôi thì nó không thể dính lại như cũ được nữa không?”, nó hỏi khi nhìn vào gương. “Sẽ ra sao nếu chúng ta thấy cơ thể mình già đi nhanh chóng? Sẽ ra sao nếu chúng ta biết chính xác lúc nào mình sẽ chết?”.

Khi tôi xuống dưới nhà, anh ấy đang đứng ở cửa sổ trước nhà như thể thật ra anh có thể nhìn ra ngoài vậy. Từ giờ tới ngày cưới, anh ấy và Annabel chỉ được phép gặp nhau khi có mặt tôi. Con bé sẽ bật một bản nhạc, rồi họ sẽ ngồi trên trường kỉ, nó sẽ hát theo trong khi anh ấy lần ngón tay trên khắp khuôn mặt nó và lần xuống cổ.

Cái đêm chuyện đó xảy ra, tôi đang ở Tòa Thị chính. Tôi quan sát anh ấy theo người cô tới chỗ ngồi, cười, cáo lỗi với người anh ấy va phải. Anh ấy đeo một chiếc cà vạt bản to màu xanh hải quân và mặc đồ vét trắng bằng vải lanh. Người ta nói anh đẹp trai thế mà lại mù. Họ còn nói anh quá nhút nhát không tìm được vợ. Rằng các cô gái đến nhà anh ấy suốt, những cô rẻ tiền ở vũng tàu đậu. Và rằng các cô gái không hề là thứ anh muốn, hoặc tại sao anh không tìm được cô nào cho mình dù anh có nhìn thấy cô ta hay không?

“Beatrice đấy à?”, anh ấy vừa nói vừa quay lại lúc tôi đi vào phòng. Đến lúc này anh ấy đã luôn biết được ai trong chúng tôi vừa vào. Nhưng lần đầu tiên đến nhà, anh đã cố tặng tôi hoa hồng mua cho Annabel. Người kéo tay anh lại là cô anh. “Đây là cô chị”, bà ấy giải thích cho anh. “Có lẽ họ sẽ có thể chia sẻ hoa hồng với nhau sau”.

Giờ anh ấy đưa tay vào trong túi và cầm ra một cái hộp nhỏ có đính nơ phía trên. “Anh có quà cho em này Beatrix”, anh nói. Anh ấy thường tặng quà mà không cần lí do. Nếu mẹ thấy chúng thì bà sẽ tặc lưỡi nói: “Một trong số hai đứa còn không đủ cho nó sao? Có khi nó muốn cả ta nữa đấy, đồ cơ hội”. Nhưng dù vậy tôi vẫn thích nhận bất kì thứ gì anh tặng. Đến bây giờ tôi đã có một hộp đồ may vá, một cái đồng hồ báo thức, một chiếc xắc tay da nhỏ, và một cái cổ áo bằng lông thú thật cho áo khoác của mình vào ngày sinh nhật. Lúc đầu tôi đã nghĩ anh đang cố tỏ ra công bằng với chúng tôi vì anh đã chọn Annabel chứ không phải tôi. Nhưng sau đó, một ngày nọ, khi tôi dẫn anh đi vào phòng khách, anh đưa ngón tay chạm vào mặt tôi, lần chúng khắp gò má, trán và luồn vào tóc tôi. Tôi đứng yên như tảng đá lúc anh đưa tay xuống cổ và dọc theo bờ vai tôi. Vào lúc nghe thấy tiếng Annabel đang xuống lầu, tôi đã gần như muốn ngất đi với mong muốn anh hãy tiếp tục.

Tôi mở cái hộp và thấy một chiếc vòng bùa tay bằng bạc với ba cái bùa treo trên đó – một cái kéo, gương và xe đạp. Hẳn anh không mua nó cho Annabel vì nó chỉ thích vàng như người du mục. Thậm chí nó còn trông giống một người du mục khi đeo mớ vòng và hoa tai tròn anh tặng nó nữa. “Nói anh nghe cô ấy đeo chúng trông như thế nào đi Beatrix”, anh nói. “Nói anh nghe cô ấy trông như thế nào khi hát điệu habanera đi”. Các cô gái khác có thể hát điệu habanera hay hơn Annabel, ai cũng biết thế. Nhưng nó là người họ chọn hát ở Tòa Thị chính. Khi nó bắt đầu hát, với đôi mắt đen láy và mái tóc đen rực sáng, thậm chí cả người mù cũng nhỏm người dậy. Thế rồi anh quay sang cô mình hỏi cô ấy là ai, người cô bèn mở tập chương trình ra và lướt ngón tay xuống những cái tên. Ngón tay anh còn đang lần từ gò má vào tóc tôi khi Annabel lao vào phòng khách. Dường như nó không bao giờ để ý đến việc anh đang làm. Nó đi ngay đến máy hát như thường lệ và bật một bản nhạc. Sau đó nó đưa anh tới trường kỉ.

“Em đang nghĩ”, nó nói, “nếu anh đang đi xuống một con đường và rẽ trái, cho dù anh muốn làm như thế nhiều đến thế nào, anh cũng sẽ chẳng bao giờ đi đúng đâu. Chuyện đó vui nhỉ?”.

Tôi ngồi đối diện họ trên chiếc ghế bành cũ của cha. Ông mất 15 năm rồi, và chiếc ghế vẫn còn giữ được dáng người ông, mùi tẩu thuốc của ông. Khi Annabel hỏi tôi ông là người cha như thế nào – thực ra nó muốn nghe về chính mình, bất kì điều gì tôi có thể kể – tôi nói ông hiếm khi chú ý đến nó, ông là kiểu người đó. Tôi biết mẹ sẽ không kể sự thật – rằng kể cả trong cái chết đau đớn tột cùng, ông vẫn cười khi nhìn thấy Annabel. Mẹ không bao giờ chịu đựng nổi thói tham lam của Annabel, cái cách nó muốn ai cũng phải nhìn nó ở bất kì nơi nào nó tới. Mẹ nói sẽ không bao giờ đủ. Và giờ thì xem đi – người đàn ông nào trên thế giới cũng đều nhìn nó chăm chú và chồng nó thậm chí còn không biết được có gì khác nữa. A ha!

Họ đang chơi trò bịt mắt trên trường kỉ, đầu ngón tay anh chạm nhẹ trên cổ con bé khi nó hát. Tôi nhắm mắt lại như thường lệ, cố tham gia vào nhưng chẳng bao giờ được. Annabel luôn là người bày trò chúng tôi chơi, và trong trò này tôi không nghĩ ra chỗ nào cho mình hết.

Sau khi kết hôn, họ sẽ đến sống ở nhà anh ấy với người cô. Annabel nói mẹ và tôi cũng có thể tới sống cùng nếu muốn. Nhưng mẹ chỉ cười cái ý đó. Mọi bà mẹ trong thị trấn đều muốn ngôi nhà đó thuộc về con gái mình, nhưng mẹ thấy nó chả ra làm sao hết. Nó quá tối tăm, bà nói, quá lớn, và đầy ma. Nếu bước vào lúc anh ấy đang chơi trò bịt mắt với Annabel hay với tôi thì bà đã quẳng anh ngay ra khỏi nhà rồi. Nhưng lúc anh trong nhà thì bà không bao giờ đến gần.

Mẹ vào bếp và ở đó tới giờ ăn trưa. Sau bữa trưa, anh ấy chơi với Annabel còn mẹ vào thị trấn bằng chiếc xe có tài xế riêng của anh. Mẹ có nói gì thì Annabel cũng không chịu đi xe điện nữa. “Nó nghĩ nó là nữ hoàng Sheba”, mẹ nói. “Nó nghĩ nó muốn làm gì cũng được”.

“Beatrice”, bà nói, “con không đi với chúng ta sao?”. Tôi nhìn anh. Có lẽ, nếu anh là người bình thường thì tôi đã thấy dễ nói chuyện với anh. Đôi khi, tôi nghĩ ra điều để nói khi đứng ở cửa sổ trước xem người lái xe giúp anh ra khỏi xe. Nhưng sau đó khi anh cúi đầu hỏi một trong những câu hỏi của mình thì tôi lại trở nên câm lặng như là anh bị mù vậy. “Em làm món bánh pút-đinh này phải không Beatrice?”, anh hỏi với qua bàn. “Ai dạy em nấu ăn vậy Beatrice? Mẹ em à?”. Và mẹ sẽ giận dữ quay lại từ chỗ tủ búp-phê và nói: “Nó biết nấu ăn và may vá, nó cũng có cái đầu trên vai nữa, tôi có thể nói với cậu thế đấy”.

Anh ấy nhoài người tới gần tôi. “Nhưng sao em không đi với bọn anh hả Beatrice? Em không muốn giúp Annabel chọn vải áo cưới à?”.

Annabel cười. “Beatrice ghét chọn đồ,” nó nói. “Chị ấy thích ở nhà và dọn dẹp. Anh có tưởng tượng được không?”.

Anh xòe bàn tay ra đặt trên đầu gối. Chúng to và mạnh mẽ như chân con sư tử ở lối vào Tòa Thị chính. Ban đêm, lúc nằm trên giường tôi cố nhớ ra cảm giác của chúng trên da mình ra sao. Nhưng khi anh đang ở đó thì khó tin được rằng anh đã từng chạm vào tôi. Như thể tôi là hai người – một người đứng với anh trong phòng khách còn một người nằm trên giường cạnh Annabel biết rằng đó là điều không thể.

Mẹ anh có tiền, mẹ tôi nói, và hãy xem đấy, nó chẳng mang hạnh phúc đến cho ai hết. Đầu tiên, thằng nhóc này sinh ra đã mù, rồi một đứa nữa chết khi sinh. Còn người cha thì, ông ta phải hỏi xin mọi thứ mình cần, từng đồng mua từng cái nút áo. Bà muốn biết đàn ông mà sống thế là sống kiểu gì? Không có gì lạ khi ông ta chỉ tìm nguồn vui nơi gái gú và nhậu nhẹt. Cả chết bất đắc kì tử nữa. Và sau đó trong vòng một năm, người vợ góa cũng đi luôn. Thế còn lại gì? Một thằng bé mù lòa và bà cô ư? Hạnh phúc nào ở đó chứ?

“Ăn trưa thôi!”, bà kêu từ phòng ăn. Annabel đứng dậy và đi đầu để lại anh cho tôi. Khi chúng tôi không chơi trò bịt mắt thì con bé có vẻ quên mất anh rằng không thấy đường. Anh phải nhờ nó cắt nhỏ thức ăn của mình ra, hoặc đưa giùm anh lọ muối và tiêu. Vậy mà vẫn không có gì thay đổi kể từ buổi tối đầu tiên đó sau buổi hòa nhạc ở Tòa Thị chính. Nếu cô của anh không đẩy anh ra thì Annabel cũng đã không chú ý đến anh rồi. Có lẽ đã không hề có chuyện gì xảy ra hết.

“Beatrice”, anh nói, “phiền em dẫn anh xuống hành lang nhé?”. Tôi luôn dẫn anh tới nhà vệ sinh. Tôi không bận tâm việc đó. Anh không bao giờ nói chuyện với tôi trong hành lang, không bao giờ hỏi tôi câu nào. “Ước gì anh có thể cưới cả hai người Beatrice ạ”, anh nói nhẹ nhàng. Nói như thế thật kì cục, và tôi rút bàn tay đang nắm lấy khuỷu tay anh lại. Tôi muốn để anh tự tìm đường tới nhà vệ sinh. Nhưng tôi không làm thế. Tôi chỉ đứng đó ước gì mình có thể tìm ra được lời nào để bảo anh rằng mình cũng tự hào, và rằng nếu người ta nghĩ tôi ghen tị với Annabel thì, ôi dào tôi chưa bao giờ mong có được điều nó muốn trong đời. Cho đến giờ, tôi chưa bao giờ muốn bất kì thứ gì mình không thể có.

Nửa giờ sau khi họ đã đi vào thị trấn, anh quay lại gõ vào tấm kính cửa trước. Anh không cười khi tôi để anh vào, không nói gì lúc tôi dẫn anh vào phòng khách và rồi đứng đó chờ trò chơi bắt đầu. Anh chỉ đứng đó với bàn tay nắm chặt. Rồi anh hơi loạng choạng, dò dẫm xung quanh tìm thứ gì đó khác để bám víu. Khi anh tìm ra ghế của cha tôi, anh túm lấy nó từ phía sau như thể anh nghĩ có khi mình sắp ngất.

“Anh không bao giờ nên quay lại”, anh nói. “Anh sẽ không ở lại đâu. Làm ơn đi Beatrice, dẫn anh ra cửa đi”. Tôi nhìn anh. Anh lắc đầu qua lại như thể đang tìm tôi. “Đi mà Beatrice!”, anh nói. “Giúp anh với! Anh đang ngày càng lún sâu vào tồi tệ!”. “Không!” tôi hét lên, giọng tôi nghe rõ to và khàn khàn như của một người xa lạ. “Anh tự tìm đường ra đi!”. Anh buông ghế ra và bắt đầu quờ quạng tìm đường đi qua căn phòng hướng về phía tôi. Tôi để anh tìm thấy mình, để anh níu lấy cánh tay tôi, kéo tôi về phía anh, hôn tôi mãnh liệt tới mức tôi không tài nào thở được. Anh mạnh mẽ hơn vẻ ngoài, và giờ thì hoang dại nữa. Anh đẩy tôi xuống sàn nhà trải thảm rồi quỳ đổ người lên tôi, mò mẫm và kéo quần áo tôi như người mất trí. Một chiếc xe điện rầm rầm chạy qua, kim đồng hồ gõ tích tắc. Một con bướm đêm khổng lồ bay ra khỏi màn cửa và căng mình trên trần nhà như một cái bóng.

Khi mọi người từ thị trấn về tới nhà, mẹ là người chỉ nhìn tôi một cái và biết chính xác chuyện gì vừa xảy ra. Bà không cho anh lấy một cơ hội để giải thích, bà chỉ đuổi anh ra khỏi nhà như một tên trộm, và Annabel thì gào thét sau lưng bà. Rồi bà khóa cửa, và chúng tôi đều đứng yên lặng lắng nghe tiếng anh gọi người lái xe dẫn mình xuống bậc tam cấp.

Cả một tháng sau đó không ai nói chuyện với tôi hết – cả mẹ và Annabel. Dù gì tôi cũng bắt đầu may váy cưới, cắt mẫu rập trên giấy can trên bàn ăn. Tôi biết họ đang quan sát mình qua cửa kính, và rằng họ sẽ không làm gì để ngăn tôi lại hết. Nhưng rồi tôi phải nói cho họ biết chuyện gì khác đã xảy ra – đó là giờ tôi là người anh sẽ cưới, và Annabel có thể đến sống cùng với chúng tôi nếu muốn.

Anh vẫn tặng chúng tôi quà, bạc cho tôi và vàng cho nó. Rồi một đêm, họ lại bắt đầu chơi trò bịt mắt. Sau đó, anh bắt đầu vào phòng nó. Mỗi đêm anh lại ở với một trong hai chúng tôi, anh tự tìm đường đi dọc theo hành lang. Và thế là cả hai chúng tôi đều có con với anh, chẳng ai trong thị trấn quan tâm đến chúng tôi hết dù họ quan sát bất cứ nơi nào chúng tôi tới.

Theo cách nào đó thì cũng giống hồi giờ thôi, trừ việc giờ tôi là người đứng trong bếp xắt hành, và mẹ chỉ có thể ngồi trên xe lăn mà nhìn. Ai cũng đổ lỗi cho tôi là người gây ra cơn đột qụy của bà. Tôi vẫn là người biết bà sẽ nói gì nếu có thể nói – rằng tôi là đứa ai cũng lợi dụng được khi làm việc trong bếp hay trong phòng may trong khi tôi có thể ngồi chơi mà ra lệnh. Nếu tôi chải tóc hay lau thức ăn dính trên miệng bà, bà chỉ thét lên một cách đáng thương đến mức lũ trẻ đều sẽ chạy đến xem. Chúng đứng quanh xe lăn và muốn nghe thêm. Hình như chỉ có mẹ mới làm chúng kinh ngạc bằng cái cách bà tự nhiên nhe răng ra hay cào vào không khí như thể có gì đó để bám vào vậy.

So-559--Lynn-Freed---Anh-1

Lynn Freed Là Người Đầu Tiên Nhận Giải Thưởng Katherine Anne Porter Của Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật Và Văn Chương Hoa Kỳ Cùng Với Giải Pen/O. Henry. Cô Sinh Ra Ở Durban, Nam Phi. Cô Đã Xuất Bản Một Số Tiểu Thuyết. Các Truyện Ngắn Và Tiểu Luận Của Cô Được Tập Hợp Lại Trong Quyển The Curse Of The Appropriate Man.

(Nguồn: Narrativemagazine.com)

Lynn Freed (Hoa Kỳ)
Trương Thị Mai Hương (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 559

Ý Kiến bạn đọc