Tản văn

Mạ và bó hoa cúc

(Chúc Mạ bước sang tuổi 90 mạnh khỏe, an lành)

Huế những ngày cuối đông năm 1979 thật buồn. Mưa rả rích suốt cả tháng trời. Kèm với mưa là hơi lạnh thấu xương. Cái lạnh như có ai cắt da xẻ thịt để bỏ vào. Nhiệt độ đôi khi chỉ còn 7 đến 8 độ. Mặt nước nổi một lớp váng đen bất thường, những con cá lớn cũng chết vì lạnh.

29 Tết. Mạ và tôi mới được nghỉ làm cho Hợp tác xã Nông nghiệp để lo kiếm tiền tiêu Tết.

Hai mạ con từ tinh mơ đã xách oai đi hái chè (lá già của cây trà để nấu nước uống). Đường lên rẫy lầy lội, trơn nhẫy. Gió như cắt da. Bóng núi xanh mờ dường như cũng run rẩy theo người. Mạ mặc chiếc áo tơi được chằm từ lá cọ, xù xì như một con nhím, đi trước. Tôi trong tấm ni lông, lúp xúp theo sau.

Hoa trang núi đỏ tươi nở từng cụm, như thắp lên sườn đồi lạnh lẽo những đốm lửa hồng, làm ấm lòng hai mạ con, như hai con cò đang cố tha mồi về tổ. Cò con lại còn cố hái một bó hoa trang thật lớn để cúng ông bà và giao thừa.

Phiên chợ sáng 30 Tết thật đông. Gánh chè rẫy lá dày, vàng rộm của mạ hết veo ngay khi đến chợ. Cái Tết của cả nhà phụ thuộc vào gánh chè. Mạ dè sẻn chỉ mua những thứ tối cần thiết, chừa lại vài đồng xu gọi là có chút tiền lấy hên trong năm mới.

Anh-minh-hoa---Ma-va-bo-hoa-cuc---Anh-1

Chợ tan sớm. Bỗng dưng một góc chợ quê nghèo ảm đạm như sáng rực lên sắc vàng chỉ có trong mỗi độ thu về, một bó cúc lớn vàng tươi, kiêu hãnh nằm trong chiếc rổ tre, trên tàu lá chuối xanh mướt. Màu hoa như gợi lên một quá khứ vàng son, rực rỡ của những ngày Tết sung túc mà nay chỉ còn trong hoài niệm. Cả chợ chẳng ai bán hoa vì hoa không phải là nhu cầu tối cần thiết của người dân quê khốn khổ trong những ngày này. Mạ nhìn người bán bó hoa cúc. Khuôn mặt của người phụ nữ thật khắc khổ, buồn thiu, nhưng vẫn toát lên vẻ thanh tao và nét duyên của thời con gái còn sót lại. 

Bà ta nhìn mạ, mời mua hoa, giọng ướt sũng. Mạ cũng ứa nước mắt nhìn bà. Hai người phụ nữ không quen biết rất hiểu gánh nặng áo cơm đang đè trên vai của mình. Tiền trong phiên chợ cuối năm quyết định những gì được bày biện trên bàn thờ gia tiên. Đám trẻ con nheo nhóc tội nghiệp ở nhà đang chờ đợi một sự nhiệm màu của Tết mang lại, khác với những bữa đói bữa no của ngày thường. Người lớn thì mong chút ánh sáng của hy vọng cho một năm mới dài đăng đẳng, đầy dẫy những lo toan, may rủi.

Bà ta cũng như mình, mạ nghĩ. Nhưng có lẽ tất cả những gì bà có chỉ là một khoảnh sân nhỏ để trồng hoa. Mạ thầm trách sao bà ta lại quá mơ mộng, không trồng bụi chuối, đám rau, những thứ có thể giúp bà vượt qua nỗi khó khăn trong thời buổi ngặt nghèo này. Bó cúc vàng này là niềm hy vọng duy nhất cho cả nhà đây mà. Khổ thân bà. Ai mà mua hoa trong thời buổi không có gạo ăn này chứ!

Không thể nào chịu nổi ánh nhìn khẩn thiết kia, mạ trút những đồng xu cuối cùng để mua bó hoa.

- Mạ về!

Các em tôi reo lên, như đàn gà con ríu rít bên quang gánh của mạ. Rất ngạc nhiên khi chúng nhìn thấy bó hoa. Chúng thừa hiểu mua hoa là một việc làm rất xa xỉ trong thời buổi này, cho dù là nhân dịp Tết đến.

Ba nhìn mạ, ánh nhìn thoáng chút nghiêm nghị. Mạ cười, bối rối kể chuyện người phụ nữ nọ. Các con của bà ta sẽ ăn Tết như thế nào đây? Mình còn có gánh chè mà…

Tôi lấy chiếc bình thủy tinh hình hoa huệ, cắm bó cúc vào như thể hiện sự đồng tình.

Tết năm đó nhà tôi sáng bừng với bình hoa cúc. Chúng tôi ăn Tết vui hơn mọi năm, mặc dù trong nhà chẳng còn đồng nào.

Đến tận bây giờ tôi vẫn thầm biết ơn người phụ nữ nọ đã cho chúng tôi chút nắng vàng trong giá rét và nhớ mãi bài học mạ dạy các con về tình người!

28/11/2017

Nguyễn Thị Thu
(Huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2018

Ý Kiến bạn đọc