Tản văn

Má tôi

 

Người ở Hội An giản dị, chân tình, sâu sắc kín đáo mà không khép kín. Họ có cái tinh tế trong sự mộc mạc, nên gặp gỡ chuyện trò thật nhẹ nhàng cởi mở và dễ chịu như quen thân từ lâu, nhưng một khi mà sự thật đã sờ sờ ra đó còn cứ “khư như mọi thắt nút”, cãi chày cãi cối nhằm bao che cho sự giả dối, láo tét và ngụy biện thì họ sẽ đánh đổi tất cả để bảo vệ sự thật. Người ta nói “ Thứ nhất tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa”. Chợ Hội An sự ồn ào mua bán cũng nhẹ nhàng, nhún nhường vừa phải. Đến một nơi nào đó để tìm hiểu dân tình thế thái tôi thường hay đến chợ vì chợ là nơi tổng hòa các quan hệ xã hội…

Má tôi đã gắn với dòng Thu Bồn và chợ Hội An từ nhỏ cho đến hết cuộc đời với cái nghề “mua tươi bán héo”. Một đôi quang gánh, một chiếc ghe con con, từ trong đêm hôm khuya khoắt trên dòng sông Thu Bồn ra tận Cửa Đại, có hôm neo lại để chợp mắt một chút, bị gió đẩy sẩy neo, chiếc ghe bị cuốn theo dòng trôi ra biển lớn, may mắn không gặp giông bão bất thình lình. Má vẫn bình tĩnh, chống chèo vào lại cửa sông để đến chợ Hội An cho kịp buổi sớm mai, buôn bán cho đến chiều tối mịt mới về nhà. Khi bán ế, má về trễ, anh em chúng tôi kéo nhau lên đầu cầu Cẩm Nam đón má về, đứa trước đứa sau, cứ như là đi hộ tống.

Bà xử sự cũng không phải khéo léo cho lắm, mà rất thật lòng, đầy nhân tâm. Mặc cho người ta dối trá, mua một bán mười, nếu muốn phất lên nhanh chóng. Nhiều lần tôi đi chợ để lấy thức ăn đem về nhà chuẩn bị trước cho bữa cơm. Khi ấy bà đang bận, tôi ngồi bên chờ, thấy người mua đi quanh trả giá “từ đất cái trả lên” nhưng khi đến hàng má thì chẳng có một lời, thích cái chi thì chỉ để bà lấy bỏ vào giỏ cho. Cá có hơi ương thì má nói ương, ưng rẻ thì mua, về tới nhà ăn cũng đừng có trách! Má nói bao nhiêu người ta đưa bấy nhiêu, cứ như là một quy ước. Nhiều lúc tôi thấy bà thật thà quá cũng thiệt nên góp ý, má bảo: “Mua bán cũng cần phải để lại cái phước đức về sau cho con, nhà nhiều con trai, mà con trai thì nhờ phước mẹ! Ông bà xưa nói rồi, tâm địa lương thiện của cha mẹ là phúc báo cho con cháu”.

Tôi cũng hết phương góp ý với má nhưng có một điều kỳ lạ là hàng má tôi luôn đông khách và thường hết hàng sớm. Lâu dần bà đã thuyết phục khách hàng bằng tấm lòng, bằng cả niềm tin giữa con người với nhau, nên tính đồng lời trên từng món hàng thì ít, thậm chí má rất tinh ý, thấy những người nghèo bà chỉ bán lấy vốn, nhưng má bán được nhiều hàng nên cuối buổi lại thì số tiền lời rất khá, tuy có vất vả nhưng có như rứa bà mới nuôi nổi đàn con 8 đứa có sức khỏe, được ăn học. Má tôi không học hành nhiều, chỉ qua “bình dân học vụ” biết đọc, biết viết mà hành xử trong cuộc đời chúng tôi theo không kịp.

So-557--Anh-minh-hoa---Ma-toi---Anh-1

Khi lập gia đình riêng ở Đà Nẵng, nhà tôi bên cạnh ga xe lửa Thanh Khê, cả nhà đi làm và đi học, má ở nhà một mình. Hôm đó vì một việc đột xuất tôi về nhà sớm, thì thấy một chuyện dở khóc dở cười. Tàu lửa ngừng ngay sau nhà, bà mở cửa sau nhìn tàu. Nhiều thanh niên trốn vé từ trên nóc tàu nhảy xuống vào xin nước, chỉ cần nước uống trong chum thôi. Bà không cho uống nước lạnh, nói để chờ bà nấu nước cho mà uống, giữa cái thời cơ cực, người miền Bắc vào Nam kiếm sống, nhiều người không có đồng nào, đi đến đâu làm thuê kiếm sống đến đó. Bà hỏi: “Tụi con đã ăn chi chưa?”. Các “con của bà” trả lời “Chưa”, rứa là còn bao nhiêu gạo trong cái xô nhựa, bà trút ra nấu hết cho các con.

Thời buổi bao cấp “gạo châu củi quế” mà bà làm chẳng suy tính, tiêu chuẩn một tháng lương thực của tôi rứa là không cánh mà bay! Tôi nói: “Má coi chừng bọn chúng tưởng nhà mình giàu có, lại thấy có một mình má, chúng nó cứa cổ má chết thì răng?”. Bà cười khì: “Hơn 70 tuổi rồi chết cho sạch đất!”… Cứ dăm ngày ở với đứa ni rồi đến đứa khác nữa, sợ con nói không công bằng, ở lâu với đứa giàu, chê đứa nghèo. Má cứ vẫn nhìn chúng tôi là tụi con nít, cho bú là phải chia cho đều, không lại kiện cáo nhau!

Lần này đến chú em tôi. Một thằng bạn quen từ thời đi bộ đội, sau xuất ngũ mỗi đứa mỗi nơi, nay gặp lại tay bắt mặt mừng, chú em tôi rủ bạn về nhà chơi. Ai dè ông bạn này đang thất nghiệp, đi tìm việc làm chưa được, mà thấy nhà cửa chú em cũng có cái ăn cái để. Rứa là lần khân ở lại nhiều ngày, để rồi “ăn già xa nhau”, rứa là vợ chồng chú lục đục… Tới bữa ăn không thấy vợ chồng con cháu về (chắc là đi trốn khách?). Má lục tìm trong kệ không thấy còn gạo để nấu, còn bạn của con tới bữa lại về… Má qua hàng xóm mượn gạo về nấu “cho con ăn đi tìm việc”. Mấy hôm sau, bà hàng xóm hết gạo qua đòi. Chú em tôi mới vỡ chuyện, nặng lời, má nói vợ chồng nó: “Sông có khúc, người có lúc, con ơi, ngày sau con có khó thì có người giúp lại!”. Vợ chồng chú em đuối lý. Thôi ráng mà gồng. Sợ nhất là để má giận bỏ về quê hay sang đứa khác, biết ăn nói làm răng với các anh em còn lại…

Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt xảy ra trên mọi miền đất nước, ở quê tôi là vùng kháng chiến, nhà nào khi lấy gạo nấu cơm là vốc một nắm bỏ vào cái hũ bên cạnh, gọi là “hũ gạo kháng chiến” nên chuyện ni đã thấm vào máu thịt của má tôi, dù đói cũng phải nhường cơm cho khách. Khi tìm được việc làm, bạn của chú em làm một tiệc rượu nhỏ, lời của người say đôi khi là thật: “Sau này dù có mần răng đi nữa, giàu ta chơi nhau theo kiểu giàu, nghèo ta chơi nhau theo kiểu nghèo, miễn đừng qua cầu rút ván, đừng quên nhau là được!”. Rứa là cụng nhau cốp cốp như chia sẻ tâm trạng, nỗi niềm. May mà về sau người bạn của chú em tôi làm ăn khá giả, được cái chi quý, cái chi ngon là chia sẻ với gia đình chú em tôi và có quà cho má. Má coi bạn của con là con thực sự với tấm lòng của mình và bạn của chú em tôi cũng nhận bà là má thực lòng. Khi hai má con tâm sự, chú em hối hận nói: “Không có má là con đã đánh mất một tình bạn cảm động, thật tình thì hắn cũng đang lúc khó khăn, chẳng còn con đường khác đã chọn!”. Bà cười thoải mái như việc làm này đương nhiên và rất bình thường, không có chi lạ.

Năm 2009, bà mất vì bệnh ở bệnh viện, dù được các y bác sĩ chữa chạy tận tình, nhưng tuổi cao sức yếu, theo sự tuần hoàn sinh tử của vòng đời con người. Trước khi đi xa bà rất mãn nguyện về cuộc đời mình đã sống nên rất nhẹ nhàng. Má kéo tay tôi lại và chỉ trăn trối một điều ngắn gọn: “Hãy lo cho ba các con!”. Những ngày trước đó, trời sụt sùi mưa gió tầm tã, nước sông Thu Bồn ào ào chảy từ nguồn xuống biển, lụt cứ ra ra vào vào, hết lớn đến nhỏ. Nhưng ngày bà mất, trời quang mây tạnh như một phép màu nhiệm đến. Một người lao động bình thường mà khi mất đi có hàng hà sa số người đến “Thắp cho bà Bốn cây nhang để từ biệt!”. Cả một đời cơ cực với chồng con, với bà con thân thuộc, xóm làng, má sẵn sàng chia sẻ khi “tối lửa tắt đèn”, kể sao cho xiết.

Ngày đi chôn má một đoàn người đưa tiễn, chưa từng thấy có đám tang nào trong làng như rứa. Ngoài gia quyến và thân nhân là một đoàn người trong xã, ngoài làng dài dằng dặc, đa số là người lao động bình dị, họ tự động lấy mảnh vải trắng nhỏ chít vào cánh tay. Ông trưởng tộc nhà chồng, ông trưởng tộc nhà má đều có mặt đầy đủ. Các ông nhớ lại khi còn sống, hễ tới việc cúng kính Tổ tiên, ông bà, việc tang chế, hiếu hỉ đôi bên, bốn bề, từ nội đến ngoại là từ sáng sớm đến chiều tối, thậm chí những chuyện lớn như chạp mả, má chuẩn bị hai ba ngày trước. Các ông bà già kể lại cho con cháu trong tộc họ nghe, biết để làm con người phải đạo. Trước khi đưa ra nghĩa địa, họ hàng nhà chồng má rước ảnh má về nhà thờ tộc để báo cáo với Tổ tiên tiễn đưa linh hồn má về nhà thờ tộc, về với Tổ tiên ông bà dòng tộc nhà chồng. Đây là sự kiện mà không phải con dâu nào cũng có được. Tôi lấy máy ghi lại những hình ảnh từ đầu đến cuối và in ra thành ảnh để con nhớ má, cháu nhớ bà được xem. Đến khi mãn tang mà nỗi nhớ má và bà vẫn không nguôi, nên chú em tôi đem ra mộ đốt tất cả những gì còn của mẹ để vơi đi…

Hàng năm vào ngày 30 cuối năm, dù công việc làm ăn mỗi đứa một nơi nhưng chúng tôi cũng sắp xếp tập trung về nơi mình chôn nhau cắt rốn để rước anh linh Tổ tiên, ông bà và má về nhà ăn Tết. Cứ mỗi lần, khi về quê tôi hay lang thang ra chợ, chỗ má ngồi bán để nhớ về những tháng ngày cơ cực. Năm nay – 2018, cả ngày bận bịu nên chiều 30 tháng chạp tôi mới ra chợ Hội An, tìm đến chỗ má ngồi buôn bán năm xưa! Một hình ảnh rất xúc động xảy ra, lòng tôi rưng rưng…

Chỗ ngồi bán của má tôi được dọn gọn gàng và sạch sẽ, trên bàn là một lọ bông vạn thọ, loại bông mà khi sống má rất thích, một bình hương và một người đàn bà đang sì sụp khấn vái. Tôi đứng nhìn lặng thinh rồi lấy chiếc điện thoại ra chụp liền mấy kiểu. Đến khi bà cúng xong, tôi mới đến kế bên hỏi: “Chị cúng ai rứa?”, “Bà Bốn, người ngồi bán trước đây, tôi thế chỗ bà, anh là ai?”, “Tôi là con trai trưởng của bà Bốn. Năm mô chị cũng cúng má tôi”, “Thành lệ rồi!”. Tôi vái lạy theo chị, biết đâu hương hồn của má tôi còn vất vưởng ở đây, rồi mời chị Tết đến nhà chơi, cám ơn và chào chị, rồi lững thững đi ra với niềm tự hào về má!

Từ trước khi má tôi nghỉ bán, bà vẫn thường đi chợ như là một niềm vui “cho khuây khỏa con ơi!”. Có ai biết má đi chợ để thay đổi vị trí. Chị bán trực tiếp còn má tôi chỉ ngồi một bên “cố vấn”… không lương, rứa mà má vui. Khách hàng của má bây giờ là của chị. Cho đến khi chị thuần thục má tôi mới thôi. Thời gian cứ trôi theo dòng Thu Bồn phía trước chợ… Má tôi mất gần 10 năm rồi mà trong tâm của chị, má tôi như còn ngồi bên chị. Người Hội An ở chợ cá Hội An là như rứa, nhân tình thuần hậu, có trước có sau, chứ không “qua cầu rút ván” như trong cái chợ đời ta thường thấy, âu cũng là luật nhân quả.

Má cũng là người mê văn nghệ, khi còn trẻ, không bài hát dân ca xứ Quảng Nam như hò khoan, hát đối đáp… nào má không thuộc. Trời phú cho má cái giọng dân ca đã làm cho ba tôi khi gặp má lần đầu tiên trong một buổi biểu diễn văn nghệ là bị “tiếng sét ái tình” nện cho một cái chết ngay đơ, rứa là mê liền, mê như điếu đổ, rồi thành vợ thành chồng, sinh con đẻ cái, sống với nhau tới đầu bạc răng long. Chị Hai con bác tôi kể, cái giọng hát khi bà còn trẻ, lúc bơi ghe ngoài sông Thu Bồn, má mà cất lên, người đang ngồi trong nhà, ai không chạy ra lắng nghe thì ngồi trong nhà cũng ngừng việc “lóng cái tai thỏ” mà nghe. Khi các con còn nhỏ, không có ai giúp việc nhà, mà làm chi dư tiền để thuê người, lúc đi chợ là gởi con cho hàng xóm.

Nhiều lúc vắng má lâu, con khóc thét. Má tranh thủ chạy về, khi còn ở đằng xa má đã: “Má về đây… Ờ…ơ…ơ… (chớ)… Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng… Ơ…ơ…ơ… thương cha nhớ mẹ quá chừng… (chớ)… bậu… ơi!!!”. Em tôi đã nín từ bao giờ. Có thể nói, chúng tôi lớn lên từ giọt sữa của má và cũng từ lời ru của má để tác tạo nên một tâm hồn trong trẻo như quê hương Hội An. Khi đã già rồi, má đi thăm đứa ni ít ngày, đứa tê ít ngày rồi cũng thót thỏm quay về với ba tôi. Không có má tôi bên cạnh, ba tôi lúng túng như “gà mắc tóc”. Hai người già mà cứ rù rì rủ rỉ những kỷ niệm xưa cũ, chuyện cả đời ăn ở với nhau… Có lúc chợt về, bắt gặp tôi chọc: “Cặp vợ chồng son!”. Ba má cùng cười, tôi rất hạnh phúc vì vui! Thật vậy, ba tôi trong những ngày chiến tranh cứ thoắt hiện thoắt biến. Ông hoạt động hợp pháp trong lòng thành phố trong tổ chức Liên vận. Lúc Hội An, khi Đà Nẵng mà không có người vợ như má tôi thì làm sao hoàn thành nhiệm vụ.

Trong đời sống vợ chồng những gia đình riêng của các con, má thính tai kỳ lạ. Ở đâu “rỗ, rá, chắn, bát… khua” một cái là má biết ngay. Tôi cũng có, các chú, các cô em cũng có. Ngồi nghe má làm quan tòa mà thích. Má gọi con đẻ về nhà quê trước ngay, rồi mới tới con dâu, con rể. Gọi về chỉ để… ngồi nghe “bị can” hết kể, thanh minh thanh nga, phân bua chuyện ni chuyện kia, đổ lỗi cho đối phương… Má chịu khó thật, ngồi nghe và… khuyến khích “bị cáo” trút cho hết bầu tâm sự. Đến phần cuối, quan tòa nghị án: “Cứ ngó ba má đó mà sống, thôi về mà làm lành với nhau đi!”. Phiên tòa nào má xử cũng tương tự, rứa mà thành công.

Chẳng đứng về phía nào, chẳng mất lòng ai, cũng không ba phải, ba trái chi hết vì chẳng nghe con ruột hay con dâu, con rể gì tất. Cả hai bên đều phải làm lành với nhau mà sống, mà ăn đời ở kiếp. Má nói: “Chén bát trong chạn còn đụng với nhau rổn rảng, còn bể, huống chi con người sống với nhau!”. Nhờ nghiêm khắc hơn với con đẻ mà má được con dâu, con rể thương hơn. Các chú rể, các cô dâu coi má như chỗ dựa tinh thần, nhiều lúc các cô các chú cũng hơi lạm dụng, hễ một chút thôi là cũng mắc má. Từ đó mà quyền lực của người phụ nữ trong gia đình tôi rất lớn, khi má biết xác lập cơ chế “nữ quyền” dựa trên lợi thế vai trò do chính má tạo dựng. Đó là bài học cho con cái, không lý sự, không ra quyết định phải cái ni, phải cái kia dài dòng vô tích sự. Có thể nói theo kiểu “nịnh” má của ba: “Nhà ta có má các con như nước nhà có thủ tướng tài đức vẹn toàn!”.

Kể ra chúng tôi hưởng phúc đức nhiều nhờ má, có những cái vô tình mà được ăn theo. Vì còn non nớt do tuổi đời thiếu trải nghiệm nên có nhiều va vấp, nhưng gặp đối tượng mình yêu thương hay đối tác làm ăn, chúng tôi được tiếng thơm lây do người ta nhìn vào hình ảnh phúc hậu của má, khi tiếp xúc với má, thấy được sự chân thật và tấm lòng yêu thương con người, dẫu họ là ai. “Người ta” tin yêu mà gởi tấm chân tình và sự tin tưởng trong cuộc sống để hợp tác mần ăn.

Kể về má là ghi lại từng việc nho nhỏ mà sâu sắc trong đời thường, không dông dài, việc chi ra việc nớ, rõ ràng, minh bạch. Trong cộng đồng dân cư Hội An, ở chợ Hội An những người như má tôi cũng không phải là ít. Chính vì như rứa mà nhân tình mới thuần hậu, chứ chỉ một vài người làm sao tạo được cộng đồng, nhưng khi nói tới cộng đồng thì phải nói tới những con người cụ thể. Từ hành vi, đạo đức cá nhân mới tạo dựng nên hành vi đạo đức cộng đồng.

Huỳnh Viết Tư
(Thanh Khê – Đà Nẵng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 557

Ý Kiến bạn đọc