Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Lý luận – phê bình tuy thế… cũng hay!

 

Đọc Những lời bình về Tôi và làng tôi của Lê Bá Thự – NXB Hội Nhà văn 2018. Tái bản lần đầu 2019. Các trích dẫn từ đây theo bản tái bản – thấy sáng sủa ra. Lý luận – phê bình (LLPB) tuy thế, cũng hay. Thường nghe lý luận chỉ tuyền màu xám. Phê bình chỉ ăn theo nói leo. Hồi bao cấp thì “đủ các thứ tính” (GS. Phong Lê). Đến mở cửa đổi mới thì đủ các thứ lý thuyết và chủ nghĩa, cứ như vỡ chợ. Đến Lê Bá Thự mới rõ ra, chắc như đinh đóng cột: “Trung thực là bút pháp của tôi. Không tô son, không trát phấn” (Sđd. Trg.332). Các nhà bình luận được trích in ở cuối sách đều thống nhất như thế. Hay lắm. Quí lắm. Đủ giá trị Văn chương, Xã hội học, Dân tộc học, Phong tục học, Tín ngưỡng học, tư liệu cho các nhà tiểu thuyết, thành tựu, bảo tàng… Tác giả lại cảm ơn người biên tập: “Chân thành cảm ơn biên tập viên, nhà văn Tạ Duy Anh đã dày công biên tập” (Sđd. Trg.338).

Người viết như thế – người biên tập như thế – người bình luận như thế thì bạn đọc “Còn điều chi nữa mà ngờ” (Nguyễn Du – Truyện Kiều. Câu 3.125).

Nhưng Lê Thọ Xuân vẫn còn ngờ ngợ, mong được giải đáp chung của tác giả, của nhà biên tập Tạ Duy Anh và các nhà bình luận Hoàng Quốc Hải, Văn Đắc, Bằng Việt, Nguyễn Quang Thiều, Nguyên An, Hàm Đan…

1) Hợp tác xã nông nghiệp thôn Nguyệt Lãng phát động chiến dịch trồng cây gây rừng. Bốn xã viên trồng được 36 cây xoan, vậy 50 xã viên trồng được bao nhiêu cây xoan?
Tóm tắt: 4 xã viên… 36 cây.

50 xã viên… X cây.

Giải: X = 50 x 364 = 450 cây 50 x 364.

Đáp số: 50 xã viên trồng được 450 cây xoan.

Phép giải trên ngang với Bổ đề của Ngô Bảo Châu.

2) “Bố tôi chỉ học hết Sơ học yếu lược” (Sđd. Trg.277), mà vẫn chưa biết phép toán đố trồng cây như trên, được con dạy cho, liền khoe với vợ: Mẹ mi biết không, trưa bữa ni tau mằn được “qui tắc tam xuất rồi đó” (Sđd. Trg.250).

Không rõ chương trình Sơ học yếu lược thời Pháp thuộc có được học toán không. Mong các vị chỉ giáo.

3) Con cá rô cụ to hơn bàn tay người lớn dài đến 25cm (Sđd. Trg.196).

Thế thì các nhà Thủy sản học nước ta vọng ngoại quá nhỉ, lại đi nhập cá rô phi về cơ chứ. Bụt chùa nhà không thiêng thật.

4) Cây bàng cổ thụ mà lại có những cành là là mặt đất (Tr.100).

Chỗ này mong các nhà Địa Thực vật học xem xét. Có thể độc nhất vô nhị toàn cầu. Ngang với con trăn to như vành bánh xe đạp bắt được ở Hà Tĩnh hồi trước 1960.

5) Cấp III Lam Sơn (hồi Lê Bá Thự vào học – 1962), có hơn nghìn học sinh mà chỉ độc một học sinh có chiếc xe đạp Sterling của Pháp (Trg.291).

Dân thị xã Thanh Hóa và các vùng phụ cận sao mà nghèo thế. Thua cấp II – cấp III Thọ Xuân thời ấy rồi, có hàng mấy chục xe đạp đủ kiểu!

So-553--Anh-minh-hoa---Ly-luan-Phe-binh-tuy-the-cung-hay---Anh-1

6) Thỉnh thoảng có đoàn kịch tư nhân, gánh xiếc về biểu diễn tại làng. Có tiết mục phóng dao găm của chú lùn cao 70cm (Trg.23-24).

Xin các nhà Văn học so sánh xem có hơi hướng gì của Tấm ván phóng dao (Mạc Can). Chúng tôi nhớ hồi kháng chiến chống Pháp ở Thanh Hóa không có đoàn kịch hay đoàn xiếc tư nhân mà tập trung vào các Đoàn Văn hóa Kháng chiến. Cũng mong các nhà Sinh lý học, Giải phẫu học, Y học thể thao… xem, chú lùn 70cm có thể phóng dao găm thuần thục điệu nghệ được không? Trò này chúng tôi được xem tại Đoàn xiếc Thanh Minh ở Sài Gòn hồi sau giải phóng – 1976. Nghệ sĩ phóng dao là một người có thân hình rất chuẩn. Các mũi dao vun vút cắm xung quanh đầu, cổ cô gái trẻ… Rùng rợn lắm, tôi không dám xem tiếp.

7) Con đò vừa dịch chuyển chậm sang ngang vừa trôi mạnh xuôi theo dòng nước xiết, nếu không khéo léo, con đò dễ bị đâm vào những khúc gỗ to đang lao như điên giữa dòng nước xoáy (Trg.293).

Sông nước như thế chỉ có người điên mới chở đò sang ngang. Và Ban chỉ huy chống lụt không bao giờ cho đò chở học sinh sang sông trong tình thế đó. Đây là tình huống tưởng tượng. Lao như điên thì không thể giữa dòng nước xoáy được!

8) Áo tơi nón lá (Trg.109).

Không ai dùng lá cọ để làm nón, làm áo tơi. Lá cọ lá kè chỉ dùng để lợp nhà, làm mui thuyền mui bè. Một tàu lá cọ rộng gần 1m2 đấy. Làm nón bằng lá gì có thể hỏi dân làng Chuông (Chương Mỹ – Hà Nội). Ở Thanh Hóa có nhiều nơi làm nón, làm áo tơi. Thử hỏi họ xem có thứ nào là thứ lá nón không? Và cách làm nón nguyên liệu làm nón ở ngoài Bắc hay miền Trung và ở Thanh Hóa là giống nhau cả.

9) “Có lần tôi còn nhìn thấy cả phi công trong buồng lái máy bay. Đó là những chiếc Hen-cát, Bê-vanh-xít, Đa-kô-ta… (Trg.150).

Bê-vanh-xít (B.26) là máy bay ném bom. Đa-kô-ta là máy bay vận tải, nó không bay thấp thế đâu. Còn Hen-cát có thể bay thấp hơn khi đi bắn phá mục tiêu, nhưng cũng phải ở độ cao an toàn cho nó, không thể thấp hơn ngọn cây, mái nhà. Trèo lên cây nhìn thấy phi công trong buồng lái là hơi bị… thần đồng đấy. Có thể nhìn thấy, nhưng ở địa hình khác. Đứng trên núi hoặc đồi cao chẳng hạn máy bay bay ngang mình hoặc thấp hơn.

10) Cô Lài (chị Lài – Trg.156-159), 15 tuổi, quê Nông Cống đi ở (làm ôsin) cho nhà tác giả Lê Bá Thự, thuộc hết bài hát này đến bài hát kia, cả Sơn nữ ca của Trần Hoàn. Nếu có thế thì cô gái này là một cô Kiều mới, vốn con nhà khá giả, được học hành, giao lưu rộng rãi, do nhà bị tai bay vạ gió, bị họa nào đó mà phải “bán mình chuộc cha”, phải đi ở đợ… Vì hồi chống Pháp, ở nông thôn Thanh Hóa nhất là vùng Nông Cống đồng chua nước úng, các em bé đâu đã được đi học như sau ngày hòa bình lập lại. Nếu các em có biết múa hát bài vở nào đó là nhờ bộ đội về làng và chỉ phổ biến các ca khúc cách mạng thôi. Làm gì có Sơn nữ ca. Các cô gái biết nhạc tiền chiến hồi đó ở Thanh Hóa lại không phải là dân Thanh Hóa mà là dân tản cư. Các cô hàng xén bất đắc dĩ. Vốn họ là nữ sinh Hà thành, theo gia đình đi kháng chiến, vẫn còn lưu luyến Thiên Thai… Các văn nhân quê Nông Cống nên tìm hiểu lại xem. Hay là có sự độc sáng đặc biệt của quê mình.

11) “Ngay trước đình làng tôi là khu ruộng mạ… những ruộng mạ phẳng lì sau vụ cấy là nơi lý tưởng để trồng cây đu tiên… người chơi đu càng nhún mạnh đu càng bay cao… Khi tay đu ngang tầm với ngọn đu, đôi nam nữ kẻ nằm ngửa, người nằm sấp úp mặt vào nhau trên không trung, dưới vòm trời xanh, rất là ngoạn mục, vô cùng lãng mạn và đẹp đẽ… ngay bên cạnh cây đu, trên một ngọn cây tre, người ta treo một chiếc khăn đỏ, cao ngang tầm thượng đu, người chơi đu phải nhún cho cánh đu bay cao và giật cho được chiếc khăn kia để giành phần thắng, nhận giải thưởng. Người xem bên dưới lại vỗ tay reo hò vang trời khi người chơi đu tay nắm chắc chiếc khăn đỏ vừa mới giật được đang tung bay trên trời cao” (Trg.273-274).

Tôi khẳng định đây là đoạn văn hư cấu tưởng tượng và để ngỏ lời bình luận cho các nhà văn Hoàng Quốc Hải, Bằng Việt, Văn Đắc, Nguyên An… sau đó tôi sẽ có lời phúc đáp.

12) Mẹ tôi khẽ nhét con chấy vào giữa hai hàm răng sau đó nghiến mạnh. Một tiếng “đốp” vang lên, tôi cũng nghe thấy. Con chấy đã bị đền tội… Vì máu của tôi trong bụng nó đã được mẹ tôi nuốt tươi, đòi lại… (Trg.122)… “Mẹ tôi khi bắt được con chấy thì cắn con chấy rồi nuốt chửng máu trong bụng của nó” (Trg.124)… “Mỗi khi bắt được con rận tôi thường thả con rận xuống nền gạch rồi dùng móng tay cái dí nát con rận, cho máu của nó bắn tung tóe, phát ra tiếng kêu đánh đốp (Trg.124).

Hồi nhỏ tôi cũng có chấy rận như thế. Mẹ tôi cũng cắn con chấy con rận nhưng không bao giờ “nuốt chửng” mà nhổ ra ngoài. Mà chấy rận ở làng tôi nó bé, bằng nửa hạt vừng, có đầu có đít. Nên có cắn, có dí móng tay nó cũng không tung tóe máu và phát ra tiếng kêu đánh “đốp”. Có lẽ chấy – rận ở Nguyệt Lãng có nguồn gốc từ Con rắn vuông chăng? Nhưng đây đúng là chi tiết xã hội học đặc sắc, có thể hóa giải được những vấn đề nan giải của lịch sử.

Ngày nay nếu có ai nêu lại vấn đề CCRĐ, đổ tội cho đấu tranh giai cấp, cho Mao ít mao nhiều… thì hãy nên xem lại. Nó là từ phẩm tính (từ đang được các nhân Hậu hiện sinh sính dùng) của dân làng Nguyệt Lãng ở xứ Thanh đấy. Đúng là “phanh thây uống máu quân thù”. Với con chấy con rận mà còn như thế thì với kẻ thù là con người, sự trả thù, đòi nợ máu, sẽ còn kinh khủng biết dường nào.

Cũng có thể liên hệ đến nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, Xăm trong Hòn Đất, các tác giả của “Luật 10-59”… ở tính man rợ, say máu hiếu sát, tàn bạo… Giữa mẹ – con nhà văn Lê Bá Thự với các nhân vật lịch sử và văn học kia phải chăng là cùng một căn tính. Sự đời quả không đơn giản, chớ tưởng Trăng sáng (Nguyệt Lãng) là một Hồn làng nên thơ… Và vấn đề của Tôi và Làng tôi đặt ra quả là lớn lao, nặng nề cho toàn nhân loại, toàn dân tộc, toàn giới khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam: Làm sao hóa giải được phẩm tính căn tính hiếu sát phanh thây uống máu lẫn nhau để con người trở thành con người có nhân tính, dẫu có phải như Khổng Minh gạt lệ chém Mã Tốc cũng là vì bắt buộc sát nhất niên cứu vạn thử, không hả hê như mẹ con nhà văn Lê Bá Thự, dân làng Nguyệt Lãng… Đó không phải là suy luận vô sở cứ. Vừa rồi, trong một ấn phẩm của NXB Hội Nhà văn, có chi tiết, bố mẹ vợ Hữu Loan là địa chủ hồi CCRĐ bị chôn đến chết rồi dùng bừa (trâu hay bò gì đấy) mà bừa!

Lê Bá Thự ơi! Sâu sắc lắm. Người ta đối với ngoại cảnh môi sinh môi trường, với con vật nhỏ nhoi, với cỏ cây hoa lá thế nào thì cũng sẽ đối với nhau như thế ấy trong đời. Bắt và giết và nuốt chửng từ con chấy con rận, con tôm con tép, con cua con ốc… cho vào bụng mình một cách hả hê khoái khẩu thì sớm muộn trước sau cũng gặp gỡ với Pôn Pốt cả thôi. Cho nên đừng tưởng người ta ngợi khen hết lời đều là có tấm lòng như Trăng sáng – Nguyệt Lãng cả đâu!

Chỉ có điều, Cụ nhà lúc sinh thời cắn răng bóp bụng vì con, Cụ chẳng nề hà. Nay Cụ đã qui tiên, lại để Cụ cắn răng bấm bụng nuốt chửng con chấy đầy máu cũng vì con… nó rùng rợn, gai gai thế nào ấy. Báo hiếu trả nghĩa cho Cụ nhà như thế sợ ở dưới kia, Diêm Vương lại đầy Cụ vào lò Bát quái, lại như bà Thanh Đề. Bà Thanh Đề còn có con trai là Mục Kiền Liên. Nhờ con mà khỏi bị đọa vào đường ác. Lê Bá Thự cũng nên theo chân Mục Kiền Liên đi. Mà nhanh nhanh lên, kẻo rồi không kịp. Năm nay đã 77 rồi còn gì. Ôi là Chữ Hiếu xứ Thanh, kinh sợ quá, kính sợ quá! Nam mô A di đà Phật.

Nhà văn Lê Bá Thự cho biết: Hồi sống ở làng tôi lam lũ thật sự, tôi khổ thật sự, khổ đến mức không còn chỗ cho khổ hơn được nữa (Trg.333).

Nhưng xem lại thì nhà có bể nước 5m3, tức là phải có nhà ngói. Lại nuôi được đôi bò. Cấy hơn mẫu lúa. Lại có con ăn người ở giúp việc (chị Lài). Tầm ấy, ở trên tôi, hồi CCRĐ là phú nông rồi đấy. Vì có bóc lột (nuôi người ở). Nếu ông nhà có dính chức sắc cai tổng lý trưởng thì toi rồi. Làm sao lại là thực sự khổ, khổ hết mức… Này, hỏi thật nhé: Đã phải nhịn đói cả nhà cả mùa giáp hạt chưa? Đã phải ăn cháo cầm hơi, chia nhau bát ngô rang rổ rau luộc chưa? Lại còn được đi học. Học giỏi toàn diện cả cấp III. Cũng phải đủ ăn đủ mặc mới học được như thế chứ. Cái khổ thực sự, hết mức, nếu có, là không được ra trận ngay từ đầu chống Mỹ, “đường ra trận mùa này đẹp lắm” (Phạm Tiến Duật), cứ phải mài đũng quần ở giảng đường Đại học Vacsava, bên mấy em tóc vàng mắt xanh da trắng. Thôi đừng mặc cảm. Học cho giỏi để xây dựng đất nước cũng là đánh Mỹ rồi. Từ Con Rái Cá làng Nguyệt Lãng đến Giáo sư Đại học, nhà ngoại giao, nhà văn, nhà dịch thuật… mới chỉ “25 năm dịch và viết” (tác phẩm gần đây của Lê Bá Thự) mà sinh hạ được 32 đứa con tinh thần cha tròn con vuông là một kỳ tích rồi. Đó cũng là con đường của người nông dân Việt Nam từ bùn lầy nước đọng, đi theo Đảng làm cách mạng để có được cuộc đời sáng sủa hôm nay mà Lê Bá Thự là nhân vật điển hình, là đáng tuyên dương công trạng rồi.

Và may cho Lê Bá Thự lắm. May lắm đấy. Nếu hồi CCRĐ mà lớn chút nữa thì đã được bắt rễ xâu chuỗi đầu tiên đấy, thành cốt cán đấy, khổ như thế kia mà! Thành thợ đấu thợ tố là cái chắc. Nhiều sự may như thế thì cũng nên cúng dường cho đời chút ít lòng thành. Đừng tự huyễn hoặc mình. Đã hay rồi phải giữ lấy rồi cố hay hơn nữa, người đàn anh đồng hương kính mến ạ!

(Còn tiếp)

Hà Nội, 19-6-2019

Lê Thọ Xuân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 553

Ý Kiến bạn đọc