Người tốt - Việc tốt

Luật sư Phan Anh kể về Bác Hồ

Luật sư Phan Anh, sinh ngày 1-3-1912 tại làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là Bộ trưởng Thanh niên trong chính phủ Trần Trọng Kim. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông từ chức cùng nội các Trần Trọng Kim về sống tại Hà Nội. Sau khi Quốc hội khóa 1 được bầu cử ngày 6-1-1946 và thành lập Chính phủ Liên hiệp Quốc gia, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 7-1946, ông được Chính phủ giao chức Tổng thư ký phái đoàn Chính phủ Việt Nam (Trưởng đoàn là ông Phạm Văn Đồng) đi dự Hội nghị Fontainebleau đàm phán với chính phủ Pháp. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, ông tham gia kháng chiến chống Pháp suốt 9 năm (1946 -1954). Năm 1947, ông giữ chức Bộ trưởng Kinh tế, thành viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao (năm 1949). Tháng 7-1954, ông là phái viên phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Genève.

Sau năm 1954, ông liên tục giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương trong Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam…

Ông mất ngày 28-6-1990 tại Hà Nội.

Thời gian ở Việt Bắc ông là thành viên Chính phủ gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhận xét sâu sắc về Bác như lần trả lời phỏng vấn của Stein Tonnesson nhà sử học Na Uy, đề cao “Chính sách tín nhiệm đối với trí thứ của Hồ Chí Minh”. Dưới đây xin ghi lại lời kể của luật sư Phan Anh về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tôi xin được nghe ý kiến các vị

Cách mạng tháng Tám đã mở ra một trang sử mới của dân tộc. Anh Vũ Ngọc Khánh lúc đó là Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ lâm thời cho tôi biết: Hồ Chủ tịch tổ chức gặp mặt các nhân sĩ trí thức. Đến Bắc Bộ phủ hôm đó có khá đông trí thức, chúng tôi nói với nhau: Chắc là nghe lời chỉ bảo của Chủ tịch. Nhưng khi mọi người đã ổn định chỗ ngồi, Bác vào đề hết sức ngắn gọn và đề nghị:

- Tôi xin được nghe ý kiến các vị.

Đến nay, tôi không nhớ các anh khác nói gì, nhưng còn nhớ mấy ý của mình đã nói: “Nhân dân ta đang đứng trước một tình thế cần đoàn kết lại. Cách mạng nhờ đoàn kết mà thành công, giành được chính quyền. Nay để bảo vệ chính quyền, xây dựng nền độc lập, chống những âm mưu phá hoại bên trong và bên ngoài, điều chủ yếu là phải giữ gìn và tăng cường đoàn kết.

Sau đó ít lâu, Bác giao cho tôi nhiệm vụ thành lập và làm chủ tịch một tổ chức lấy tên là Ủy ban kiến thiết quốc gia gồm nhiều trí thức tiêu biểu ở Hà Nội.

Con nhà lính chớ có tính nhà quan

Năm 1946, sau cuộc tổng tuyển cử thắng lợi, Quốc hội họp để bầu Chính phủ mới. Trước đó, Bác cho mời tôi đến Bắc Bộ phủ. Sau khi nêu yêu cầu đoàn kết nhân dân, thống nhất hành động, Bác nói: “Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng cần giao cho những người có vị trí trung lập là cụ Huỳnh Thúc Kháng và chú”.

Có lần theo Bác lên khai giảng Trường Võ bị lục quân Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây, tôi được chứng kiến: Bác tặng nhà trường mấy chữ: “Trung với nước, hiếu với dân”, lời dặn ấy đã thấm sâu vào mọi người, mọi thế hệ.

Một lần, thấy tôi mặc bộ đồ quân sự: áo cộc tay, cổ cầu vai, chân đi bốt, Bác cười hỏi:

- Sao hôm nay, chú ăn mặc thế này?

- Dạ thưa Bác, hôm nay tôi đi họp với tư cách con nhà lính.

Bác bảo: “Con nhà lính” nhưng chớ có “tính nhà quan” nhé.

Đến tháng 5-1946, D’Argenlieu, lúc đó là Cao ủy Đông Dương, mới được cử sang Hà Nội, có kiến nghị với chính phủ ta: Tổ chức một cuộc duyệt binh phối hợp Pháp – Việt với một dụng ý không hay.

Hôm ấy là ngày kỷ niệm sinh nhật Bác, nhân dân thủ đô cũng như nhân dân cả nước nô nức tổ chức những hoạt động mừng thọ Bác. Chính phủ ta lấy cớ bận tham gia buổi trọng lễ, không đến dự cuộc duyệt binh ấy. Tuy thế, Bác vẫn cho mời tôi đến nhận “một công việc đặc biệt” thay mặt Chính phủ ta đi dự.

Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân

Cũng trong ngày tháng 5 đó, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Bác sang thăm nước Pháp với tư cách một thượng khách. Phái đoàn ta đi dự Hội nghị Fontainebleau cũng đi vào dịp ấy. Người phụ trách làm hộ chiếu xin phép Bác làm thủ tục, Bác giản dị nói:

- Chú cứ hỏi đi, mình sẽ khai đầy đủ.

Đến câu hỏi: Tên cụ thân sinh ra Bác là gì? Bác trả lời dí dỏm:

- Mình là Hồ Chí Minh thì ông thân sinh ra mình là Hồ Chí Thông.

Mọi người nhìn nhau cười vui.

Rồi đến ngày đoàn lên đường, ngồi chờ tại sây bay Bạch Mai, lòng tôi nặng trĩu lo âu: trong nước, các thế lực phản động đang gây bao rắc rối nhằm lật đổ chính phủ non trẻ. Bác là người có uy tín lớn, nay Bác đi vắng, tình hình ở nhà sẽ ra sao?

Hình như hiểu được tâm tư của tôi, Bác động viên, giọng ung dung thanh thản:

- Chú có câu Kiều lẩy nào, đọc cho vui.

Bác vẫn nhớ hôm 19-5, sinh nhật Bác, tôi có chuẩn bị mấy câu Kiều lẩy, nhưng lại không được dự vì được Bác phân công đi dự lễ duyệt binh của quân đội Pháp (một công việc phức tạp và tế nhị lúc bấy giờ) như đã nói trên.

- Thưa Bác có, nhưng không biết Bác có đồng ý không? Rồi tôi đọc hai câu:

Đường mây vạn dặm xa xôi
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.

- Chú nghĩ đúng. Nội tình rất khó, nhưng chú yên tâm, công việc của chính phủ ở nhà, tôi đã giao cho cụ Huỳnh và chú Giáp.

Hội nghị tuy chưa đạt được nhiều điều mong muốn, nhưng đã đem lại một thắng lợi lớn làm cho nhân dân Pháp và nhân dân nhiều nước trên thế giới hiểu được vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế. Một trong những điều ghi trong tâm trí tôi là bài diễn văn của Bác đáp lời Thủ tướng Pháp hồi đó tại Hội nghị Fontainebleau, Bác đã nhấn mạnh câu nói của các nhà Nho Việt Nam mà các báo Pháp lúc bấy giờ nêu thành dòng tít to ở trang đầu. Đó là câu “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, nghĩa là “Cái gì mình không muốn thì chớ đem thi hành với mọi người”.

So-507--Bac-ho-va-luat-su-Phan-Anh-trong-doan-dai-bieu-Chinh-phu-Viet-Nam-du-mot-cuoc-tiep-tan-tai-Trung-Quoc
Bác Hồ và luật sư Phan Anh (hàng đầu bên phải) trong đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam
dự một cuộc tiếp tân tại Trung Quốc. Tháng 6 năm1955 (nguồn: doanhtri.net).

Câu nói đã tranh thủ được dư luận rộng rãi của nhân dân Pháp và nhân dân thế giới ủng hộ việc chống lại bọn thực dân Pháp muốn trở lại nhằm phá hoại sự nghiệp độc lập, thống nhất của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Pháp đã từng chống lại bọn phát xít Đức chiếm đóng và chia cắt nước Pháp.

Sau Hội nghị Fontainebleau, Bác ở lại nước Pháp một thời gian để cùng ông M. Moutet, Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại, cố hàn gắn tình hình.

Tạm ước 14-9 được ký, từ đó cũng nảy sinh việc thành lập một Ủy ban Việt – Pháp tiếp tục đàm phán ở Hà Nội về những vấn đề còn bất đồng và tôi được cử làm trưởng đoàn.

Tôi còn nhớ, trong bữa cơm của Bác chiêu đãi người đứng đầu phía Pháp, có một chuyện lý thú: Nói về tình hình quân đội Pháp ở Nam bộ, trưởng phái đoàn Pháp nhấn mạnh đến sự cần thiết có mặt của quân đội Pháp. Bác liền hỏi:

- Ông quê ở đâu?

Người đó trả lời: Quê ở Marseille.

Bác nói luôn: “Như thế là ông chưa biết cái nhục nhã, đau đớn của người dân khi thấy đất nước bị quân nước ngoài chiếm đóng”.

Bác nói thế, vì trong thời gian Đức chiếm đóng Pháp, Marseille là vùng tự do, không có quân Đức.

Đầu tháng 11-1946, do nhu cầu của tình hình mới, cần có sự điều chỉnh trong chính phủ, Bác muốn giao cho tôi công việc phụ trách Bộ Tư pháp.

Tôi thưa với Bác: Xin Bác cứ để cho tôi làm công việc hiện thời là đàm phán với Pháp, không làm bộ trưởng nào cả.

Bác hỏi: Vì sao?

Tôi trả lời: Vì tình hình rất phức tạp. Trong Chính phủ mới có những con người khó có thể cộng tác.

Bác hỏi: Ví dụ?

- Thưa Bác, đó là những đại diện còn lại của phái Việt Nam Quốc dân Đảng.

Bác không nói gì, nhưng khi bắt tay tôi Bác cười:

- Miệng chú cũng là miệng “thầy cãi”.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cũng như bao các anh khác, tôi lên đường theo Bác đi chiến khu và từ đây, tôi còn nhiều kỷ niệm không bao giờ quên trong những ngày được gần Bác ở “Thủ đô gió ngàn”.

Họa thơ và dịch thơ

Kháng chiến toàn quốc qua cái Tết đầu tiên, anh em chúng tôi chuyển lên chiến khu Việt Bắc.

Hai chữ “chiến khu” đối với người trí thức lúc đó chứa biết bao bí ẩn, lo âu. Tôi đã vậy, nhưng gia đình thì sao, nhất là đối với nhà tôi, một nữ trí thức quen sống ở thành thị. Hai cháu ngồi trong hai cái thúng, được các anh các chị gánh qua núi, qua đèo, đôi lúc lội suối, nước rò vào thúng, giữ được cháu này cháu kia lại ướt.

Chúng tôi đến huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) vào một buổi tối, được tin Bác triệu tập. Nơi họp là một cái đình nhỏ, bằng gỗ, lợp tranh ở sâu trong rừng. Không có đèn, chỉ có một đống lửa giữa sân.

Chúng tôi đợi một lúc thì thấy một ông cụ đầu trùm khăn, ung dung đi ngựa tới, mắt sáng, giọng nói ấm áp. Mọi người vui mừng nhận ra Bác.

Ngọn lửa trong sân đình càng thêm sáng. Họp xong ăn ngô nướng, mọi người tự nướng lấy ngay ở đống lửa đang cháy, thay cho bếp, cho đèn. Còn ngô thì toàn là ngô mới bẻ, lại thêm nước chè tươi. Khi họp xong, anh em ra về, lại có tin đến: Trong bản bên cạnh có săn được một con lợn rừng.

Ai đó cất tiếng: Ngày mai ta có thức ăn tươi.

Nhưng cái thức ăn tươi nhất, cái quà duy nhất mà tôi nhận được ngày hôm sau, đó là bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc của Bác:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày.
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại,
Trăng xưa, hạt cũ với xuân này.

Nỗi lo âu của chúng tôi trong quãng đường đầu của kháng chiến dần tiêu tan và niềm vui nảy nở trong cuộc sống mới. Mấy hôm sau, tôi làm bài thơ họa gửi lên Bác.

Cảnh rừng càng biết lại càng hay,
Khác cảnh phồn hoa sống mỗi ngày.
Ngựa bước dồn câu, ta vẫn vững,
Tàu bay hết nước, địch đành quay.
Núi rừng cách mặt tình thêm mặn,
Thơ phú, không men ý vẫn say.
Hạt cũ, trăng xưa đâu đó tá,
Ngày xuân tô điểm nước non này.

Cuối năm 1947, thực dân Pháp tập trung binh lực nhảy dù Bắc Kạn, Chợ Mới…, đồng thời đưa hai binh đoàn tiến theo đường số 4 lên Cao Bằng và ngược sông Lô chiếm thị xã Tuyên Quang… Các cơ quan Trung ương được lệnh di chuyển, vừa đánh, vừa tránh địch…

Chính vào những ngày đó tôi đã nhận được thư của Bác.

Đêm khuya nhân lúc quan hoài.
Lên câu thơ thẩn chờ ai học vần.

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Nước nhà đương gặp lúc gay go,
Trăm việc ngàn công đều phải lo.
Giúp đỡ nhờ anh em gắng sức,
Sức nhiều thắng lợi lại càng to.

Mấy hôm sau, tôi lại làm bài thơ họa, gửi lên Bác.

Họa vần xin gửi cho ai,
Đường xa sẻ tấm quan hoài nước non.

Quanh quanh dòng suối cảnh đường xa,
Trời có trăng và núi có hoa.
Trăng sáng bao la trời đất nước,
Hoa thơm phảng phất vị hương nhà.

Nước nhà tuy gặp lúc gay go,
Lái vững chèo dai ta chẳng lo.
Vượt sóng, dựng buồm, ta lựa gió,
Thuận chiều, ta mở cánh buồm to.

Bác không những làm thơ tiếng Việt mà còn làm nhiều thơ chữ Hán; làm xong thường gửi cho các nhân sĩ, trí thức, ai có điều kiện thì họa lại, gửi lên Bác. Trường hợp Bác làm thơ gửi cụ Bùi Bằng Đoàn rồi cụ Bùi làm thơ họa thơ Bác là một ví dụ.

Năm 1952, đến rằm tháng giêng âm lịch, vui mừng trước những thắng lợi nhiều mặt của đất nước, tôi có gửi lên Bác một bài thơ chữ Hán:

Cổ phong nhất thị tác tân thi,
Dục hướng sơn lâu báo tiệp thì.
Khánh chúc nguyên tiêu hành cựu lễ,
Tân niên, tân nhật tác tân thi.

Tôi tạm dịch:

Rừng xưa hái mấy vần thơ,
Hướng về tướng phủ trong giờ tiệp loan.
Xuân về giữa lúc hân hoan,
Núi sông vang khúc khải hoàn mừng xuân.

Bài thơ nhằm họa lại những vần thơ chữ Hán của Bác trong bài Báo tiệp làm mùa xuân năm 1948.

Nguyên văn bài thơ Báo tiệp:

Nguyệt thôi song vấn: thi hành vị?
- Quân vụ nhưng mang vị tố thi.
Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng,
Chính thị Liên khu báo tiệp thì.

Năm 1953, một hôm Hội đồng Chính phủ họp trong rừng, đêm khuya trăng lên rất đẹp, rất nên thơ. Bên cửa sổ, Bác bỗng nảy ý thơ. Bác viết ngay bài thơ bằng bút chì và đưa tôi đọc:

Song ngoại, nguyệt minh lung cổ thụ,
Nguyệt di, thụ ảnh đáo song tiền.
Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,
Huề chẩm, song bàng đối nguyệt miên.

Cảm thấy rất hứng khởi, tôi đã mạnh dạn dịch như sau:

Ngoài sân, trăng sáng lồng cây,
Trăng đưa bóng ngả, bóng cài bên song.
Việc quân việc nước bàn xong,
Bên song ôm gối, gối cùng trăng mơ.

Sau này, nghe nói anh Nam Trân dịch bài thơ này khá tài hoa:

Ngoài song, trăng rọi cây sân,
Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.
Việc quân, việc nước bàn xong,
Gối khuya yên giấc, bên song trăng nhòm.

Sau những giờ phút bận rộn hay trong những giờ phút vui mừng, làm thơ, họa thơ hay dịch thơ là một sinh hoạt văn hóa văn nghệ rất thú vị ở chiến khu Việt Bắc.

Sống trong tình thương yêu của Bác

Tháng 12-1949, họp xong hội nghị, trên đường về thăm gia đình, tôi được tin nhà tôi sinh con trai. Vui mừng trước tình hình đất nước đang có nhiều tiến triển, tôi đặt tên cháu là Phan Tân Hội.

Được tin, Bác gửi thư mừng:

Chú thím thêm một con
Các cháu thêm một em
Bác Hồ thêm một cháu
Nước nhà thêm một công dân
Tương lai thêm một chiến sĩ.

Sau này lớn lên, cháu Phan Tân Hội đã tự nguyện vào bộ đội. Gia đình chúng tôi giờ vẫn giữ thư của Bác, coi như bảo vật thể hiện tấm lòng yêu thương cán bộ của Bác.

Sang năm 1950, nhà tôi không may bị bệnh nặng, được Trung ương tạo điều kiện cho đi điều trị ở xa. Trong thời gian này, các anh Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh… thường cung cấp cho tôi những tin tức cụ thể về nhà tôi. Riêng Bác rất quan tâm. Bác biết nhà tôi không may bị bệnh hiểm nghèo, muốn chuẩn bị cho tôi trước tình huống xấu có thể xảy ra.

Phỏng theo Chinh Phụ ngâm, Bác gửi cho tôi mấy vần thơ sau:

Điện thường tới, người chưa thấy tới,
Bức rèm thưa từng dõi bóng dương.
Bóng dương mấy lúc xuyên ngang,
Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai.

Đọc thơ Bác, tôi thấy rõ tấm lòng đồng cảm sâu sắc về bệnh tình đáng ngại của nhà tôi.

Vợ ốm, con thơ, nước nhà tuy vững bước tiến lên, nhưng còn bao khó khăn, lòng tôi có lúc thật vô cùng bối rối. Thế rồi, được tin nhà tôi đi chữa bệnh về. Bác viết thư cho tôi, sửa lại mấy vần thơ trước cho thích hợp với hoàn cảnh mới:

Điện thường tới, người nay mới tới,
Bức rèm thưa từng dõi bóng dương.
Bóng dương mấy lúc xuyên ngang,
Tình càng ấm áp, nghĩa càng sâu xa.

Ngày 4-6-1950, tôi đã gửi thư cảm ơn Bác.

Một bức thư trao, một tấm lòng,
Tấm lòng êm ái thấm non sông.
Tin nhà giảm bệnh mừng khôn xiết,
Nợ nước, ơn sâu biết mấy trùng.
Gánh nặng đường xa thêm sức mạnh,
Gan bền, chí vững quyết ra công.
Bên tình, bên nghĩa đôi đường vẹn,
Ghi tạc muôn năm một chữ đồng.

Những ngày cuối cùng ở Việt Bắc

Đầu năm 1953, Hội đồng Chính phủ có giao trách nhiệm cho hai Bộ: Bộ Tài chính lúc đó do anh Lê Văn Hiến làm Bộ trưởng và Bộ Công thương do tôi làm Bộ trưởng, tìm hiểu và tổ chức một hội nghị rộng rãi nhằm thực hiện kế hoạch quân lương và quân nhu cho bộ đội hoàn thành xuất sắc chiến dịch Đông Xuân năm đó. Trong không khí đầy phấn khởi, tràn ngập niềm vui, hội nghị đi vào giờ phút bế mạc.

Bác Hồ nhắc tôi đọc mấy vần thơ. Tôi đã đọc mấy câu ca dao và Kiều lẩy.

Con cò lặn lội bờ sông,
Thóc thuế gánh gồng, tiếng hát véo von.
Mấy lời Bác dạy sắc son,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.
Diệt thù giải phóng quê ta,
Ấy là nghĩa nặng, ấy là tình sâu.

Hội nghị nồng nhiệt vỗ tay, nhưng Bác giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng và Bác đọc mấy câu:

Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy ra thì một năm sau vội gì.

Rồi Bác cầm lấy cái áo ngoài vắt ở thành ghế cạnh bàn và tiếp thêm một câu:

Nói rồi xách áo ra đi.

Cả hội nghị reo to như không muốn dứt.

Thật là thần kỳ. Chỉ hơn “một năm sau” là “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” đã đưa cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm đến ngày toàn thắng.

Cũng trong năm này, có một lần trao đổi ý kiến về vấn đề khen thưởng gia đình có con đi bộ đội, Bác hỏi tôi:

- Chú có biết trong Tam tự kinh có câu gì ứng vào việc này không?

Tôi thưa với Bác:

- Đó là câu “Đậu Yên Sơn, hữu nghĩa phương, giáo ngủ tử, danh câu dương” (nghĩa là: ông Đậu Yên Sơn có phương pháp giáo dục năm người con đi theo đường nghĩa lớn).

Bác hỏi tiếp:

- Chú có biết câu “Không sợ ít mà sợ không đều, không sợ nghèo mà sợ không yên” xuất xứ ở đâu không?

Tôi thưa với Bác:

- Đó là câu “Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân, bất hoạn bần nhi hoạn bất an”.

Về câu hỏi thứ hai, tôi hiểu không phải Bác kiểm tra trí nhớ của tôi mà ý muốn nhắc nhở tôi về trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Công thương hồi đó đừng để xảy ra những bất công, sai lệch trong công tác phân phối lưu thông thời chiến.

Tháng 7-1954, hòa bình được lập lại trên đất nước, nhưng việc đi lại từ Nam chí Bắc còn rất nhiều khó khăn, một đoàn đại biểu miền Nam đã ra tới chiến khu Việt Bắc. Đoàn gồm có các anh Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Cao Triều Phát, ba linh mục và một đại biểu Sài Gòn.

Bác chủ trì cuộc họp mặt. Theo thường lệ, Bác hay chỉ định trước người sẽ hát, sẽ đọc thơ, ngâm thơ… Lần này, không được báo trước, nhưng thể theo yêu cầu của Bác, tôi vui vẻ đứng lên ứng khẩu:

Nhớ lời thệ hải sơn minh,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.
Tiệc vui Nam Bắc một nhà,
Quân dân, lương, giáo bên cha vui vầy.
Chén vui nhớ bữa hôm nay,
Chén mừng thống nhất ngày này hai năm sau.

Đây là cuộc liên hoan cuối cùng tại chiến khu Việt Bắc giữa Bác và anh em ở cơ quan Trung ương. Hôm đó là ngày 20-9-1954. Đến 1-10 năm ấy, cùng với một số anh em khác, tôi được lên xe bí mật về Thủ đô trước, lo công việc tiếp quản sắp tới.

Ngày 2-9-1992
(Theo lời kể của luật sư PHAN ANH)

Nguyễn Xuân Ba (sưu tầm*)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 507

———————
* Tạp chí Xưa & Nay, số 97 – tháng 8-2001.

Ý Kiến bạn đọc