XEM BÁO GIẤY
Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Luận về những nguyên nhân Việt Nam mất nước về tay Pháp

Phần II

5. Pháp tiến công – triều đình Huế giữ thế thủ, chủ hòa. Đường lối thủ và hòa sẽ dẫn đến mất nước

Các nước tư bản Âu Tây đứng đầu là Anh, liên kết với nhau, đem quân sang uy hiếp Trung Quốc – thị trường lớn nhất thế giới – gây ra cuộc “chiến tranh nha phiến”. Khi tham chiến ở Trung Quốc thì tự nhiên Pháp chú trọng đến Việt Nam mà hải quân Pháp kéo qua trước ngõ. Không phải là mới đây thôi, đế chế thứ nhất của Pháp đã để ý tới Hiệp ước Versailles 1787 rồi nhưng Pháp còn bận với bao nhiêu cuộc chiến tranh ở Âu châu, cho nên mãi đến đế chế thứ hai, Nã Phá Luân III nhân dịp tham gia chiến tranh nha phiến và chiến tranh ấy tạm dứt, mới quyết định điều số quân viễn chinh Pháp xuống đánh Việt Nam nhằm buộc triều đình Huế phải thi hành Hiệp ước Versailles.

Thống lãnh cuộc xâm lăng là Đô đốc Rigault de Genouilly. Lực lượng xâm lăng gồm quân Pháp, quân Tây Ban Nha và nhân công thuê. Ở phương Bắc, tất cả non già 3.000 người với 14 tàu chiến, 1 giám mục, một số giáo sĩ biết tiếng Việt Nam. Mục tiêu của chiến dịch là chiếm Đà Nẵng; Đà Nẵng chiếm xong, liên quân Pháp – Tây sẽ chiếm luôn kinh thành Huế, bắt vua Tự Đức phải thi hành ngay các điều khoản Hiệp ước Versailles, Pháp tính rằng sẽ chiến thắng dễ như trở bàn tay. Cung điện Huế không giàu tột bực như cung điện Bắc Kinh song cũng đủ hấp dẫn quân Pháp – Tây Ban Nha.

1-9-1858, quân Pháp – Tây tiến công Đà Nẵng; 2-9, họ chiếm xong cả thị trấn Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà. Quân Việt Nam lùi ra, lập phòng tuyến chặn địch ở một rẻo bờ biển. Một sĩ quan gởi thư về Pháp viết: “Đất mà chúng tôi chiếm được thì dân đều bỏ đi cả, trừ vài nhà tranh của những người đánh cá, tôi chưa thấy một con gà”.

Số là quân Pháp được các cha cố hứa hẹn rằng hễ Pháp đến thì dân bản xứ sẽ nổi lên hưởng ứng. Nhưng quân Pháp – Tây đổ bộ rồi mà chẳng thấy ma nào hưởng ứng cả.

Bản thân Đô đốc Rigault de Genouilly báo cáo về cho Chính phủ Pháp: “Chính phủ bị đánh lừa về bản chất cuộc chinh phục nước Việt Nam. Người ta trình bày rằng cuộc viễn chinh này chỉ là một việc nhỏ, một việc dễ. Thực ra nó không nhỏ, không dễ. Xứ này không có đường cái lớn, lại chằng chịt sông rạch, sông thì cạn, đồng thì lầy. Xứ này có quân chính quy đông, còn dân quân thì gồm tất cả những ai không đau ốm tàn tật”.

Rigault có vài lần thử lên đèo Hải Vân và vào sông Hương để vào Huế. Không được. Đèo cao, sông cạn. Đi sâu vào nội địa tỉnh Quảng Nam cũng không nổi: ruộng thì lầy, đằng sau xa là núi rừng hiểm trở… Ở mãi Đà Nẵng làm gì? Các cha cố khuyên đô đốc kéo quân ra Bắc, ở đó có bọn Tạ Văn Phụng (phe cha cố Tây Ban Nha) có thể giúp liên quân Pháp – Tây đắc lực. Nhưng Rigault tính không xong, Bắc bộ xa Huế mà gần Trung Quốc, nếu Trung Quốc can thiệp thì làm sao? Y bèn giải quyết cái bí bằng cách kéo quân từ Đà Nẵng vào đánh chiếm Gia Định, ở đây sông sâu tiện cho hải quân hoạt động và ở đây có nhiều lúa gạo để vừa nuôi quân, vừa có thể cắt đứt nguồn tiếp tế lương thực cho Huế.

Rigault rút bớt quân ở Đà Nẵng vào đánh chiếm Gia Định, đánh chiếm Gia Định rồi thì rút hết vào đây số quân còn lại ở Đà Nẵng.

Việc Pháp rút hết quân khỏi Đà Nẵng làm nảy sinh ở triều đình Huế một tư tưởng lạ lùng và nguy hiểm là: Vì Pháp ở xa Việt Nam quá cho nên không chắc gì Pháp muốn cắt đất Việt Nam như một nước lớn mạnh bên hè. Huế nghĩ rằng Pháp chỉ còn một số nơi để lập thương điếm và truyền đạo, rằng Pháp chỉ cần đòi chiến phí nặng, khi ta trả tiền cho họ thì họ sẽ bằng lòng rút quân, vậy nên hòa hoãn với họ, nhượng ước với họ hơn là chiến tranh với họ mà sức ta thắng không nổi. Đại thần giải thích tại sao Pháp tiến đánh Việt Nam: “Bấy lâu nay ta lạnh nhạt với họ, họ bị các nước láng giềng chê cười, cho nên họ đem quân đánh ta để được hòa!”.

Đại thần ở triều đình mà lập luận quái gở như thế! Vậy mà nhà vua và các đại thần khác cũng nghe được thì càng quái gở.

Lien-quan-Phap-Tay-Bn-Nha-no-sung-vao-thanh-Da-Nang-mo-dau-cuoc-chien-tranh-xam-luoc-Viet-Nam
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng vào thành Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1/9/1858).

Người đọc sử sau này ai mà không tự hỏi tại sao khi Pháp rút phần lớn quân ở Đà Nẵng để vào đánh chiếm Gia Định, ở Đà Nẵng chỉ còn non ngàn quân Pháp – Tây đương đầu với cả vạn quân Việt Nam mà Thống tướng Nguyễn Tri Phương không thừa thế tấn công tiêu diệt địch, để chúng an toàn rút vào Gia Định? Và tự hỏi tại sao, được triều đình phái vào mặt trận Gia Định, vị thống tướng này dưới trướng có 30.000 quân chính quy và dân quân cứ lụi cụi xây đắp Đại đồn Chí Hòa mà không tiến công quân Pháp – Tây lúc chúng chỉ có độ 300 tên, phần lớn đã rút lên Bắc Hải để tiếp tục chiến tranh với Trung Quốc nhà Thanh. Khi ấy nếu Việt Nam thừa thế tiến công thì chỉ với dao mác trong tay quân Việt Nam làm cận chiến cũng thừa sức tiêu diệt Pháp – Tây đang chờ chết. Vậy mà thống tướng thay mặt cho triều đình Huế vẫn án binh bất động cho đến khi mấy ngàn quân Pháp, lần này đông hơn trước, lại trở về Gia Định và mở ngay cuộc tiến công đại đồn, lấy đại đồn và chiếm cả 4 tỉnh miền Đông Nam kỳ.

Quan quân của triều đình tan vỡ, tháo chạy. Nhưng nhân dân lục tỉnh, nhất là nhân dân miền Đông thì đứng lên kháng chiến rất mạnh; quân Pháp đàn áp không nổi. Sách “Cuộc xâm chiếm Đông Dương” của Thomazi ghi rằng: “Người Pháp đã bắt đầu thấy rằng cần phải chinh phục lại các tỉnh đã chinh phục, nhưng không ngờ chính trong lúc đó vua Tự Đức xin giảng hòa”.

Ngày 5-6-1862, một hòa ước được ký kết, triều đình Huế nhận cắt 3 tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường trao về tay Pháp, chịu trả cho Pháp 20 triệu quan chiến phí, triều đình Huế chỉ được của Pháp lời hứa sẽ cho chuộc lại 3 tỉnh! Nhưng làm gì có việc chuộc lại? Miếng thịt ngon đã vào miệng sói rồi thì sói nào lại nhả ra? Vua quan gì mà khờ dại đến mức đó? Không dám tiến công địch, chủ trương hòa hảo với kẻ xâm lăng, thì chỉ có thể đi đến đầu hàng bán nước.

Sao mà Huế dễ dàng chịu cắt đất cho Pháp như vậy? Vua tôi Tự Đức mờ tịt về tình thế nguy khốn của Pháp lúc ấy. Lúc Pháp đang vật vã chiếm 3 tỉnh Nam kỳ, đang phải lo “chinh phục lại các tỉnh đã chinh phục”, đúng là lúc bên trời Âu Tây, Pháp bị vướng vào cuộc chiến tranh Mễ Tây Cơ tận bên Tân Thế Giới, không làm sao tăng viện, dù ít, cho Đô đốc Bonard ở Nam kỳ. Nã Phá Luân III gởi 7.000 quân sang đánh chiếm Mễ Tây Cơ; quân Pháp bị đánh bại thê thảm ở Puebla. Nã Phá Luân phải gởi thêm 28.000 quân nữa mới lấy lại được Puebla sau một trận đánh lưu huyết rồi mới vào được kinh thành. Nhưng sau khi quân Pháp vào được kinh thành rồi thì người Mễ Tây Cơ nổi dậy khắp nơi, Pháp không đàn áp nổi. Sự kiện Mễ Tây Cơ 1862-1863 hút hết tâm lực của Chính phủ Pháp, hút hết khả năng tài chính của Pháp; rốt cùng quân Pháp rút khỏi Mễ Tây Cơ. Giá mà triều đình Huế ít mù quáng, biết được tình hình này để mà tiếp tục chủ chiến chứ không giảng hòa thì làm gì Việt Nam phải mất Nam kỳ về tay Pháp?

Chiến tranh mà không biết địch, cũng không biết ta thì thất bại là điều không tránh khỏi.

6. Triều đình Nguyễn một lần nữa bỏ qua thời cơ tốt hiếm có khi Pháp bị Đức đánh bại sát đất năm 1870

Hòa ước 1862 ký kết, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp nói: “Hòa ước đã thành, có thể ngồi mà đến phú cường”. Nguyễn Tri Phương nói khác: “Sau khi đã hòa, của cải sức lực ngày một hao mòn, còn lấy gì để mà phú cường nữa?”. Triều đình không có kế sách gì phục hưng đất nước, để Pháp tự tiện nuốt luôn 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ mà không tốn một người lính, một viên đạn nào, cũng không cần được triều đình Huế công nhận và không nhận.

Lúc này, không bị ngoại bang nào uy hiếp, triều đình Huế có thì giờ và điều kiện để phục hưng đất nước. Nhưng lạ thay, triều đình vẫn lo sợ rằng: Nếu công việc phục hưng bị lộ liễu để Pháp trông thấy, cho nên vua Tự Đức dặn dò triều thần “không nên để tỏ ra ta lộn xộn, cho Pháp khỏi ngờ vực”! Tự Đức sai quan đúc thêm 500 khẩu thần công, 2.000 súng tay (kiểu lòng láng nạp tiền như trước đây), lo tăng cường các cơ binh ở tỉnh, tăng cường phòng thủ ở cửa Thuận An. Thực tế là triều đình không biết phải phục hưng đất nước như thế nào. Một số đình thần muốn Việt Nam liên kết với các nước Đông Á để cùng đối phó với Tây Âu, nhưng vua không nghe, sợ Pháp ngờ vực. Và nhiều nước châu Âu như Đức, Anh, Tây Ban Nha tự họ đến xin giao thương với Việt Nam, triều đình cũng không chịu mở cửa! Không ai có thể hiểu tại sao triều đình không chịu đặt quan hệ thương mại với các nước đó, lợi dụng sự cạnh tranh giữa họ với Pháp để rộng đường mua bán những gì mình cần, trước hết là vũ khí. Lúc bấy giờ Huế đã có ký kết gì với Pháp để dành riêng thị trường Việt Nam cho Pháp đâu? Huế thật giống như một con rùa, mới động tới nó, nó đã rút cổ vào mu. Bao nhiêu cơ hội để phục hưng đất nước, triều đình Huế đều bỏ qua? Cơ hội tốt là chiến tranh 1870 giữa Pháp và Đức.

Cuối 1870, chiến tranh Pháp – Đức nổ ra. Pháp đại bại. Bốn chục vạn quân Pháp bị Đức bắt làm tù binh, 149 ngàn tử trận; Pháp phải cắt 2 tỉnh cho Đức, phải bồi thường chiến phí hết sức nặng, trong lúc chưa trả tiền xong chiến phí thì Pháp chịu 650 ngàn quân Đức chiếm đóng 27 tỉnh. Nước Pháp suy sụp, dân Pháp sút tinh thần, nhân dân lao động kinh thành Paris nổi lên khởi nghĩa vũ trang. Quân lính Pháp ở Nam kỳ rầu rĩ chờ ngày hoặc bị triều đình Huế đến tiêu diệt hoặc được chính quyền Paris rút về Pháp. Lúc bấy giờ ở Sài Gòn, ở Huế, không phải không có ai đề nghị triều đình Tự Đức hãy thừa cơ hưng biến tiến công lấy lại Nam kỳ lục tỉnh. Đánh thì chắc thắng trăm phần trăm. Nhưng triều đình Tự Đức chẳng những không tiến công Pháp đang chờ chết hay đầu hàng, mà quái gở thay Tự Đức lại cử một phái đoàn chính thức vào Sài Gòn trước hết là để “phân ưu với Phủ súy” – chia buồn việc Pháp bại trận – sau là để dọ hỏi xem ngày tháng Pháp trả lại 6 tỉnh cho triều đình Huế. Tất nhiên là chẳng bao giờ cả.

Không cho chuộc, cũng không trả lại Huế có thể chờ, chờ đến khi Pháp vững chân ở Nam kỳ để tiến đánh ra Bắc và lấy cả nước Việt Nam làm thuộc địa.

Có Thể Tin Rằng Trong Trường Hợp Thiếu Một Giai Cấp Tư Sản, Thiếu Một Mức Độ Phát Triển Quan Hệ Tư Bản, Thì Chủ Nghĩa Yêu Nước Chân Chính, Nếu Được Phát Huy Cao Độ, Vẫn Có Thể Đưa Quốc Gia Dân Tộc Vào Hướng Duy Tân Cường Thịnh Theo Kịp Các Nước Công Thương Nghiệp Phát Triển Tây Phương, Ở Việt Nam Thời Nguyễn, Đặc Biệt Là Thời Thiệu Trị, Tự Đức, Ý Thức Dân Tộc, Tinh Thần Yêu Nước Bị Suy Thoái, Suy Thoái Từ Trước Đó Suốt Thời Gian Phân Liệt Nội Chiến, Chưa Kể Rằng Giáo Dục Chính Thống, Làm Mất Nhiều Tinh Thần Thượng Võ Truyền Thống Của Dân Tộc Việt Nam…

7. Ngoan cố thủ cựu, cự tuyệt duy tân tránh sao khỏi mất nước?

Người Nho học biết rằng từ ngữ “duy tân” đã sớm xuất hiện từ thời nhà Chu bên Trung Quốc. Nhưng về chính trị, Nho học không dạy “nhật nhật tân” mà dạy “pháp tiên vương”. Vua Thiệu Trị của thời nhà Nguyễn, Việt Nam hằng tuyên dương “pháp tiên vương” (làm theo các vua trước) là một nguyên lý tự đạo. Ở Việt Nam, dân học Nho từ lâu đời, nhưng hình như từ ngữ “duy tân”, “cách tân” mãi đến hiện đại, dưới thời Pháp chiếm đóng Nam kỳ mới có người dùng ít nhiều. “Duy tân” đối lập với “thủ cựu”, một đàng là đổi mới, một đàng là giữ cũ.

Vào cuối triều Nguyễn nổi lên ở Việt Nam cuộc đấu tranh tư tưởng và chính trị giữa phe chủ chiến và phe chủ hòa, giữa khuynh hướng duy tân và khuynh hướng thủ cựu, cả ở trong và ở ngoài hàng ngũ triều đình; đấu tranh rất kịch liệt. Đó là vấn đề chết sống, mất còn của nước Việt Nam đứng trước sóng gió Âu Tây đang tràn tới. Bấy giờ vấn đề lớn đặt ra cho cả dân tộc, cấp bách như lửa cháy này, chẳng những là làm sao lấy lại Nam kỳ mà còn là làm sao bảo vệ được độc lập, khôi phục được toàn vẹn lãnh thổ.

Có hai cách trả lời cho câu hỏi đó.

Có cách giải đáp của cánh người theo chủ nghĩa yêu nước truyền thống là phải kịp thời cách tân, duy tân, làm cho nước nhà mạnh lên, tiến lên theo hướng Ây Tây, trước mắt để giữ chắc phần đất còn trong tay mình, sau sẽ gặp thời khôi phục giang sơn bằng sức mạnh. Cách giải đáp thứ hai này là “duy tân”. Trái với cách giải đáp thứ nhất kia là “thủ cựu”.

Thuở đó, cánh thủ cựu đông, mạnh, chính thức của triều đình, của đa số trí thức; cánh duy tân yếu, không ai cầm cờ, không có tổ chức.

Việc đầu tiên là việc dễ? Thứ nhất là mở cảng. Mở cảng là chấm dứt chế độ bế quan tỏa cảng, mở cảng thì công thương nghiệp trong nước sẽ nảy nở phát triển, công thương nghiệp phát triển thì nước giàu chớ đâu phải hễ công thương nghiệp phát triển thì chế độ quân chủ phải mất đi đâu? Trên thực tế lịch sử Việt Nam thời Tự Đức, vấn đề duy tân hay thủ cựu, có phải là vấn đề cách mạng hay chống cách mạng không? Có phải là vấn đề thay chế độ quân chủ chuyên chế bằng chế độ cộng hòa dân chủ như bên Pháp hồi 1789-1793 không? – Không phải, mà đơn giản lắm, là vấn đề đóng cửa cảng để duy trì nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc như trước nay hay là mở cửa cảng để mua bán với các nước Á, Âu, Mỹ… cũng là để con người Việt Nam mình ai muốn đi ra ngoại quốc để học hành quan sát thì đi. Mở cửa cảng thì thuận mua vừa bán, nhà nước thu được thuế xuất nhập khẩu để làm đủ thứ việc kể cả việc xây lăng. Mở cửa cảng thì tức thời mua được nhiều loại vũ khí Âu Tây tốt hơn vũ khí cổ lỗ của ta, mướn được chuyên gia nước ngoài đóng tàu, lắp máy, đúc súng theo kỹ thuật cao hơn ta. Mở cửa cảng thì không nhọc lắm công đi tìm cũng gặp đồng minh bên ngoài tới giúp ta. Mở cửa cảng cũng là mở cửa khối óc của người mình cho khỏi cái tệ nạn Cao Bá Quát gọi là “con giun mà biết đâu là cao sâu”.

Mở cửa cảng là việc đầu tiên quan trọng nhất của chủ trương duy tân. Lợi như thế, dễ như thế, hoàn toàn không gì ràng buộc ta hết, sao triều đình không chịu làm? Cái điều mà triều đình lo sợ rằng cùng với thương lái, các giáo sĩ Thiên chúa giáo theo vào. Vua quan kỵ với đạo Thiên chúa lắm, và họ không phải có lý do nào. Lý do nổi bật nhất là: bên trong Việt Nam. Ở Nam kỳ, thời Minh Mạng, đã xảy ra cuộc binh khởi Lê Văn Khôi, một cuộc nổi loạn lớn, khó dẹp, trong đó giám mục Marchand là “quân sư” cố vấn cho Khôi. Ngay trong cuộc Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, Gia Định, Nam kỳ, vai trò của cha cố đã lộ ra quá rõ rồi. Pháp cũng không hề giấu bớt chút nào. Và ngay lúc vấn đề đóng cửa hay mở cảng được tranh cãi ở triều đình Huế thì ngoài Bắc đang diễn ra cuộc loạn của bè lũ Tạ Văn Phụng, mà bè lũ này được cha cố Tây Ban Nha ở Bắc xúi giục. Tự Đức lo sợ sự truyền giáo hơn là lo sợ phương Tây lập thương điếm. Vả lại, vua tôi triều đình Huế là những nhà thâm Nho bị đắm trong những nguyên lý lâu đời lạc hậu, bảo thủ như pháp tiên vương, nội hạ ngoại di… cho rằng ta mới là văn minh còn Tây là man rợ, nay không bằng xưa, trọng văn khinh võ, trọng nông ức thương… thì rất khó mà tán thành mở cửa cho văn minh Tây phương tư bản chủ nghĩa đi vào Đông phương.

Lực cản của những giáo điều Nho giáo lạc hậu rất lớn.

Có người, về sau muốn cắt nghĩa rằng: sở dĩ triều đình Huế cự tuyệt duy tân, kiên trì thủ cựu là vì Việt Nam thế kỷ XIX không có (hay chưa có) một giai cấp (hay một tầng lớp) tư sản dân tộc, chỉ có một số ít ỏi thương gia mà phần đông là người Hoa. Ý này không hoàn toàn sai. Đúng là giá có một tầng lớp, giai cấp tư sản dân tộc thì chủ trương mở cửa cảng sẽ được hưởng ứng mạnh. Nhưng nếu một cuộc cách mạng dân chủ cần có một giai cấp tư sản trong nước chủ trương (nói cách khác là phải trước có kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển tới mức nào đó), còn một chủ trương mở cảng giao thương không nhất thiết phải có điều kiện xã hội ấy. Bằng chứng rõ ràng là sự nghiệp duy tân của nước Nga Sa hoàng thời Piốt đại đế và của nước Nhật thời Minh Trị thiên hoàng. Có thể tin rằng trong trường hợp thiếu một giai cấp tư sản, thiếu một mức độ phát triển quan hệ tư bản, thì chủ nghĩa yêu nước chân chính, nếu được phát huy cao độ, vẫn có thể đưa quốc gia dân tộc vào hướng duy tân cường thịnh theo kịp các nước công thương nghiệp phát triển Tây phương. Ở Việt Nam thời Nguyễn, đặc biệt là thời Thiệu Trị, Tự Đức, ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước bị suy thoái, suy thoái từ trước đó suốt thời gian phân liệt nội chiến, chưa kể rằng giáo dục chính thống, làm mất nhiều tinh thần thượng võ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Việc Nhật Bản duy tân kịp thời, trở thành mạnh, đương đầu nổi với ngoại xâm, không phải là ở Huế không ai biết; có biết nhưng vua không theo gương! Năm 1867, tại kinh thành Huế, đề tài thi Hội là “Sự hiện đại hóa đã mang lợi ích gì cho Nhật Bản không?”. Nhưng đề tài rất hay đó ở kỳ thi cao nhất nước đã được hầu hết thí sinh phân tích theo hướng tiêu cực, không mấy ai xem Nhật Bản là một tấm gương, không ai quan niệm nổi một nền văn minh khác với văn minh mẫu mực Trung Quốc trước nay. Cái học của triều đình quy định là cái học Thư Kinh ngàn xưa, cái học Bắc sử, trong chương trình học và thi không hề có môn khoa học kỹ thuật nào cả, kể cả môn số học sơ đẳng. Tuyệt đại đa số các sĩ phu không được bước chân ra ngoài nước mình. Nếu có đại thần được đi Tây Âu thì đại thần ấy ngợp mắt khen ngợi người Tây Âu giỏi hơn cả quỷ thần!

Một ít người nghe thấy, học hỏi ở nước ngoài, tỏ ý muốn triều đình Huế thức tỉnh, canh tân để cho đất nước sống còn. Nguyễn Trường Tộ là một. Ông Tộ dâng lên một bản điều trần khá chí lý, làm theo hướng đó thì cứu nguy được. Bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ được dâng lên năm 1860, tám năm trước kỷ nguyên Minh Trị thiên hoàng Nhật Bản. Vua Tự Đức không nghe, lấy lẽ rằng ông Tộ là tín đồ Thiên chúa giáo. Sau ông Tộ còn mấy người nữa dâng điều trần. Vua cứ không nghe! Phạm Phú Thứ đi Tây Ban Nha về, xin vua lập trường dạy tiếng nước ngoài, xin mở ngành khoáng sản, vua vẫn không nghe. Đình thần Lê Định xin đặt lãnh sự quán ở Hương Cảng. Vua làm thinh. Nhiều quan to xúm nhau xin triều đình mở 3 cảng, chỉ 3 cảng thôi, Đà Nẵng, Ba Lạt, Đồ Sơn. Lần này Tự Đức đồng ý họp đình nghị cho các đình thần thảo luận, song cuối cùng, hội nghị cao cấp thấy mở 3 cảng thì có 5 điều lợi mà có đến 8 điều hại, lợi bất cập hại, nên không mở cảng nào!

Có rước thầy Tây qua dạy kỹ thuật được ít tháng, thấy phải trả lương cao, sợ tốn, nên thôi, trả thầy về nước! Có cho người xuất dương học nghề, ít lâu, thấy học chẳng ra nghề ngỗng gì, thôi về! Đành chịu thuyền buồm và súng lòng láng châm ngòi. Tại thiếu tiền? Không phải! Tại người mình bất tài? Cũng không phải! Vậy tại sao? Tại đầu óc bảo thủ.

Từ 1862, Huế có hơn 10 năm để duy tân, cùng lúc hay là sớm hơn Nhật Bản; nhưng chẳng chịu làm gì để kéo Việt Nam ra khỏi cảnh suy tàn sắp mất.

(Xem tiếp kỳ sau)

Gs. Trần Văn Giàu
(Tiếp theo số báo 454, ngày 15-6-2017)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 455

Ý Kiến bạn đọc


Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Luận về những nguyên nhân Việt Nam mất nước về tay Pháp

Phần 1

Lts: Trong Tác Phẩm “Chống Xâm Lăng – Lịch Sử Việt Nam Từ 1858 Đến 1898” Của Mình, Gs. Trần Văn Giàu Đã Viết: “Tôi Vốn Không Là Một Nhà Sử Học. Tôi Chỉ Là Người Học Sử”. Ông Khiêm Tốn Như Vậy, Nhưng Ai Cũng Biết Ông Là Thầy Của Những Người Thầy Đang Giảng Dạy Môn Lịch Sử. Trong Lúc Có Nhiều Ý Kiến Khác Nhau Về Nguyên Nhân Để Mất Nước Của Triều Nguyễn, Ông Đã Viết Bài “Luận Về Những Nguyên Nhân Việt Nam Mất Nước Về Tay Pháp”. Bài Viết Này, VớI Cái Nhìn Của Một Nhà Cách Mạng Lão Thành Cộng Với Tính Khách Quan, Khoa Học, Ông Đã Tiếp Tục Cập Nhật, Hệ Thống Nhiều Cứ Liệu Mới Cả Trong Và Ngoài Nước. Hiện Nay Cũng Đang Có “Vấn Đề Nóng” Trong Việc Đánh Giá Về Chúa Nguyễn, Triều Nguyễn, Về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… Của Một Số Người Nhằm Hướng Đến “Những Nhận Thức Mới Về Lịch Sử”. Chúng Tôi Giới Thiệu Lại Bài Viết Này Để Bạn Đọc Nghiên Cứu Tham Khảo. 

1. Tình trạng phân liệt, phân tranh, nội chiến kéo dài từ giữa thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVIII đã làm suy thoái ý thức dân tộc và tư tưởng yêu nước truyền thống Việt Nam

Nước Việt Nam mất vào tay Pháp ở thời vua Tự Đức triều Nguyễn, thế kỷ XIX, thì tất nhiên ta tìm nguyên nhân mất nước ở thời Tự Đức, hay rộng ra ở triều Nguyễn. Phải thôi, nhưng e rằng không đủ. Nguyên nhân ở triều Nguyễn là những nguyên nhân gần. Còn có nguyên nhân xa không? Lịch sử dạy rằng các thế hệ đi trước có thể để lại cho các thế hệ sau nhiều thành tựu quý giá, mà cũng có thể để lại những hậu quả đen tối; quý giá hay đen tối đều phải gánh cả, hay thì nhờ, dở thì chịu. Đoàn kết, chiến thắng từ Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi là những gương sáng cho cả dân tộc đoàn kết chặt chẽ hơn, chiến thắng lớn hơn. Nhưng sau đó đã có mấy khoảng thời gian lịch sử đen tối kéo dài, ảnh hưởng tiêu cực mãi đến thời cuộc chiến tranh Pháp – Việt nửa sau thế kỷ XIX.

Khoảng tối ấy là thời kỳ phân liệt, phân tranh, nội chiến từ giữa thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVIII. Trong thời gian này, quốc gia Việt Nam tồn tại gần như chỉ về hình thức, mà thực tế thì có Nam triều và Bắc triều, rồi có nhà nước họ Trịnh, nhà nước họ Nguyễn, nhà nước Tây Sơn, tuy rằng Trịnh – Nguyễn, Tây Sơn đều tự nhận là Đại Việt cả. Tình trạng phân liệt, phân tranh, nội chiến trong một quốc gia dưới chế độ phong kiến là thường sự, ở đâu cũng có, lắm khi, lắm nơi phân liệt, phân tranh, nội chiến còn lâu dài và dữ dội hơn ở Việt Nam nữa kia. Song vấn đề là cuộc phân liệt, phân tranh ở Việt Nam ở thế kỷ XVII, XVIII đã đem lại tai họa mất nước ta về tay thực dân Pháp trong ngót một thế kỷ. Không phải là Pháp thừa cuộc phân tranh đó để đưa quân vào Việt Nam xâm chiếm nước ta tựa như ta đã mấy lần thừa cuộc phân liệt, phân tranh, nội chiến ở Bắc quốc để nổi dậy giành độc lập dân tộc, mà cuộc xâm lược của Pháp sở dĩ thắng lợi tương đối dễ dàng vì thời kỳ phân liệt, phân tranh, nội chiến lâu dài ở thế kỷ XVII, XVIII đã làm suy thoái nặng ý thức dân tộc, suy thoái nặng tư tưởng yêu nước truyền thống Việt Nam. Kể cả ý thức tư tưởng của những nhà cầm đầu họ Nguyễn Đàng Trong, họ Trịnh Đàng Ngoài.

Thời kỳ Nam Bắc triều dài 60 năm, Nam Bắc đánh nhau 36 trận lớn. Chiến tranh Nam Bắc triều chưa chấm dứt hẳn thì nổ ra chiến tranh giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong. Hai bên đọ sức với nhau trong 7 chiến dịch, mỗi chiến dịch có nhiều trận đánh. Thiệt hại về người nhiều hơn là chiến tranh Nam Bắc triều 60 năm. Trong thời gian chiến tranh Đàng Ngoài, Đàng Trong thì có chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn. Tây Sơn lại tiến quân ra Bắc đánh chúa Trịnh. Rồi cuối cùng là cuộc chiến tranh giữa nhà Nguyễn với triều đình Nguyễn Quang Toản mới dựng mà đã suy. Trong thời gian phân tranh dài hai thế kỷ rưỡi, có hai lần quân Việt Nam đánh thắng quân nước ngoài vào Việt Nam giở trò can thiệp. Lần thứ nhất Nguyễn Huệ đánh tan 3 vạn quân Xiêm Nguyễn Ánh rước vào để chiếm lại Gia Định và Nam kỳ lục tỉnh. Trận đánh này diễn ra tại Rạch Gầm, Tiền Giang, chỉ trong vòng nửa buổi sáng, quân địch bị tiêu diệt hoàn toàn. Lần thứ hai là trận Đống Đa, ở Bắc, Nguyễn Huệ từ Phú Xuân ra, đánh tan 25 vạn quân Thanh do vua tôi Lê Chiêu Thống rước vào. Trận Đống Đa diễn ra liên tục song chỉ trong 5 ngày đêm, bắt đầu từ Giao thừa và chấm dứt thắng lợi đúng ngày khai hạ. Cả hai trận chiến thắng Rạch Gầm, Đống Đa đều là chớp nhoáng, thắng hoàn toàn, ảnh hưởng về sau trong lịch sử dân tộc hết sức lớn; nhưng đương thời thì tiếng dội trong tâm tư của dân không tương xứng, không dựng lại được khí phách anh hùng lịch sử truyền thống Việt Nam như sau Bạch Đằng, Chi Lăng. Nhân dân, sĩ khí chưa đủ thời giờ để khôi phục trên cả nước thì đồng bào Việt Nam thương tiếc Quang Trung – Nguyễn Huệ băng hà quá sớm. Người Việt Nam tự hỏi vậy vua Gia Long, triều Nguyễn, dù đánh bại Quang Toản, sẽ có thể hay không có thể đem lại cường thịnh lâu dài cho quốc gia dân tộc này được thống nhất trở lại sau hai thế kỷ rưỡi phân tranh?

Lien-quan-Phap---Tay-Ban-Nha-danh-Da-nang-ngay-1-9-1958
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh Đà Nẵng ngày 1-9-1858 – Ảnh: báo Le Monde Illustré – Nguồn Internet

Triều Nguyễn từ vua đến đại thần chắc cũng nhận thấy hiện tượng suy yếu của ý thức dân tộc do sự phân tranh nội chiến kéo dài, ngay ở trong bản thân dòng họ Nguyễn, nên sau thống nhất đã ra sức làm một số việc lớn, rất lớn, để khôi phục ý thức dân tộc như xây dựng một bộ máy chính trị tập trung thống nhất mạnh nhất trước nay từ Nam chí Bắc, như biên soạn quốc sử Việt Nam toàn bộ để người Việt Nam đỡ lệ thuộc vào Bắc sử trong học hành, để người Việt Nam đánh giá đúng hơn về bản lĩnh của dân tộc mình. Nhưng ở đây nhà Nguyễn đụng phải những cái vướng mắc. Chính chúa Nguyễn là kẻ xướng ra, tạo nên cái gọi là sấm Trạng Trình “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân”. Triều đại Nguyễn là triều đại Việt Nam, gần như duy nhất, được dựng lên không phải từ một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, mà bằng một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn rất dài và khốc liệt. Để kết thúc cái thời huynh đệ tương tàn khốc liệt ấy, vua Gia Long lên ngôi đã trả thù cho dòng họ mình bằng những cực hình nào? Đối với các nhân vật anh hùng thời Tây Sơn, không ai quên được, đối với những người đã lập kỳ công ở Rạch Gầm, Đống Đa để bảo vệ nước nhà. Trong cặp mắt và trái tim của phe phái chúa Nguyễn, dường như thù nhà là trước tiên còn nợ nước là phụ thuộc. Cho nên các vua Nguyễn mà chỉ đạo trực tiếp việc biên tập quốc sử lịch sử Việt Nam là một chuỗi dài các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập nước nhà, thì sao tránh khỏi đánh giá lệch lạc, sai lầm những nhân vật, những sự kiện vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam. Các vua Nguyễn trực tiếp hướng dẫn sử quan. Các sử quan lãnh trách nhiệm của vua là phải tôn vinh nhà Nguyễn, phải xem những chuyện hoang đường vô lý là sự thật lịch sử, như chuyện chúa tôi Nguyễn Ánh bị đánh bại trôi dạt ngoài biển lâu ngày hết nước uống. Nguyễn Ánh cầu trời thì tức thời trời làm nước ngọt hiện ra giữa biển, hay như chuyện Nguyễn Ánh qua sông Đằng, thuyền chìm, sắp chết đuối, thì liền có cá sấu nổi lên chở qua sông… Các sử quan ấy, một số nào thôi, lại vâng theo cách Tự Đức đánh giá các anh hùng dân tộc, như:

- Cho rằng “Ngô Quyền không tài cán gì, sở dĩ thắng trận Bạch Đằng vì Nam Hán nhỏ thôi, vì Hoằng Thao chỉ là một thằng hèn, chớ nếu gặp phải tay Trần Bá Tiên mà bảo rằng Ngô Quyền không phải theo gót Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương thì ít có lắm”.

- Cho rằng “Trần Hưng Đạo thắng quân Nguyên cũng là may thôi, may là những tướng nhà Nguyên gởi sang đánh nước ta không phải là những tướng giỏi! Lúc đầu nhà Trần may mà gặp Thoát Hoan nhà Nguyên, lúc cuối nhà Trần không may gặp phải Trương Phụ nhà Minh”.

- Cho rằng “20 vạn quân Thanh bị đánh tan tành tại Đống Đa, Thăng Long, không phải tại Nguyễn Huệ tài cao, quân sĩ ta giỏi mà tại vận nhà Lê đã hết”.

- Trước giờ, lịch sử Việt Nam chép rằng ở Tốt Động, quân của Bình Định vương Lê Lợi đánh thắng quân Minh 10 lần đông hơn, thì Tự Đức cho rằng “lời lẽ khoe khoang, không đủ tin là có chứng cớ chính xác”.

Chú trọng việc biên soạn quốc sử là một trong mấy điểm son của nhà Nguyễn, nhưng viết sử với quan điểm của nhà vua như vừa kể trên thì quốc sử mất bớt biết bao nhiêu tác dụng giáo dục tư tưởng yêu nước, ý thức dân tộc đang lúc cần phải được phục hồi để đối đầu với kẻ xâm lược thực dân Âu Tây đang rập rình trước ngõ. Chẳng những triều Nguyễn không biết dùng quốc sử để phục hồi và phát triển ý thức dân tộc bị suy thoái vì phân liệt và nội chiến quá lâu dài, mà còn giữ mãi cái học, cái thi lạc hậu theo nho giáo Bắc phương, giữ mãi cái học theo tứ thư ngũ kinh, theo lịch sử Hạ, Thương, Chu, Hán, Đường, Tống, cho nên tinh thần thủ cựu, xưa hơn nay, ngự trị khắp chốn chẳng những ở vua mà cả ở quan và ở dân nữa, mà vào thế kỷ XIX, bảo thủ là con đường chết.

2. Nhà Nguyễn được sự thống nhất đất nước mà mất lòng dân

Trong cuộc nội chiến dài hơn hai thế kỷ, nhà Nguyễn là phe chiến thắng cuối cùng. Năm 1802, Nguyễn Ánh 1ên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long; 1804, đổi quốc hiệu là Việt Nam (như trước), rồi Minh Mạng đổi lại là Đại Nam đóng đô ở Huế. Ngay sau khi vào Thăng Long, Nguyễn Ánh sai sứ sang nước Thanh cầu phong. Năm 1804, nhà Thanh sai sứ sang Thăng Long tuyên phong Gia Long là An Nam quốc vương, đòi cống nạp 3 năm một lần, 200 lạng vàng, 1.000 lạng bạc, các báu vật, An Nam quốc vương xem nhà Thanh là “Thiên thỉnh thị Bắc Kinh”. Vả lại, sau Đống Đa thì nhà Thanh đã ê răng lắm rồi. Hơn nữa, lúc này Trung Quốc lo ngại các nước Âu Tây đang tràn vào Đông Á nhắm thị trường Trung Quốc làm mục tiêu chính. Nhà Thanh phải lo tự vệ, nước Việt Nam có thể bớt chú ý nhiều đến ý đồ dai dẳng của ông láng giềng phương Bắc. Xem chừng như ở mặt đó, triều đình Huế có thể an tâm lo việc nội trị.

Về nội trị thì triều đình Nguyễn hết sức chú trọng tổ chức một bộ máy chính quyền tập trung có hiệu quả hơn bất kỳ một triều đình nào trước đó. Nhà vua không còn phân phong cho bất kỳ ai dù là hoàng thân quốc thích hay đại công thần đã lập được kỳ công; và ở bất cứ nơi nào cũng không một đại thần nào được phép có lực lượng vũ trang riêng. Ngay cả hai chức tổng trấn Bắc thành và tổng trấn Gia Định thành dưới thời Gia Long (mỗi vị thống trị nhiều tỉnh) cũng sẽ bị Minh Mạng bãi bỏ, để tất cả các tỉnh đều thuộc chính quyền trung ương duy nhất ở Huế. Chẳng phải là chỉ ở đồng bằng, mà cả ở các miền rừng núi cũng vậy. Ở vùng rừng núi, ở vùng các dân tộc thiểu số, triều đình tuy phải dựa vào các tù trưởng để cai trị nhưng Huế còn đặt các “chiêu thảo sứ” hay là “lưu quan” để vừa bớt quyền của tù trưởng vừa kiểm soát các việc lớn trong vùng. Không có trung gian nào giữa các tỉnh, các vùng dân tộc thiểu số với bộ lạc miền xuôi miền ngược như nhau. Từ Lạng Sơn đến Hà Tiên, tất cả đều quy về một mối. Nước Việt Nam rộng lớn xưa nay không lúc nào bằng lúc này, và việc quản trị cả nước không lúc nào chặt chẽ bằng lúc này. Báo cáo từ các tỉnh lên, chỉ thị từ triều xuống được kịp thời và thường xuyên với một hệ thống trạm liên lạc bằng lưng ngựa.

Giang sơn thống nhất, chính quyền duy nhất. Như vậy thì triều đình Nguyễn bền vững lắm rồi chớ gì? Nhưng không phải vậy, triều Nguyễn được cái thống nhất đất nước mà mất lòng dân không thời nào hơn. Có thể lấy số cuộc khởi nghĩa làm thước đo xem triều đình Nguyễn mất lòng dân đến mức độ nào trong lúc các nước thực dân Tây Âu tràn qua châu Á từ Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương. Triều Nguyễn tồn tại dài chưa đến 100 năm mà chứng kiến ngoài 400 cuộc khởi nghĩa.

Đời Gia Long 33 cuộc.

Đời Minh Mạng 234 cuộc.

Đời Thiệu Trị (chỉ 7 năm) 58 cuộc.

Đời Tự Đức (chỉ tính đến năm 1862, nghĩa là trước khi Pháp chiếm 3 tỉnh Đông Nam kỳ) 40 cuộc.

Vì sao có quá nhiều cuộc nổi dậy vũ trang chống triều đình như vậy? Chính sử sách của triều đình Nguyễn ghi lại phần nào tình trạng cơ hàn thống khổ của nhân dân. Nơi nơi dân làng mất đất, đông đảo bị lưu tán, tiếng kêu than đều khắp; vua không thèm nghe. Năm 1803, mới một năm sau khi Gia Long lên ngôi, quan tổng trấn Bắc thành dâng sớ lên tâu báo tình trạng đó thì vua phán rằng: “Dân lười biếng không biết giữ lấy ruộng để mà cày”.

Năm 1816, Gia Long nói với đại thần Phạm Đăng Hưng về tục quân điền:

“Đời xưa chia ruộng và định sản nghiệp, việc ấy xem như là hay; nhưng nghĩ bọn du thủ du thực trao ruộng cho cũng không chịu làm, rồi cũng bán cho người khác thôi. Nay muốn ngăn cấm việc thôn tính mà lấy ra chia đều, chỉ thêm nhiễu dân mà thôi. Trẫm nghĩ rốt cuộc không làm được”.

Năm 1836, đời Minh Mạng, quan tổng đốc Bình Phú Vũ Xuân Cẩn dâng sớ tâu: Ở Bình Định, do phú hào chiếm đoạt, ruộng công chỉ còn 6.000 mẫu mà ruộng tư thì đến 7.000 mẫu. Cẩn xin để lại cho mỗi địa chủ 5 mẫu làm ruộng tư, còn lại bao nhiêu quân cấp cho dân. Thì vua phê:

“Tư điền thế nghiệp đã lâu, sổ sách đã thành, nay vô cớ cắt huyết mạch của người ta, không phải là điều yên ổn của nhân dân, một phen cải cách, đổi mới, chưa thấy lợi mà thành nhiễu sự”.

Sách Thực lục chép:

“Những năm đói, nhà nước mở kho cho vay lúa. Nhưng người nào có ruộng mới được vay, còn ai không có ruộng thì không được vay. Đình thần có người hỏi: Không có ruộng, không được vay, làm sao sống? Thì triều đình trả lời: Cho người có ruộng vay thì giá gạo xuống, dân không ruộng cũng được nhờ, còn nhà nước thì khỏi lo mất lúa cho vay”.

Bình luận làm gì nữa? Triều đình Nguyễn là chính quyền của địa chủ, bị nông dân nghèo oán ghét là vậy. Tai họa thiên nhiên nhiều, nắng hạn, đê vỡ; đê Văn Giang liên tiếp vỡ hàng chục năm, triều đình bó tay, hay lo “cứu chữa” bằng cách bày lễ lớn cho vua lễ trời, ăn chay vài hôm, làm vài bài thơ “tự cửu”, “sám hối” xem như đã tròn trách nhiệm, rồi cứ tiếp tục xây lăng tẩm, cung điện.

Một triều đình mà trong vòng chỉ 60 năm bị ngoài 400 cuộc khởi nghĩa, trung bình một năm 7 cuộc (được ghi chép vào lịch sử) là một triều đình chỉ kiên cố ở những thành quách nhưng lại mục nát ở trong nhân dân. Một khi đất nước bị ngoại bang xâm lăng thì sức đâu chống trả được khi các thành xây theo kiểu Vauban từ thời Nguyễn Ánh – Gia Long không có cái nào bị đại bác địch tấn công mà đứng vững tròn một buổi sáng.

3. Nhà Nguyễn mắc chứng bệnh di căn, cầu viện quân sự nước ngoài

Trong tất cả các cuộc chiến tranh giải phóng hay chiến tranh bảo vệ độc lập, dù phải đối đầu với kẻ địch lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần, dân tộc Việt Nam bao giờ cũng tự lực, tự cường; nhờ biết tự lực, tự cường mà chiến thắng vẻ vang, ý thức dân tộc đã cao lại thêm cao, tinh thần chiến đấu đã mạnh lại thêm mạnh, độc lập tự chủ được giữ vững. Nhưng thời kỳ phân liệt, phân tranh, nội chiến quá dài đã tác động tiêu cực đến ý thức dân tộc, làm lu mờ cái nghĩa đồng bào, và quan trọng là làm nảy sinh ra một chứng bệnh xưa nay chưa từng có trong nước ta là cái ý, cái thói, cái chứng cầu viện quân sự của ngoại bang để giải quyết tranh chấp nội bộ. Một thứ bệnh nguy hiểm mà lãnh đạo của các phe phong kiến ở Bắc, ở Nam đều mắc phải. Vì lợi ích cá nhân, lợi ích bè phái, tông tộc, họ đều phạm tội “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về giày mả tổ”.

Họ Mạc của Bắc triều cầu viện vua Thanh để chống vua Lê, chỉ được nhà Thanh hứa suông chứ thực tế không được gì cả. Đã không được viện trợ thực tế gì cả mà còn phải chịu mất nhiều “động” cho sáp nhập vào Quảng Tây, Quảng Đông. Đặc biệt nghiêm trọng là mất danh dự dân tộc khi ở buổi lễ trên biên giới họ Mạc nộp sổ đinh, sổ điền cho Lưu Bá Ôn; hôm đó họ Mạc phải tự trói mình bằng lụa quanh cổ và phải đi chân đất đến quỳ lạy đại diện của triều đình Thanh. Nhục khó tưởng tượng nổi! Rồi họ Mạc cũng sớm sụp đổ thôi!

Họ Nguyễn ở Đàng Trong bị Tây Sơn đánh đuổi, chạy vào cực Nam, xiêu bạt qua Xiêm, còn ỷ cầu viện Xiêm, không rõ trả giá thế nào mà được Xiêm giúp cho số quân 3 vạn (có sách nói là 6 vạn). Quân Xiêm và tàn quân Nguyễn Ánh đổ bộ lên Hà Tiên, vượt Hậu Giang để tiến lên Gia Định, vừa qua sông Tiền xong thì liền bị quân của Nguyễn Huệ mới vào tới, kịp thời tiêu diệt hoàn toàn trong trận Rạch Gầm chỉ trong vòng nửa buổi sáng! Kiên trì với ý định cầu viện quân sự ngoại bang, sau khi viện binh Xiêm đã toàn bại, Nguyễn Ánh tiếp tục thương thuyết với hầu hết các nước Âu Tây bấy giờ có mặt ở Đông Nam Á, qua các công ty thương mại, các thương tín, các tô giới của họ rải rác ở Nam Hải và Ấn Độ Dương; Anh, Hà, Pháp, Bồ Đào Nha. Ăn khách nhất là đoàn giáo sĩ Pháp do giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) dẫn đầu. Ông Pigneau từ khá lâu đã hoạt động truyền giáo cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, thông thạo tiếng Việt Nam, biết con người và xã hội Việt Nam. Không rõ Nguyễn Ánh có đức cả tin như thế nào, tới mức nào (phù hợp với ý đồ kín đáo của Hội truyền giáo Paris), mà Ánh trọn giao cho Bá Đa Lộc nhiệm vụ và quyền hạn thay mặt cho mình đi về Pháp điều đình và ký kết hiệp ước xin viện trợ quân sự nhằm giành lại ngôi vàng cho nhà Nguyễn ở Đàng Trong. Bá Đa Lộc về Pháp, trong tay có ấn tín của nhà Nguyễn, lại có Đông cung Cảnh (mới lên 5 tuổi) làm con tin. Cùng theo Bá Đa Lộc không có một đại thần nào cả, song có một bức thư nói là của “Hội đồng hoàng gia” gởi cho nhà vua Pháp. Bức thư này, ở Pháp lúc bấy giờ, không một ai tin là của Hội đồng hoàng gia, tất cả đều cho rằng do chính Bá Đa Lộc. Ở Paris, Hiệp ước Versailles được ký kết: Vua Pháp cam kết viện trợ quân sự cho Nguyễn Ánh; Nguyễn Ánh (do Bá Đa Lộc đại diện) cam kết cắt Đà Nẵng và Côn Lôn cho Pháp. Hiệp ước Versailles ký chưa ráo mực thì chính quyền Versailles chỉ thị cho viên Toàn quyền Pháp ở Pondichéry được phép thi hành hay không thì tùy ý, tùy tình hình.

Thầy trò Bá Đa Lộc trở lại Viễn Đông với tờ hiệp ước bị Toàn quyền Pondichéry từ chối thi hành. Bá Đa Lộc không chịu xấu hổ về gặp Nguyễn Ánh với hai bàn tay trắng. Với sự ủng hộ của Toàn quyền Pondichéry, sự ủng hộ của các công ty tư bản Pháp ở Ấn Độ Dương, ông ra sức chiêu mộ nhiều sĩ quan và chuyên viên kỹ thuật Pháp, làm nghề đánh thuê, mua góp một số vũ khí và một số tàu về cho Nguyễn Ánh rày đã tự lực lấy lại được Gia Định nhờ thừa lúc Nguyễn Huệ bận việc đưa đại quân ra Bắc đánh quân Thanh xâm lược, còn ở lục tỉnh thì Nguyễn Lữ bất tài cả về quân sự và chính trị.

Như vậy, Nguyễn Ánh là nhân vật vừa mang tâm địa cầu viện vừa biết tự lực, tự cường, nắm thời cơ. Bá Đa Lộc là một vị giám mục đa mưu túc trí, vũ dũng nữa, khi này thì đeo cây thánh giá để khi khác giấu cây thánh giá trong áo thụng để tuốt kiếm ở chiến trường. Ông và các sĩ quan Pháp đã từng tham gia nhiều trận đánh, đã giúp Nguyễn Ánh xây thành lũy, đóng chiến thuyền, luyện quân. Chẳng may sau một chiến dịch lớn ở Nam Trung bộ, ông mắc bệnh qua đời mà chưa thực hiện được mộng vàng ôm ấp lâu nay. Mộng vàng ấy chắc chưa phải là đưa nước Việt Nam về làm thuộc địa của Pháp, mộng vàng ấy có thể mới là theo kinh nghiệm của lịch sử cận đông cổ đại, nếu đưa được lên ngai vàng một tín đồ Thiên chúa giáo thì đạo Chúa có điều kiện tốt nhất để nhanh chóng trở thành tín ngưỡng của đa số dân. Làm giám mục mà không có cái mộng vàng ấy thì mới là lạ. Chẳng may Bá Đa Lộc và Đông cung Cảnh đều mất sớm trước khi Nguyễn Ánh toàn thắng. Người thời ấy nhận xét: “Ông giám mục Bá Đa Lộc đã 10 năm phục vụ trong bộ tham mưu của nhà vua, đóng một vai cố vấn, một người chỉ đạo kỹ thuật, ông có quyết tâm chống Tây Sơn chẳng kém gì Nguyễn Ánh”. Cùng hoạt động với giám mục Bá Đa Lộc, theo lời của A. Faure, có 398 người Pháp; theo lời của Vannier, có 94 sĩ quan và kỹ sư quân nhân. Sử gia Taboulet nhận xét rằng “người Pháp tuy số lượng ít nhưng đóng vai trò hạt nhân, tham mưu, truyền dạy khoa học phương Tây, do đó họ có vai trò quyết định trong các cuộc hành quân”. Taboulet nói quá, nhưng đúng là sĩ quan Pháp đã giúp nhiều cho Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn. Cho nên trong triều đình Huế, đến khi Gia Long lên ngôi, vẫn còn thấy mấy quan đại thần mắt xanh tóc đỏ. Khỏi phải nói trắng ra, các quan đại thần đó như Dayot, Chaigneau, Vannier… đều là tai mắt của Paris. Còn Paris thì các nhà cầm quyền từ đệ nhất đế chế đến đệ tam cộng hòa đều không lúc nào quên Hiệp ước Versailles 1787. Paris luôn nhắc nhở Huế cái hiệp ước “trời cho” ấy bằng đường ngoại giao và bằng đại bác của chiến hạm bắn lên Đà Nẵng.

Cầu viện Pháp, Hiệp ước Versailles đã tạo thành một “nghiệp chướng” cho triều đình Nguyễn.

Truyện Kim Vân Kiều có câu thơ: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, thì đừng trách lẫn trời gần hay xa”. Thực dân, không mời nó cũng đến, huống gì cầu thỉnh nó? Xin viện trợ quân sự ở nước ngoài, bệnh ấy, cuối thời Nguyễn sẽ tái diễn. Tự Đức yêu cầu nhà Thanh viện trợ để đuổi quân Pháp, nào dè Thanh – Pháp tính chia nhau đất Bắc của Việt Nam.

4. Triều đình không dự kiến cuộc Tây phương xâm lăng; không chuẩn bị sẵn sàng bảo vệ độc lập dân tộc

Ở thời cổ thì “Đông là Đông, Tây là Tây”. Châu Á và châu Âu cùng một lục địa nhưng Á – Âu liên lạc với nhau hết sức khó. Đến năm 1497, nhà thám hiểm Vasco de Gama đi đường biển từ Tây Âu vòng Nam Phi châu, từ Đại Tây Dương sang Ấn Độ Dương, sang Thái Bình Dương. Tiếp theo, Bồ Đào Nha đổ bộ lên Ấn Độ rồi đi đến Trung Quốc. Thương thuyền Tây phương sang Viễn Đông càng lúc càng nhiều, trong thuyền có vừa hàng hóa vừa giáo sĩ. Cùng thương gia, có thương gia người Hà, người Anh, người Pháp, người Tây, người Bồ, họ đua nhau đến thị trường mới lạ.

Thế kỷ XVII, XVIII và cả đầu thế kỷ XIX, không có người phương Đông nào, không có người Việt Nam nào biết vì sao người phương Tây đó qua phương Đông như vậy; các cụ túc nho bảo rằng họ làm như vậy vì họ “bản tính mạo hiểm”, còn ta, người Việt Nam, cả người Trung Quốc thì luẩn quẩn bên hè! Không một ai, hay rất ít ai hiểu rằng ở phương Tây kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, nền kinh tế công thương nghiệp đòi hỏi họ tìm thị trường rộng hơn để mua bán kiếm lời, từ đó mới sinh ra các đợt thám hiểm, và từ đó mới sinh ra chủ nghĩa thực dân xâm chiếm thuộc địa. Các hội truyền giáo ở Tây phương nhờ các công ty thương mại luôn thể chở giáo sĩ; một công hai việc; càng vào thế kỷ XIX thì chủ nghĩa thực dân phương Tây càng hiện rõ nguyên hình.

Chỉ có những người mù quáng mới không trông thấy sự bành trướng xâm lược của tư bản Tây phương qua Đông phương. Nhà Nguyễn ở Đàng Trong càng thấy rõ hơn nhà Trịnh ở Đàng Ngoài. Nhà Nguyễn bị Tây Sơn đánh bại đã tìm đến các công ty tư bản Tây phương ở Nam Hải để xin viện trợ quân sự. Và khi Nguyễn Ánh sang Xiêm để xin Xiêm viện trợ 30.000 quân thì Nguyễn Ánh không thể không biết có lẫn quân Pháp đóng trên đất Xiêm, chiếm căn cứ Jôngsơlăng đã bị Xiêm đánh đuổi vì hành động xâm lược.

Ấy thế mà đầu óc của triều đình Nguyễn, cả vua lẫn quan mãi cho đến giữa thế kỷ XIX vẫn không thấy rõ cái nguy cơ xâm lược của các nước Tây phương mới lạ chớ! Lập luận của triều đình Nguyễn là không có nguy cơ xâm lược của Tây phương. Vì sao? Vì Tây phương, như Pháp chẳng hạn, ở xa Đông phương lắm, xa Việt Nam lắm; họ không có cạnh nhà ta như nhà Tống, nhà Minh, nhà Thanh. Họ lấy nước ta, cắt đất ta để làm gì; họ chỉ cần mấy thẻo đất để lập thương điểm mua bán kiếm lời và để truyền đạo, nhiều lắm là gây chiến tranh để chiến thắng rồi đòi tiền bồi thường nặng! Mãi cho quân Pháp đánh chiếm Gia Định rồi vua tôi Tự Đức vẫn còn lập luận như vậy!

Lập luận này hàm các ý nghĩa rằng chỉ có Trung Quốc là nguy cơ xâm lăng như xưa nay, mà nay thì nhà Thanh sau Đống Đa, không đáng lo sợ lắm, Huế có thể yên tâm!

Cho nên triều đình Huế lơ là với việc chuẩn bị để có thể luôn luôn sẵn sàng đối phó với một cuộc xâm lược bất kỳ từ đâu đến. “Luôn luôn sẵn sàng bảo vệ độc lập chống xâm lăng” là một trong những nguyên lý của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, triều đình Nguyễn bỏ quên mất hay là không chú trọng đến. Có, triều đình Huế có chú trọng việc phòng thủ nhưng chủ yếu là phòng thủ chống các cuộc nổi dậy của nhân dân. Hàng chục thành quách được xây dựng theo kiểu Vauban của Pháp tại nhiều tỉnh Nam, Trung, Bắc dưới thời Gia Long, Minh Mạng, thật sự chỉ chống lại được các cuộc khởi nghĩa của nông dân (Trừ cuộc binh khởi Lê Văn Khôi, tướng làm phản của triều đình, thì nông dân khởi nghĩa không khi nào chiếm nổi một thành lũy Vauban, nhưng khi Pháp đánh Việt Nam thì các thành lũy Vauban không cái nào không bị thất thủ trong vòng một buổi sáng).

Nói cho thật đúng thì triều đình Nguyễn cũng lo tổ chức quân đội và số quân tại ngũ không bao giờ quá thiếu. Sử ghi rằng năm 1820, khi Gia Long băng hà, quân đội đông tới số 160.000. Minh Mạng cầm quyền thì quân lực lớn hơn, nhưng với quân lực lớn hơn đó, Minh Mạng đã làm một việc hết sức vô chính trị là đi xâm lược Miên, Lào láng giềng, đáng lẽ phải cùng Miên, Lào kết thân ái làm phên giậu cho nhau trong lúc kẻ cướp Tây phương rình mò ngoài cửa. Đến thời Tự Đức, nhà vua thi sĩ này cũng không bỏ quên võ bị; triều đình đặt thêm các ngạch hương binh, dân dũng, thổ dũng, cốt để trị an hơn là để chống ngoại xâm. Quân số không bao giờ thiếu song trang bị cho quân đội nhằm chống nội loạn hơn là chống xâm lăng, vũ khí thì thừa để đánh dẹp nhân dân khởi nghĩa nhưng lại cực kỳ thô sơ so với vũ khí của các nước Tây phương.

Vũ khí kém, tinh thần quân lính càng kém. Đình thần Phạm Phú Thứ thêm: “Quân sĩ hèn nhát do chưởng quan bất tài và vô quyền. Binh sĩ nhiều người không lương bổng, phải tìm cách giúp đỡ nhau, chứ không mong gì đến gạo trong kho”.

Triều đình không tiếc vàng bạc để xây lăng đồ sộ, xây dựng cung điện nguy nga nhất trong lịch sử Việt Nam mà không chịu bỏ tiền mua súng đạn các tàu buôn nước ngoài đem tới nài bán.

Như vậy, nếu chính quyền Huế có sẵn sàng chiến đấu là sẵn sàng chiến đấu chống khởi nghĩa của nhân dân nước mình, chớ không có gì là sẵn sàng chiến đấu chống xâm lược ngoại bang. Ngoại bang đó là nước nào? Triều đình Huế đáng lẽ phải biết trước rằng nước Pháp là kẻ sẽ xâm lăng Việt Nam, nhất là từ khi Paris đã nhắc nhở Huế việc thi hành Hiệp ước Versailles 1787. Nhưng triều đình Huế vẫn cho rằng Pháp ở xa Việt Nam quá nên không đánh lấy nước ta để làm gì; nghĩ sai như thế cho nên, trong khi Pháp biết rõ Việt Nam yếu mạnh thế nào nhờ đã có quan đại thần ở ngay trong triều đình Huế và đang có nhiều giáo sĩ hoạt động từ lâu ở Việt Nam, thì triều đình Huế không biết gì về nước Pháp, không biết lịch sử và văn hóa của nó, không biết nó mạnh ở đâu để mà chuẩn bị đề phòng, không biết nó yếu ở đâu để mà tìm cách lợi dụng. Xưa nay, bất kỳ ở đâu, trong các cuộc đối đầu giữa các nước, biết rõ, thật rõ đối phương là một điều kiện để chiến thắng, để không bại; biết rõ đối phương thì yếu có thể thắng mạnh, không biết gì rõ về đối phương thì mạnh có thể bị đánh bại. Ở đầu và giữa thế lỷ XIX, triều đình Huế không biết gì về Tây phương nói chung, về nước Pháp nói riêng, thì làm sao có cách chuẩn bị sẵn sàng để đối đầu với Pháp xâm lăng? Mãi đến khi đại bác Pháp nổ vào Đà Nẵng thì Huế mới bắt đầu thức tỉnh.

(Xem tiếp kỳ sau)

GS. Trần Văn Giàu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 454

Ý Kiến bạn đọc