Tản văn

Lớp đặc biệt

(Nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II)

 

Thấm thoát đã 35 năm, kể từ ngày chúng tôi ra trường; nỗi nhớ trường, nhớ lớp, nhớ bạn, bao nhiêu kỷ niệm thời hoa đỏ lại hiện về…

Ngày nhập trường, lúc đó đất nước mới thống nhất nên đối tượng sinh viên đi học rất phong phú, đa dạng. Trúng tuyển vào đại học, ngoài các bạn học sinh phổ thông ra còn có rất nhiều các anh chị và thậm chí là các “cô” “chú” đeo quân hàm xanh, đỏ. Họ là Bộ đội, Công an vũ trang sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nay trở về, bước vào giảng đường đại học. Có trường hợp họ vẫn biên chế trong lực lượng vũ trang và được gửi vào trường đại học để nâng cao kiến thức; học xong lại trở về quân ngũ. Ngoài ra còn các anh chị là cán bộ trong ngành Giáo dục vốn đang là thầy, cô giáo được cử đi học để nâng cao trình độ.

So-528--Xuan---Pham-Hoang-Thuan-Nhan
ThS, Giảng viên chính – Nguyễn Thị Ngọc Lan

Lứa chúng tôi là sinh viên khóa 4 (1978 – 1982), Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II, thị trấn Xuân Hòa, Hà Nội. Cả khóa có 4 lớp (A, B, C, D), riêng lớp B của chúng tôi được khoa “ưu ái” đưa ra làm thí điểm trong công tác tổ chức. Thầy “Tổ chức khoa” vốn là chú bộ đội mới từ chiến trường miền Nam (đi B) ra nên rất “Bôn”. Không hiểu vì lý do gì lại nghĩ ra một “sáng kiến” được cho là rất “kỳ”, đó là xây dựng lớp “Ba đảm đang”. Một trăm phần trăm là nữ. Tổng số lớp là 32 bạn, đa số sinh viên là học sinh phổ thông thi vào, chênh nhau vài ba tuổi, thuộc các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc bộ, trong đó có một chị là bộ đội xuất ngũ, một chị là cán bộ đi học người dân tộc Thái, thuộc tỉnh Sơn La. Có người nói: Mục đích hình thành lớp B là để tránh bớt rắc rối trong sinh hoạt và học tập (thời ấy chuyện yêu đương còn bị dò xét tương đối nghiêm ngặt). Ai hẹn hò với bạn trai trên khu đồi Thằn Lằn hoặc trên khu lớp học Uniseps mà bị Ban Quản lý hay Đội Bảo vệ của trường bắt được thì phải làm bản kiểm điểm, bị phạt, nhẹ thì cảnh cáo, nặng hơn ắt sẽ bị kỷ luật. Người ta có câu “không quản được thì cấm”, cho nên khoa đã tổ chức một lớp chỉ toàn “nếp” là “nếp” mà không có “tẻ”. Lớp toàn con gái, cứ như là trung đội nữ Thanh niên xung phong tham gia chiến trường đánh Mỹ. Có ai đó bảo lớp bạn giống như tổ đội sản xuất trong Nhà máy dệt Minh Phương Việt Trì, Vĩnh Phú ấy, cẩn thận kẻo “ê sắc ế” chồng đấy! Lớp tôi có hai lớp trưởng, “cầm quân” điều hành các “nữ binh, nữ tướng”. Năm thứ nhất và thứ hai là chị Minh Thu, quê Thái Bình, sau 3 năm hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Hai năm cuối khóa là chị Hoàng Nhẫn, người Nam Định cầm quân tiếp tục, chèo lái lớp cho đến khi ra trường. Cả lớp toàn con cháu Bà Trưng, Bà Triệu nên rất đoàn kết, thương yêu nhau một lòng một dạ, nhất nhất nghe theo sự điều hành của các chị lớp trưởng, dưới sự chỉ đạo của khoa và trường. Ai cũng bảo lớp tôi hiền, ngoan và dễ bảo, các hoạt động của khoa như: văn nghệ, quân sự, lao động công ích, đi học, đi thực tế, thực tập sư phạm… chúng tôi đều chăm chỉ và tham gia đầy đủ. Chả thế sau mấy chục năm, lần đầu họp lớp, chị em gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi, ôm lấy nhau, nước mắt cứ tuôn trào, toàn kỷ niệm đẹp thi nhau gọi về. Kỷ niệm nhớ nhất là đi lao động đào “Phòng tuyến phía Bắc Thủ đô” đầu năm 1979. Khi đó, khắp cả nước sôi sục không khí chống quân Bành Trướng. Còn nhớ em Mỹ Học là sinh viên năm thứ nhất, một cô gái dân tộc Dao, hát bài “Đôi mắt mang hình viên đạn” được huy chương vàng trong cuộc thi Văn nghệ các trường Đại học khu vực phía Bắc có câu: “Từng đôi mắt mang hình viên đạn, từng đôi mắt sáng lên, cháy lên mang hình viên đạn, từng đôi mắt quê hương, mang theo đoàn quân, người chiến sĩ, hãy giữ lấy”. Lúc ấy chúng tôi đang là sinh viên năm thứ 2, cùng các lớp khóa 4 hừng hực khí thế tham gia đi đào phòng tuyến trên núi Sóc Sơn, Bộ Chỉ huy Quân sự khoán số lượng mét khối giao thông hào phải đào theo lớp, 4 lớp có số lượng ngang nhau; họ cứ giao cho lớp toàn nữ phải nhận khối lượng công việc bằng lớp có nam giới. Chúng tôi muốn tỏ rõ rằng lớp toàn nữ sẽ chẳng thua kém gì lớp có nam giới, sau một tuần cố gắng, thời tiết lại quá khắc nghiệt lúc mưa lúc nắng. Mấy ngày đầu chúng tôi cũng hăng hái lắm, cũng đào hào, cuốc, xúc, hì hục. Hai bàn tay học trò đỏ rát, phồng rộp, chảy nước vàng. Kết quả là số lượng giao thông hào đào được trong một tuần đã hoàn thành, nhưng “yếu trâu còn hơn khỏe bò” chị em đều kiệt sức và ốm nhiều. Trước nguy cơ trên, Bộ Chỉ huy Quân sự Đào phòng tuyến buộc phải họp khẩn cấp và ra quyết định tạm chia lớp B ra làm ba và đầu quân vào các lớp A, C, D để hỗ trợ nhau hoàn thành kế hoạch trên giao. Kết thúc đợt lao động trên, để đánh giá sự cố gắng, lớp tôi cũng được vài bằng khen và mấy giấy khen của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Thế mới biết các cụ ta nói chẳng sai: “Có nam có nữ mới nên xuân”. Cho đến hôm nay chẳng ai khẳng định “nếp” là trai hay gái và ngược lại “tẻ” là gái hay trai. Chỉ biết rằng nếu thiếu 1 trong 2 thứ ấy thì đều không ổn lắm. Vì biết thân biết phận nên chị em chúng tôi rất cố gắng để không bị coi là thiếu và lệch trong mọi công việc. Chẳng hạn khi tham gia Xemina, năm thứ nhất đóng trích đoạn “Thị Mầu lên chùa” ở học phần Văn học dân gian, Thị Mầu thì khỏi lo vì đã có rất nhiều nữ, nhưng tìm người đóng vai chú tiểu do lớp không có nam, bạn Minh Nguyệt lớp phó học tập phải giả trai đóng thế. Năm thứ hai, môn Văn học Trung Quốc phải diễn trích một đoạn trong tác phẩm “Tây Sương ký”, có ba vai cần đóng là Thôi Oanh Oanh, Trương Quân Thụy và cô hầu gái Hồng Nương. Vấn đề cần là thiếu nam để đóng vai Trương Quân Thụy; lại bạn Nguyệt cũng phải vào vai. Vở diễn ngày ấy các vai diễn đều thành công, có vai được đánh giá xuất sắc, được nhiều khán giả và thầy cô khen. Lại nhớ, khi tham gia cắm trại và làm báo tường nhân ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 26/3, mọi người đều ngạc nhiên vì chúng tôi được nhận hai giải kép: Trang trí Trại và Báo tường đều được giải nhì trường, giải nhất khoa. Thế mà trước đó có lời dèm pha rằng lớp toàn nữ thì làm được gì? Chắc các bạn ấy nhờ sinh viên Đại học Kiến trúc – trường hàng xóm cận kề vẽ giúp, sau đó điều tra ra không phải, toàn là “họa sĩ” lớp tôi cả, thật tự hào đâu phải cứ có con trai mới làm được! Lại nói chuyện học quân sự năm thứ 2, cuối đợt phải thi bắn đạn thật. Chúng tôi kháo nhau hãy đến đọc thông báo trên bảng tin của trường: “Sáng thứ hai, nhà trường đưa sinh viên năm thứ hai, khoa Văn ra đồi Thanh Tước để bắn đạn thật”. Nghe thôi đã thấy khiếp! Kết quả không ngờ, lớp nữ nhưng số điểm đạt kết quả loại khá, giỏi rất nhiều, thậm chí còn hơn cả một số lớp có các bạn nam… Ôi, thật là biết bao kỷ niệm, chẳng giấy bút nào kể hết…

Thời gian trôi đi nhanh quá, sau bao năm ra trường, những nữ sinh lớp B, khoa Văn ấy đã trưởng thành, nay đã về hưu. Tuy nhiên, điểm lại đa số các thành viên đều giữ vững chiến hào, đứng trên bục giảng, luôn yêu nghề “Trăm năm trồng người”. Một số người có năng lực đã làm quản lý, giữ chức hiệu trưởng, hiệu phó trường trung học phổ thông, trung học cơ sở, luôn phấn đấu là giáo viên giỏi các cấp trường, tỉnh, thành phố. Nhiều chị là giảng viên khá, giỏi các trường trung cấp nghề, cao đẳng sư phạm, được bạn bè đồng nghiệp nể trọng, học trò kính yêu và tôn quí…

Do hoàn cảnh, có bạn đã chuyển ngành khác như: Ban Tuyên giáo Trung ương; Nhà báo, Ngân hàng Trung ương và giữ trọng trách cao như: Thường vụ Tỉnh ủy, Phó ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Chánh Văn phòng Sở Nội vụ; Doanh nghiệp có uy tín trên thương trường… Tuy vậy, họ luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là Chuyên viên chính, Giảng viên chính; Chuyên viên cao cấp trong các ngành từ Trung ương đến địa phương.

Hôm nay, chúng tôi đã lên chức ông bà rồi nhưng những hình ảnh, kỷ niệm về một lớp B “đặc biệt” BA ĐẢM ĐANG ấy luôn là niềm tự hào trong mỗi chúng tôi.

Hà Nội, tháng 5/2018

ThS, Giảng viên chính – Nguyễn Thị Ngọc Lan
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 528

Ý Kiến bạn đọc