Người tốt - Việc tốt

Lòng nhân ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết phải nói về lòng nhân ái nồng thắm của Người.

Hồ Chí Minh là một con người rất dễ xúc động, biết thương người và biết suy nghĩ. Ngay từ thuở còn bé, Người đã biết ưu tư, khiến cho cha cũng phải ngạc nhiên. Vào kinh thành Huế – nơi vua ở, Người hỏi cha rằng: “Con tưởng chỉ có ở quê mới có người nghèo khổ. Sao ở đây, nói vua ở mà người nghèo vẫn đầy rẫy thế hở cha?”.

Một lần, trên đường đi mua sách học, Người thấy có hai đứa bé gái cũng trạc tuổi mình đang ở trần, đứng bên vệ đường, mong đợi một cái gì đó ở người qua lại, Người hỏi cha:

- Cha ơi! Cha có còn đồng tiền lẻ nào không?

- Con muốn mua cái chi nào? – Cha hỏi lại.

Người đáp:

- Không, con không mua chi, mà chỉ để cho hai chị em cô bé nghèo xơ nghèo xác kia!

Với một thân hình nhỏ nhắn, nhưng Hồ Chí Minh có sẵn một trái tim rất lớn. Đó là một hạt giống tốt, chờ ngày mọc thành cây mạnh mẽ.

So-523--Long-nhan-ai-cua-Chu-tich-Ho-Chi-Minh---Anh-1
Đại biểu dự Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt phấn khởi chúc mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh
được bầu làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận Liên Việt (3/1951). (Ảnh tư liệu).

Nhìn thấy đất nước đang ngột ngạt dưới bàn tay áp bức tàn bạo của bọn thực dân. Nhìn thấy cảnh dân nghèo biểu tình đòi giảm sưu cao thuế nặng, Hồ Chí Minh không thể không đau lòng. Người sớm nung nấu một ý định táo bạo, lớn lao, vượt qua sức mình. Người nói với anh mình rằng:

- Chắc chắn em sẽ thôi học để đi theo một hướng khác.

- Hướng nào? – Anh Khiêm hỏi lại.

- Cũng chưa biết rõ. Nhưng em sẽ đi.

Và Người đi vào phương Nam, nơi có vẻ chân trời còn rộng, còn có thể vẫy vùng. Trên đường đi, Người ghé thăm cha đang làm quan thất sủng ở một huyện vùng sâu của tỉnh Bình Định. Giật mình khi gặp con, cha hỏi:

- Con đi đâu đây?

- Thưa cha! Con ghé thăm cha để rồi đi tiếp vào Phan Thiết, như lời cha dặn…

- Thế thì được! Chứ lẽo đẽo theo cha là điều vô ích đấy, con ạ!

Hồ Chí Minh như một ngọn đèn đi trong mưa gió. Đường thì xa mù mịt mà mưa gió không ngừng. Phải làm sao cho dầu đừng cạn, mưa gió đừng tắt ngọn đèn. Đó là một bài toán khó. Nếu tin theo chiêm tinh học thì có lẽ Hồ Chí Minh có mạng đế vương, mặc dù Người ghét làm vua. Suốt đời, Người chỉ muốn làm đầy tớ của dân mà thôi. Nhưng đây là một người đầy tớ đặc biệt, vừa tài giỏi vừa trung thành, vừa thông minh vừa gan dạ. Không có khó khăn nào làm nao núng được Hồ Chí Minh. Không có thế lực nào làm nhụt chí được Hồ Chí Minh. Không có danh vọng nào lung lay, mua chuộc được Hồ Chí Minh. Từ lúc ra đi tìm đường cứu nước đến lúc từ giã cõi đời, Hồ Chí Minh cũng vẫn chỉ có hai bàn tay trắng không chút bợn nhơ. Điều đó cho thấy chất thép được tôi luyện kỹ đến bực nào, để được toàn dân và cả thế giới tôn thờ như bây giờ.

Hồ Chí Minh dừng chân ở Phan Thiết một thời gian để chuẩn bị kỹ càng mọi thứ trước đi khi tiếp vào Sài Gòn, vì Sài Gòn mới là đích đến cuối cùng để Người bôn ba hải ngoại, ở đó có hải cảng, có tàu viễn dương, có quan hệ quốc tế sôi động, có nhiều thông tin mà Người cần biết.

Hồ Chí Minh may mắn và hạnh phúc vì có một người cha mẫu mực, một người mẹ tần tảo, yêu chồng, thương con. Cha của Người bao giờ cũng nghĩ đến vận nước, không màng danh lợi. Cụ từ quan sớm và vào Cao Lãnh, thuộc tỉnh Đồng Tháp ngày nay, chuyển làm nghề bốc thuốc giúp dân nghèo, trong đầu lúc nào cũng vương vấn một dấu hỏi: Làm sao cứu dân, cứu nước?

So-523--Long-nhan-ai-cua-Chu-tich-Ho-Chi-Minh---Anh-2
Các cháu thiếu niên tặng hoa Chủ tịch Hồ Chí Minh ( 20/2/1961). (Ảnh tư liệu).

Cho nên, năm 1957, khi Bác vào thăm tỉnh Quảng Bình, Người xúc động nói với đồng chí Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác):

- Mẹ mình mất ở Huế.

Bố mất ở Cao Lãnh.

Quê mình còn mãi trong kia.

Hôm nay mới đến đây thôi, cũng là chưa “đi tới nơi, về tới chốn!”.

Tôi có quen với một vị hòa thượng, Sư cụ bảo rằng ở đền thờ cụ Phó Bảng, người cha thân yêu của Bác, còn lưu giữ hai câu đối. 

Tôi hỏi Sư cụ, câu đối có hay không? Sư cụ đáp:

- Rằng hay thì thật là hay

Nghe ra, ngậm đắng nuốt cay thế nào!

Tôi hỏi: “Sao vậy?”.

Sư cụ liền đọc cho tôi nghe hai câu đối ấy như sau:

“Thiền gia giáo dưỡng, qui mao thuộc thụ đầu phong
Đại đạo quảng khai, thố giác khiêu đàm để nguyệt.

Nghĩa là: Muốn cứu nước mà chỉ lo tụng kinh gõ mõ thì chỉ là không tưởng, cũng như buộc gió trên ngọn cây bằng lông rùa, khêu trăng đáy vực bằng sừng thỏ vậy.

Cụ Phó Bảng không nhằm xúc phạm những kẻ tu hành, chỉ nhắc nhở một cách mạnh mẽ thế thôi, để ai nấy đừng quên nước đang bị cướp, dân đang bị xiềng xích, cần phải có hành động tích cực hơn.

Thực tế, trong các cuộc kháng chiến oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược vừa qua, không hiếm những nhà sư “xếp áo cà sa, khoác chiến bào” và không ít những ngôi chùa yêu nước đã chở che đắc lực cho lực lượng cách mạng ngay trong lòng địch. Lòng từ bi tích cực của các nhà sư đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung.

Thì ra, ngay từ tấm bé, Hồ Chí Minh đã được cha uốn nắn cho nên người, cho đáng mặt một công dân ưu tú trước cảnh nước nhà bị cướp quyền độc lập, nhân dân phải làm nô lệ cho quân cướp nước.

Ngọn đèn Hồ Chí Minh tuy bé nhỏ, nhưng gió mưa không thể làm tắt được, mà dầu là lòng yêu nước nồng nàn và bền vững của Người, nguồn dầu ấy sẽ không bao giờ vơi cạn, khi mà trái tim Hồ Chí Minh vẫn còn đập. Trái tim ấy mãi mãi sẽ đập vì hạnh phúc, vì ước muốn của con người, nhất là người lao động lép vế, bị chà đạp, bóc lột quá bất công và tàn nhẫn. Thật vậy, rất hiếm những người như Hồ Chí Minh, trước sau một mực, kiên nhẫn phi thường với quyết tâm phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, hết lòng giúp đỡ bạn bè trên thế giới.

Tính kiên bền của Hồ Chí Minh được thể hiện ở mọi lúc mọi nơi. Trước hết là sự ham học hỏi và làm việc có phương pháp. Biết rằng muốn nuôi chí lớn thì phải có kiến thức, học hành, cho nên Hồ Chí Minh rất say mê ghi chép, quan sát, nghiên cứu. Làm việc gì Hồ Chí Minh cũng quyết tâm nhưng không nóng vội và lại không bỏ cuộc. Khi mới xuống tàu viễn dương, Hồ Chí Minh làm xong công việc thì ngồi vào ghi chép. Trong khi các bạn lao động khác thì bù khú với nhau, kẻ thì uống rượu, người thì đánh bạc để quên sầu. Khi sang Anh sinh sống, Hồ Chí Minh ghi cả chữ Anh lên tay để vừa làm vừa nhẩm.

Ở Pháp thì Hồ Chí Minh làm đủ mọi nghề để kiếm sống, nhưng tối lại, Người năng tới các câu lạc bộ có tiếng, ở đó, nhiều nhân vật có tên tuổi hay lui tới; Người quan sát, lắng nghe và học được rất nhiều. Trong số đó, một người nổi bật là văn hào Pháp Henri Barbusse – một cây bút cách mạng, viết rất hay và có tinh thần chiến đấu rất cao. Vì thế, từ một người vốn hiểu biết hạn hẹp, Hồ Chí Minh sáng dần lên thành một ngôi sao sáng trên bầu trời châu Âu. Từ một vốn liếng tiếng Pháp ít thôi, Hồ Chí Minh đã tập viết không ngừng và trở thành một nhà báo lớn. Ở Pháp, nhiều người từng được trông thấy trên báo chí một tấm ảnh rất tiêu biểu, ghép ảnh các nhân vật nổi tiếng trên thế giới thành dòng chữ: “Họ đã làm nên thế kỷ hai mươi” (Ils Ont Faient le XXè Siècle), trong đó có ảnh của Hồ Chí Minh.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 523

Ý Kiến bạn đọc