Tản văn

Lớn lên từ nếp nhà

Giằng co, Trăn trở

Những ngày cuối tháng 4-1975, không khí trong trường tôi nhuốm đầy sự bất an. Mà nào chỉ trong ngôi trường nhỏ này, cả thành phố ngoài kia cũng đang xáo xác, bấn loạn. Mỗi ngày, tin tức cứ dồn dập, tỉnh này thất thủ, tỉnh kia tháo chạy, nơi nào cũng loạn cuồng như bầy ong vỡ tổ, bảo sao không lo lắng, phập phồng. Hôm nào vào trường cũng nghe Việt cộng sắp vào rồi, biết chạy đâu đây? Thậm chí một vài đồng nghiệp không hiểu “thần hồn nát thần tính” hay sao cứ mở miệng ra là hù dọa. Mấy cô, mấy bà coi chừng, VC vào họ rút hết móng tay móng chân sơn xanh, sơn đỏ của mấy bà đó. Phụ nữ tô son trét phấn không được đâu! Nghe mà rùng mình. Hai mươi bảy tuổi, ra trường đi dạy mới ba bốn năm, chồng con hạnh phúc, tương lai phơi phới, ai ngờ có lúc biến động, cuộc sống đảo lộn như thế này. Chồng tôi lại là sĩ quan biệt phái nữa (thầy giáo bị động viên vào lính rồi về dạy lại). Nhiều người bạn của chồng tôi đã di tản, bằng máy bay hay bằng tàu gì đó. Ngày nào cũng thấy cánh đàn ông tụ lại, thầm thì có vẻ rất nghiêm trọng. Nghe loáng thoáng hình như họ bàn chuyện đi, ở. Nhưng chồng tôi là con một, làm sao đi. Còn gia đình tôi nữa, mẹ đã già, hai thằng em chưa nên thân, con lại còn nhỏ, ý niệm ra xứ người chưa bao giờ có trong đầu. Dù thế nào cũng phải ở lại thôi. Vậy là mỗi ngày trôi qua cứ sống trong lo sợ, phập phồng. Biết cách mạng về rồi mình còn đi dạy được không? Những người chiến thắng rồi có “trả thù” không? Sự “đổi dời” như cơn bão lốc kia sẽ cuốn qua nơi này ra sao? Cứ nghĩ tới những điều đó là chuyện đi, ở cứ giằng co, ray rứt trong lòng. Không chỉ vào những ngày tháng này mà suốt những năm đầu sau giải phóng, niềm trăn trở ấy vẫn trở về trong lúc khó khăn, thắt ngặt khiến tôi cứ quay quắt, băn khoăn. Liệu mình ở lại đây có đúng không? Biết bao bạn bè mình đã ra đi, họ có yên ổn ở xứ người không? Sao mình không để anh ấy đi để sau này khỏi khổ thân?… Bao nhiêu là nỗi dằn vặt, bứt xé trong những ngày đất trời như đảo lộn ấy.

Những bước thăng trầm

Tôi đứng trên bục giảng, miệng đọc rào rào những câu thơ Kiều của Nguyễn Du mà bụng đói, chân run. Ổ bánh mì không lãnh ở công đoàn mỗi buổi sáng đã dành đổi ra tiền ở xe bánh mì đầu ngõ rồi. Chút đỉnh tiền bánh cho hai đứa nhỏ đang tuổi ăn tuổi lớn mà. Vậy nên hôm nào ba mẹ chúng cũng chỉ ly cà phê đen dằn bụng thôi. Những năm đầu sau giải phóng, cuộc sống sao khó khăn vậy. Gạo phát từng tháng, vài tuần được chia miếng thịt, miếng mỡ, Tết nhất kì kèo nhau mảnh vải may áo, may quần… Xưa giờ sống trong khá giả, chỉ lo ăn học rồi ra làm việc, lãnh lương, tôi chưa hề sống trong cảnh bon chen nhục nhã như vầy, nhất là với một đứa mơ mộng lãng mạn như tôi… Đúng là sự đời sao như lời thơ Nguyễn Du tôi đang dạy:

Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được
phần thanh cao…

Dù sao cũng mừng là mình còn được ở lại mái trường này, nơi tôi đã học tập và được trở lại làm thầy. Mừng là chồng tôi sau thời gian học tập đã được trở về tiếp tục làm việc, gia đình vẫn bên nhau. Nhưng sao mà tôi căm ghét cái nghèo, cái khó những ngày này dù biết cái nghèo khó ấy không chỉ riêng mình. Con đi học, mỗi lần đến kì đóng tiền trường phải rụt rè “Mẹ lãnh lương chưa?”. Lên mâm cơm, hai đứa nhỏ chỉ ăn rón rén, chờ ba mẹ ăn xong còn bao nhiêu là vét hết. Con cái càng ngoan ngoãn, lòng ba mẹ càng xót xa. Xưa giờ cả hai vợ chồng chỉ biết cầm cục phấn, cây viết giờ phải xây chuồng trước nhà nuôi heo, nuôi dê để nghe hàng xóm cằn nhằn “nuôi heo sát nhà hôi thối quá! Dê gì cứ kêu be… be… hoài!”. Nhẫn nhục qua ngày mà đêm đêm nằm xuống nước mắt cứ ứa ra. Ngày vắt mấy xị sữa dê bỏ mối các quán cà phê, chạy đôn chạy đáo nên chồng tôi phải xin hưu non về lo việc nhà. “Một đứa đi dạy để giữ nếp nhà cho con là đủ rồi. Phải có người hi sinh lo kinh tế thôi”.

Hằng mấy năm trời, hết lấy cặn nuôi heo rồi đến lấy xác đậu nành nuôi dê. Nhưng rồi chuồng heo cuối cùng phải dẹp để khỏi phiền lòng hàng xóm. Nhờ nhà sát con rạch nên có thể xây chuồng dưới mé rạch phát triển đàn dê vừa lấy thịt vừa bán sữa. Thằng con trai mới học lớp 6 phải tối tối đạp xe lên bến sông chở so đũa về cho dê ăn, cố phớt lờ mọi lời trêu chọc của bạn bè. Đứa con gái lớn ngày ngày trộn cám với xác đậu nành cho dê ăn và tiếp lo cơm nước. Nhìn con, tôi cứ nghĩ về tuổi thơ vô tư, hồn nhiên của mình mà xót xa trong lòng.

Khi chủ trương thoáng hơn một chút, nhiều bạn bè bung ra làm ăn, rủ rê tôi bỏ nghề. “Dạy học lương ba cọc ba đồng, lấy gì ăn. Mày từng biết cái nghèo kéo theo cái khổ, cái hèn mà. Bỏ đi, ra ngoài làm kinh tế kiếm tiền lo cho con…”. Đúng là nhiều đứa bạn vừa rời bục giảng làm ăn có vẻ khấm khá hẳn, chỉ một thời gian ngắn đã mua đất cất nhà, tiền bạc rủng rỉnh khiến tôi nhiều lúc lung lay trước sự quyến rũ kia. Giờ nghĩ lại không biết lúc đó vì nhát gan hay vì lấn cấn học trò mà mình không đi. Đi dạy từ những năm 1970, học trò với tôi là niềm vui mỗi ngày. Rồi sau giải phóng, có lúc viên phấn trong tay nặng trịch, tấm bảng đen trước mặt chao đảo, rung rinh nhưng ánh mắt đám học trò bên dưới vẫn cứ quấn quýt, vấn vương.

Còn nhớ những đêm cô giáo chủ nhiệm vào trực trường, tôi thường đến kiểm tra chúng. Có lần đi gần đến cổng đã thấy mấy đứa ra đứng đón. “Má mình sao giờ này chưa tới vậy ta”. Ừ, mấy đứa vẫn gọi tôi như vậy. “Má mình”! Thân thiết và ấm lòng biết bao. Rồi cô trò gom lá khô trong sân trường lại, đốt lên đống lửa, ngồi chuyện trò. Những đêm như vậy giúp tôi hiểu thêm về hoàn cảnh từng đứa để nhận ra rằng tụi nó còn khó khăn, thắt ngặt biết mấy dù lúc nào cũng nghịch phá như quỷ. Các em như những cánh lá trong sân trường, lá vàng khô rụng xuống đã mọc lên lớp lớp lá xanh. Những cánh lá cứ cuộn lấy tim tôi, êm ả mà quyện chặt không thể tách rời, giúp tôi đủ sức để bước qua cái đói, cái nhục mà đứng lại trên bục giảng dù lắm khi phải ray rứt, giằng xé trước những đảo điên, những nghịch lý trong đời thường. Má tôi cả đời đi dạy, khi về hưu năm 1973 hưởng lương hưu còn hơn tiền lương tôi đang làm việc. Vậy mà… Sau 1975, tất cả bị xóa sạch, phải bán của để dành sống lây lất qua ngày. Mấy đứa con cũng lương ba cọc ba đồng, lo thân mình còn chưa xong. Má không than thở gì, sợ con lo nhưng tôi biết bà rất buồn. Tôi vẫn nhớ như in cái ngày má dẫn tôi vào đứng trước “Niệm sư từ” trong khuôn viên trường nữ tiểu học tỉnh lỵ, ngôi trường duy nhất dành cho các bé gái ngày xưa, nơi má tôi vừa dạy học vừa làm hiệu trưởng suốt mấy chục năm. Như tên gọi, “Niệm sư từ” là nơi đặt bàn thờ tưởng niệm các thầy cô dạy tiểu học trong tỉnh Cần Thơ, giống như bàn thờ “Sư đạo tôn” bên trường Trung học Phan Thanh Giản lúc đó. Má kêu tôi thắp nhang trước bàn thờ rồi nói: Con thấy không, không gì đẹp đẽ, vinh dự như nghề làm thầy. Cả đời sống êm ả, được xã hội quý trọng, lại có điều kiện dạy dỗ con cái… Tôi thừa hiểu má muốn gì. Lúc đó tôi vừa đỗ tú tài, đang lựa chọn ngành vào đại học nên má muốn hướng tôi thi vào sư phạm đó mà. Thương má cả một đời lao tâm nhọc trí nuôi con bởi ba tôi mất sớm, tôi đã cố gắng theo nghiệp nhà. Vậy mà… Cuối đời má có được gì! Và “Niệm sư từ” thiêng liêng trong lòng má, giờ đã đi về đâu? Bởi sau thời mở cửa, đổi mới, cả khu đất xưa giáp với bốn mặt đường nơi từng là trường nữ tiểu học và cả ty giáo dục (sau là phòng giáo dục) cùng một trường mầm non cạnh đó nữa đã được bán trọn để xây lên một siêu thị hoành tráng, tấp nập người ra vào. Người dân xứ này đi qua có nặng lòng nhớ tiếc cảnh cũ trường xưa cũng chỉ ngậm ngùi, chắc lưỡi vậy thôi. Bởi đó là khu đất vàng mà ai cũng biết kinh doanh gì cũng sẽ “ăn nên làm ra” cả. May mà lúc người ta đập trường, đập mấy dãy phòng của ty giáo dục cũ và cuối cùng đập cả nhà “Niệm sư từ” thì má đã ra người thiên cổ rồi. Vì vậy mỗi lần đạp xe qua nơi trường học vỡ lòng của mình, tôi vừa tiếc nuối lại vừa có chút an ủi là má tôi, cô giáo trọn đời gắn bó với chốn này đã không trải qua nỗi mất mát ấy. Má đã mang hình ảnh ngôi trường thân yêu của mình đi về cõi vĩnh hằng rồi. Lần cuối cùng tôi được gặp lại hình ảnh ngôi trường là ngày má tôi mất. Trường lúc ấy vẫn còn nhưng đã đổi tên. Mấy cô giáo lớp cũ, lớp mới đã mang đến viếng người hiệu trưởng xưa một vòng hoa với dòng chữ “Trường Nữ Tiểu học tỉnh lỵ Cần Thơ kính viếng”. Vòng hoa khiến tôi cố cầm lòng mà nước mắt cứ rưng rưng. Có thấy những mái đầu gần như bạc trắng nức nở, nghẹn ngào bên linh cữu má tôi mới thấy mình dường như chưa hiểu hết về má, chưa hiểu hết cuộc đời toàn tâm toàn ý cho việc “gõ đầu trẻ” của má. Dù vậy hình ảnh má tôi đứng gắn từng tên học trò lên tấm bảng danh dự hằng tháng trước phòng hiệu trưởng hay nụ cười tươi trên môi má lúc ngồi nhâm nhi ly trà nóng cùng mấy cô giáo trong phòng giáo viên vẫn đọng mãi trong lòng để tôi gượng dậy sau những khó khăn.

Tôi về hưu năm 2004 với lòng thanh thản, nhẹ nhàng. Như người nông dân suốt đời gieo trồng trên mảnh ruộng miếng vườn của mình, cuối cùng cũng đến ngày gặt hái được thành quả. Tôi rời xa mái trường thân yêu, rất an tâm vì đã có người kế thừa, con gái lớn đã về dạy ngay ngôi trường Châu Văn Liêm này. Thằng con trai dở dang đại học lúc nhà thắt ngặt rồi cũng sống ổn định ở mảnh vườn quê… Thoát khỏi những ràng buộc công việc tôi lại có dịp trở về với sở thích viết lách, nghề tay trái của tôi từ những ngày đi học. Có điều “trải qua một cuộc bể dâu”, cây bút trong tay tôi đã cứng cáp hơn, trưởng thành hơn. Cuộc sống từng trải tuy có lúc dìm tôi vào khổ sở, đau đớn nhưng bù lại cũng đã cho tôi nhiều hạt bụi vàng để tôi có thể nhặt nhạnh từng chút, từng chút một kết thành những bông hoa của riêng mình. Tôi viết đều đặn, đạt được nhiều giải thưởng chỗ này chỗ kia nhưng tôi biết, những tác phẩm “lấp lánh” nhất của tôi vẫn là về mái trường, về cái nghề “nhất nghệ tinh…” của mình. Điều khiến tôi hạnh phúc nhất chính là lúc đạt được giải I cuộc thi “Ngôi trường trong trí nhớ” do tập san Áo Trắng tổ chức năm 2012. Tôi vui không phải vì giải thưởng mà chính vì nhân dịp đó, tôi đã được lên sân khấu kể về ngôi trường Nữ Tiểu học Tỉnh lỵ của mình, kể về những cô giáo ngày nào, trong đó có má tôi với tất cả lòng biết ơn và một chút “ngậm ngùi trường xưa”…

*

Mới đó mà đã 41 năm! Lớn lên từ một gia đình có ba, mẹ là giáo viên tôi cũng đã bước vào ngành sư phạm và trụ được hơn 30 năm trên bục giảng. Dĩ nhiên tôi không toàn tâm toàn ý cho nghề này giống như má tôi. Đã có nhiều phen lòng trí tôi chao đảo, ngả nghiêng theo những con sóng cuồn cuộn đổ vào lớp học hay những thăng trầm quay quắt của cuộc đời. May mà cuối cùng tôi đã trụ vững, đã không bỏ cuộc! Nhìn lại những ngày đã qua, tôi cảm nhận được rằng con đường đi của người trí thức trong sự “thay đổi sơn hà” này thật không dễ dàng chút nào. Nếu không có một điểm tựa vững chắc và cả sự nhẫn nại, kiên trì thực sự ta sẽ khó lòng vượt qua thử thách để đến nơi. Và… tôi lại nghĩ về đám học trò, những cánh lá trong sân trường ngày ấy, nghĩ về hình ảnh má tôi khi đứng trước “Niệm sư từ” với tất cả sự thành kính, trang nghiêm…

Nguyễn Ngọc Tuyết
(Nguyên giáo viên trường Châu Văn Liêm, TP. Cần Thơ)
* Viết cho ngày 30-4 để nhớ…
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 400

Ý Kiến bạn đọc