Truyện ngắn

Lời thề khoáng sản

Ông Biên vừa yên vị trên chiếc ghế sát cửa sổ, thì một thiếu phụ bước lên xe. Nàng nhìn quanh một lượt, rồi trỏ chiếc ghế cạnh ông, hỏi:

- Thưa bác, ghế này có ai ngồi chưa ạ?

- Chưa. Cô ngồi đi.

Thiếu phụ đặt chiếc cặp xuống gầm ghế, ngồi vào chỗ rồi làm quen:

- Bác về đâu ạ?

- Tôi đi Bắc Lâm. Còn cô?

- Cháu cũng đi Bắc Lâm ạ.

Bây giờ ông mới nhìn kỹ thiếu phụ. Nàng ngoài 30 tuổi, da trắng, mặt trái xoan, mắt đen, mũi thẳng và đặc biệt cái miệng luôn như cười. Chợt ông thấy nàng quen quá. Ông cố nhớ nàng là ai, nhưng không thể. Thiếu phụ lại hỏi:

- Bác có gia đình ở Bắc Lâm ạ?

- Không, tôi đi thăm con, cháu. Nhà tôi ở tận Thái Bình, cô ạ.

Thiếu phụ “Dạ… dạ…”, rồi kể về mình:

- Cháu lên Bắc Lâm thăm bà ngoại. Bà sống với cậu mợ cháu ở đó. Cứ vài ba tháng mà chưa thấy cháu lên, bà lại gọi điện hỏi: “Con Minh còn nhớ bà không đới?”. Thế là cháu phải tức tốc lên ngay. Bác ạ, trong mắt bà, thì cháu là đứa thiệt thòi nhất, nên bà rất thương. Hồi cháu mới mấy tháng tuổi, mẹ cháu làm việc ở một đội địa chất, đơn vị nay đây mai đó, không thể mang con nhỏ theo được, nên mẹ phải gửi cháu lại cho bà. Bà cháu kể, hồi ấy không sẵn đường, sữa như bây giờ, bà phải nhai cơm nát ra bón cho cháu. Vậy mà cháu cứ lớn như thổi, khỏe mạnh và ngoan. Lâu lâu mẹ cháu mới về thăm con. Có lần cháu không theo, mẹ cháu tủi thân, thút thít khóc… Lớn lên, cháu theo học về viễn thông, ra trường được điều động về làm việc ở Bưu điện Bờ Hồ, rồi lấy chồng. Thế là bà cháu xa nhau…

Doi-ca---Nguyen-Sy-Ngoc
Đổi ca – Sơn dầu – Hs Nguyễn Sỹ Ngọc

Ông Biên chợt nghĩ, cái cô Hà Nội này đến là cởi mở. Người ta bảo, người thành phố bây giờ sống kín lắm. Họ chỉ nghe chuyện người khác, chứ không hé chuyện mình với ai. Vậy mà lần đầu gặp nhau trên xe, cô nàng đã kể tuồn tuột chuyện nhà mình…

Thiếu phụ nói tiếp:

- Cháu còn muốn lên tận Cao Bình nữa cơ. Nghe bà cháu kể về Cao Bình, cháu cứ tưởng tượng nơi đó như là chốn bồng lai tiên cảnh vậy.

Nghe mấy tiếng “bà cháu kể về Cao Bình”, ông hỏi:

- Thế bà cháu trước ở Cao Bình à?

- Vâng ạ. Ông bà cháu, rồi đến mẹ và cậu cháu nữa, đã từng sống ở Cao Bình. Ông cháu mất ở đó khi mẹ và cậu cháu còn nhỏ. Bác có biết Cao Bình không ạ?

- Bác có biết. Vậy cho bác hỏi, bà cháu tên là gì?

- Dạ, bà cháu tên là Thái ạ.

- À… – Ông Biên bật lên tiếng kêu khẽ.

Ông nhận ra có lẽ người phụ nữ này là con của Hạnh. Mà cô gái có khuôn mặt giống Hạnh thật, thảo nào nãy giờ ông cứ ngờ ngợ. Sau mấy giây sửng sốt, ông trấn tĩnh lại:

- Thế có phải mẹ cháu tên là Hạnh, cậu cháu là Tuấn. Đúng chưa?

- Đúng ạ! Ô, nhưng mà…?

- Thế bây giờ bố mẹ cháu sống ở đâu?

- Dạ, bố mẹ cháu cũng ở Hà Nội ạ.

- Vậy thì tốt rồi. Bác mừng cho bố mẹ cháu.

*

Thấy ông là người quen cũ của gia đình, thiếu phụ càng phấn chấn hơn. Nàng ngỏ lời:

- Bác ơi! May cho cháu quá. Từ lâu cháu rất muốn biết về Cao Bình, nơi đã sinh ra mẹ cháu, nhưng tiếc là chính mẹ cháu cũng không hiểu nhiều về nó. Vậy bác có thể kể cho cháu nghe đôi nét về nơi này, được không ạ?

Ông nhìn thiếu phụ, cười hiền từ:

- Được, để bác kể cháu nghe.

Ông hắng giọng, chậm rãi:

- Cao Bình là đỉnh một ngọn núi. Chắc cháu sẽ hỏi, sao đã “Cao” lại còn “Bình”, đúng không? Bác nói luôn nhá: “Cao”, vì nơi đây chênh hơn 1.000 mét so mặt biển, còn “Bình” vì ở đó, tức trên đỉnh ngọn Cao Bình, độ dốc không lớn, hàng nghìn người thời Pháp thuộc từng sống ở đây. Trên đỉnh Cao Bình hầu như quanh năm có sương mù bao phủ. Từ xa nhìn về đỉnh Cao Bình, ta thấy nó tựa như một người khổng lồ, đầu đội chiếc mũ bông trắng muốt, chạm tới tận trời. Ngọn Cao Bình nằm trong vòng cung Thiên Sơn. Vòng cung này dài mấy trăm cây số, từ Tây sang Đông. Nếu từ trên cao nhìn xuống, cháu sẽ thấy một dải núi lô nhô, nối tiếp nhau. Có người đã ví vòng cung này như cô trò một lớp mẫu giáo, người sau nắm áo người trước cùng đi. Trên vòng cung này, thường thì những ngọn núi có độ cao lớn mới có tên. Ví như ngọn Lá Chắn, cao nhất là 1.640m; ngọn Hoa Tím, cao thứ hai là 1.578m. Ngọn Cao Bình, chỉ thuộc loại “đàn em”, nhưng cũng đã có tên. Hẳn rằng nó phải có gì đặc biệt. Cháu thử đoán xem, điều đặc biệt ấy là gì nào?

Thiếu phụ tròn xoe mắt, nhìn ông:

- Cháu không biết ạ.

Ông gật đầu nhè nhẹ:

- Nó chính là một kho báu của đất nước. Trong cái kho ấy, có nhiều thứ quý, như vàng, bạc, kẽm, chì… mà hàng triệu năm qua, tạo hóa đã giấu kín trong lòng núi, để các thế hệ người Việt mình khai thác dần, dùng cho quốc kế dân sinh. Chính vì cái kho này, mà con người đã tìm đến đây; nếu không, có lẽ nó vẫn chỉ là ngọn núi không tên và hoang vu. Tiếc là, người tìm đến để mở kho báu này trước, lại là người Tàu, rồi đến người Pháp, chứ không phải người Việt mình. Bây giờ cháu lên đó, sẽ thấy những dấu tích, mà nước ngoài đã khai thác tài nguyên quý trong thời gian chúng xâm lược nước ta. Người Tàu thì khai thác cò con, nhưng lại trong thời gian dài. Ngày nay, mỗi khi xem các phim dã sử của Tàu, thấy các nén vàng, đĩnh bạc, bác lại nghĩ đến những gì họ đã lấy đi từ Cao Bình. Còn người Pháp thì có công nghệ hiện đại, đã khai thác trên quy mô rộng lớn hơn. Và, chính việc người Pháp mở mỏ khai thác, mà hàng nghìn nông dân đã đến đây làm phu mỏ để kiếm sống, trong đó có gia đình nhà cháu và nhà bác…

Thiếu phụ chăm chú nghe. Nàng bảo:

- Cám ơn bác đã cho cháu biết những điều lý thú về Cao Bình. Dịp nào bố cháu lên đây chỉ mỏ cho người ta khai thác, nhất định cháu sẽ đi theo, để được tận mắt thấy Cao Bình…

*

- Cháu Minh này…

- Dạ…

- Bác tên là Biên. Những ngày ở Bắc Lâm, bác sẽ đến thăm bà cháu. Còn mẹ cháu, thì hôm nào cháu về, cho bác gửi lời hỏi thăm, nhá.

- Vâng ạ!

Chợt thiếu phụ rút điện thoại từ túi xách ra, bấm gọi:

- Mẹ à? Con đang trên đường lên thăm bà. Vâng… vâng… Mẹ ơi, con có tin vui cho mẹ đây: Con đang ngồi cùng xe với bác Biên, người trước đây từng sống ở Cao Bình với nhà mình ấy. Bác Biên hỏi thăm mẹ. Mẹ nói chuyện với bác ấy nhá. Vâng… vâng…

Thiếu phụ đưa máy cho ông:

- Mẹ cháu “gặp” bác ạ.

Tình huống bất ngờ này đã khiến ông lúng túng. Từ chối thì dở, mà “gặp”, thì biết nói gì? Ông và bà Hạnh xa nhau đã mấy chục năm. Bây giờ cả hai người đều đã nên ông, nên bà… Trái hẳn với ông, mặt thiếu phụ lại tươi như hoa. Có lẽ nàng đang nghĩ rằng, sống ở đời mà gặp được người quen, ấy là hạnh phúc. Và, cái hạnh phúc này là của mẹ, nhưng “công” là của nàng. Nàng đâu biết được, mẹ nàng và người mà bà sắp “gặp”, là những nhân vật trong một câu chuyện dài. Trong khi nàng vui với “thành tích” của mình, thì ông Biên lại trở về với những năm tháng thời tuổi trẻ của mình…

Ngày ấy, Biên và Hạnh còn nhỏ lắm. Cả hai cùng có bố, mẹ là phu mỏ cho người Pháp. Sau khi Pháp bị Nhật đảo chính, thì mỏ tan. Cả nghìn thợ mỏ thất nghiệp, nhiều gia đình đã ra đi tìm nơi sinh sống. Một số ít gia đình không đi đâu được, trong đó có gia đình Biên và gia đình Hạnh, thì ở lại Cao Bình, lần hồi kiếm sống. Rồi số phận đã khiến cả Biên và Hạnh trở thành trẻ mồ côi. Vậy mà họ đã lớn lên bằng sắn, bằng khoai, bằng măng rừng, rau núi và sự đùm bọc của xóm thợ. Năm Biên 15 tuổi, thì anh có giấy gọi đi học Bổ túc văn hóa Công – Nông, tiếp đó Biên lại được chọn đi học khoa Mỏ – Địa chất, thuộc trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Ngày Biên đi, Hạnh mới 10 tuổi. Hôm ấy Hạnh phụng phịu bảo:

- Anh đi rồi, chả có ai lấy hoa trứng gà cho em nữa…

Nhìn Hạnh, Biên thấy thương thương. Biên biết từ nhỏ Hạnh đã yêu hoa. Có lần Biên thấy Hạnh nhổ một nắm hoa chua me, bó lại, rồi ngồi ngắm. Anh hỏi: “Em làm gì thế?”. Hạnh ngước lên, hỏi lại: “Anh thấy đẹp không?”. Biên nhìn lọn hoa chua me trong tay Hạnh, tuy bông nhỏ, cánh mảnh mai, nhưng gộp nhiều bông lại vẫn được một bó hoa thật đẹp. Từ đấy chính Biên cũng thấy thích loại hoa này. Một lần, lúc đó Hạnh 9 tuổi, Biên đi lấy củi, thấy một loại hoa rừng, nụ bằng quả trứng gà, cánh hoa trắng muốt, có hương thơm dìu dịu. Biên lấy mấy bông về tặng Hạnh. Hạnh thích lắm, đặt tên cho nó là hoa trứng gà. Thế là sau đấy, mỗi lần đi lấy củi, Biên đều mang về mấy bông trứng gà tặng Hạnh.

Ở Hà Nội, trong suốt 7 năm, Biên chỉ tập trung vào học tập, không nghĩ đến điều gì khác. Cho đến một ngày nọ, trên đường từ nhà ăn về ký túc xá, Biên chợt thấy một đám chua me đã ra hoa. Bất giác, anh nhổ một nắm, bó lại, mang về phòng để vào chiếc lọ đặt ở đầu giường. Mỗi lần ngắm nhìn bó hoa, anh lại nhớ về những năm tháng ấu thơ của mình, rồi anh nhớ đến Hạnh. Anh nhẩm tính, Hạnh đã 17 tuổi. Chợt anh thấy lòng mình nao nao, như nhớ, như thương ai đó. Khánh, người bạn thân, cùng phòng với anh thấy vậy, hỏi: “Cậu sao thế?”. Biên đã nói với Khánh cái cảm giác của mình về hoa chua me, rồi kể về Cao Bình và Hạnh, cô bé yêu hoa đang sống ở đó.

Năm ấy nhà trường tổ chức cho sinh viên đi thực tập. Biên được phân công tới đoàn địa chất ở vùng than, còn Khánh được phân công về đoàn địa chất tìm kiếm kim loại mầu ở vùng Cao Bình. Anh viết lá thư, nhờ Khánh chuyển tới Hạnh. Anh nghĩ, mình xa Hạnh đã 7 năm, nên anh chỉ viết vài lời thăm hỏi sức khỏe của bà Thái và chị em Hạnh, rồi kể chuyện anh đã hái hoa chua me để ở đầu giường, mỗi khi nghĩ về Cao Bình… Hôm Khánh về, Biên chờ mãi chẳng thấy cậu ta nói gì, đành hỏi: “Hạnh thế nào?”. Khánh bảo “Không gặp”. Nghe vậy, Biên thấy một nỗi buồn man mác len lỏi trong lòng. Anh vẫn đinh ninh khi Khánh trở về, anh sẽ có một lá thư của Hạnh, hay ít ra là mấy lời cô nhắn hỏi thăm. Vậy mà chẳng có gì. Sự hẫng hụt cứ lớn dần trong tim Biên. Anh quyết định ngày ra trường sẽ về Cao Bình để thăm chốn cũ, người xưa. Nào ngờ gần tới nơi, Biên nghe tin Hạnh đang chuẩn bị làm đám cưới. Hỏi ra mới biết, chồng sắp cưới của Hạnh chính là Khánh, bạn anh. Thì ra, Khánh đã ngấm ngầm giành lấy Hạnh về mình.

*

Ông Biên áp chiếc điện thoại di động vào tai. Tiếng bà Hạnh thủ thỉ:

- A lô! Anh Biên đấy à? Em Hạnh đây!

- Chào Hạnh! Cô khỏe chứ?

- Dạ, em vẫn khỏe. Anh chị và các cháu thế nào?

- À… nói chung vẫn ổn, cô ạ.

- Từ ngày đi, anh có dịp nào về Cao Bình không?

- Có…

Suýt nữa ông buột miệng: “Ngày ấy tôi về vào lúc cô đang chuẩn bị làm đám cưới”, may kịp sửa lại: … Tôi có về vài lần, cũng đã lâu rồi”.

- Hồi ấy em nghe tin anh đã… Mà anh xa Cao Bình, cũng mấy chục năm rồi đấy nhỉ?

- Ờ, mấy chục năm rồi… Thế, ông Khánh khỏe không?

- Anh ấy khỏe. Anh cũng biết ông Khánh nhà em à?

- Biết chứ!

- Vậy mà…

Bà Hạnh bỏ lửng câu nói, rồi chợt bảo:

- Anh à! Gặp anh thế này, em rất vui. Nhưng chuyện trong mấy mươi năm dài lắm. Anh cho em số máy, rồi em sẽ gọi lại anh sau, nhá. Cho em gửi lời thăm chị ấy và các cháu.

Tạm biệt anh.

*

Từ nãy thiếu phụ vẫn lắng nghe cuộc nói chuyện giữa hai người. Chợt nàng mỉm cười:

- Xem ra bác với mẹ cháu thân nhau lắm nhỉ?

Ông hạ giọng:

- Hôm nào về hỏi mẹ Hạnh, cháu sẽ rõ.

Thiếu phụ vẫn mỉm cười:

- Cháu đoán hồi trẻ bác rất lành. Nam giới bây giờ, gặp người xinh đẹp như mẹ cháu, họ không để tuột khỏi tay như bác đâu!

Ông giật mình trước ý kiến của cô gái. Ông nhận ra lớp trẻ ngày nay không chỉ thoáng, mà còn rất tinh tế. Rõ là họ khen, mà hóa ra là chê người ta. Ví như cô gái vừa khen ông là “lành”, cũng có thể hiểu là cô chê ông “đần”. Mà ngẫm ra, thì ông đần thật. Giá như ngày ấy ông đừng bỏ đi, mà ở lại gặp Hạnh, chúc mừng hạnh phúc của cô, thì mình vừa tỏ ra là đấng “quân tử”, lại vừa phơi bày được việc làm khuất tất của Khánh. Và, biết đâu…

Thiếu phụ thấy ông có vẻ suy tư, nàng chột dạ:

- Xin lỗi bác, cháu đùa thôi. Cháu vẫn bị mẹ mắng về cái tính tếu táo ấy, mà chưa sửa được.

- Không sao đâu cháu! Con người ta phải biết vui đùa chứ. Là bác đang nhớ về chuyện cũ thôi mà.

Nàng lại hỏi:

- Bác cũng biết bố cháu ạ?

- Bác biết. Bố cháu là kỹ sư địa chất. Nghề của bố cháu là vinh quang lắm đấy.

- Vâng ạ! Bố cháu bảo, nghề của ông là đi tìm tài nguyên làm giầu cho đất nước. Nếu không có những người làm nghề này, thì đất nước có “của chìm” mà vẫn nghèo.

- Ờ… Bố cháu nói đúng đấy.

- Bố cháu bảo, người làm nghề địa chất, chỉ cần nhìn địa mạo cũng biết trong lòng đất có gì. Bố cháu còn bảo, người cán bộ địa chất giỏi, chỉ cần đặt tai xuống đất mà nghe, ghé mũi xuống đất mà ngửi, đã biết được trong lòng đất có loại khoáng gì và hàm lượng của chúng bao nhiêu.

Ông mỉm cười:

- Bố cháu nói đùa đấy.

- Không! Bố cháu nói thật, bác ạ. Hiện bố cháu vẫn đang làm thế mà.

- Vậy cháu kể bác nghe nào.

- Dạ, bố cháu đang làm chuyên gia cho Công ty tư vấn khai thác mỏ, do em cháu làm giám đốc. Công việc của bố cháu là đi hiện trường để chỉ chỗ cho những người ký hợp đồng tư vấn với công ty của em cháu khai thác. Mỗi hợp đồng như thế, người ta trả cho công ty của em cháu một khoản kha khá. Mà bố cháu chỉ đúng chỗ lắm, bác ạ. Có người đã trúng ục, thu được cả tấn vàng. Có ông cai vàng được nhiều quá, phải thuê 5 người “nhà nước” hộ tống về nhà. Được cái, ông cai vàng này chơi cũng đẹp. Ngoài trả tiền theo hợp đồng, ông ta còn tặng mỗi người đi hộ tống một xe máy loại tốt.

Thấy ông Biên chú ý nghe, nàng nói tiếp:

- Bây giờ người ta đến làm hợp đồng với công ty của em cháu nhiều lắm. Thôi thì đủ các loại mỏ; từ vàng, bạc, đá quí, đến chì, kẽm, thiếc, ti-tan và nhiều thứ quý khác nữa. Bố cháu bảo, hầu hết họ là các “đại gia”, có nhà “tựa lưng vào núi”. Họ đã mạnh, lại bạo nữa. Thế nên bố cháu phải đi hiện trường liên tục.

Ông gật gật nhẹ đầu, như khích lệ người nói.

- Cháu nghe nói, việc khai thác mỏ, lấy quặng đi bán, lúc này trúng lắm. Chỉ cần làm việc này một thời gian ngắn, người bình thường sẽ thành “đại gia”, “đại gia” rồi thì thành “đại gia” lớn hơn. Thành “đại gia” rồi thì địa vị xã hội sẽ cao lên. Có ông chỉ sau mấy năm đào quặng bán, tên tuổi đã nổi như cồn, chơi thân với quan chức như ruột thịt. Lại có ông, trước đó chưa lâu, còn bị dư luận coi là “quặng tặc”, vậy mà mấy năm sau đã có được chiếc ghế sang ở một nơi quan trọng.

Chợt ông hỏi:

- Thế em cháu cũng có chuyên môn về mỏ – địa chất à?

- Dạ không ạ. Em cháu là họa sĩ. Nó chỉ đứng tên cho có danh nghĩa thôi, còn “linh hồn” của công ty là bố cháu.

- Ra thế.

- Bác ạ, gọi là công ty cốt để có pháp nhân thôi. Em cháu là giám đốc, nhưng việc của nó là đi vẽ. Công ty có thuê một kỹ sư mỏ mới ra trường, cũng chỉ để chứng tỏ công ty có khả năng chuyên môn, chứ người này chỉ quanh quẩn làm việc hành chính ở công ty. Thế nên bố cháu vất vả lắm.

Nghe thiếu phụ nói, ông Biên chợt buông một tiếng thở dài. Ông đang nghĩ đến “Lời thề khoáng sản”, mà khóa sinh viên địa chất ngày ấy, trong đó có ông và ông Khánh đã xây dựng. Hồi ấy, trong một lần lên lớp, thầy giáo chủ nhiệm nói rằng: “Tài nguyên khoáng sản là tài sản quý của quốc gia. Một đất nước mà không có nó, thì khó tránh khỏi nghèo nàn. Nhưng giầu tài nguyên mà không biết giữ, thì lại có thể sinh họa”. Ngày ấy hiểu biết của ông còn hạn hẹp. Ông chỉ liên hệ lời thầy giảng vào những gì ông thấy ở Cao Bình. Ở đó, ông đã từng vào các lò Tàu, lò Tây để xem. Lò Tàu thì nhỏ hẹp, có chỗ chỉ vừa cho một người bò qua. Người Tàu mở lò lấy quặng ra, luyện ngay trước cửa lò. Vàng, bạc họ mang về nước, để lại những cái lò rỗng trong núi và những bãi xỉ ở ngoài. Phải sau này ông mới biết được chúng đã khai thác từ triều Minh về trước. Còn các lò Tây, do người Pháp mở, thì rộng, không chỉ người đi mà cả những chiếc xe goòng (wagonnet) cũng vào ra được dễ dàng. Người Pháp thì lấy chì, kẽm, bạc, vàng và nhiều thứ khác mang đi luyện ở xa. Về kỹ thuật khai thác, thì Tàu và Tây có khác nhau, nhưng rút cục là họ đều đi cướp tài nguyên của nước mình. Một lần khác thầy chủ nhiệm nói vui. Thầy hỏi: “Nếu tài nguyên khoáng sản biết nói, thì theo các em, nó sẽ nói gì?”. Có đôi ba người phát biểu, nhưng không đúng ý thầy. Thầy bảo: “Nó sẽ nói hai điều: Một là, từng gram khoáng sản đã thấm máu đào của bao thế hệ người Việt. Hai là, trữ lượng của nó là hữu hạn; giầu mấy, khai thác mãi rồi cũng hết. Vì thế, phải dùng nó một cách có lợi nhất cho đất nước và đời trước dùng, phải nghĩ đến đời sau…”.

Từ lời của thầy, các sinh viên đề xuất cần xây dựng Lời thề về khoáng sản. Nhà trường hoan nghênh và giao cho, cứ hai sinh viên xây dựng một bản. Trên cơ sở ấy, nhà trường sẽ tổng hợp, làm thành một bản chung, lưu hành nội bộ. Bản của ông và ông Khánh được đánh giá cao nhất và được tuyên dương trong toàn khoa. Ông còn nhớ, bản viết của hai người có những điều sau:

1. Tài nguyên khoáng sản thuộc bí mật quốc gia; không ai được tiết lộ vì mục đích tư lợi.

2. Phải đảm bảo rằng, khoáng sản mang lại lợi ích cho toàn dân tộc. Không ai được biến nó thành lợi riêng, dưới bất cứ hình thức nào.

Cuối cùng kết thúc bằng câu:

Vi phạm một trong những điều trên, là trọng tội với dân tộc.

Ông còn nhớ rõ, điều 2, lúc đầu ông Khánh viết: “Tài nguyên khoáng sản của quốc gia, không phải là con trâu chết, mà ai cũng có thể vác dao đến xẻ thịt…”. Vì cách nói này không hợp với thể văn tuyên ngôn, nên ông đã thuyết phục Khánh sửa lại như trên. Nào ngờ bây giờ thì chính ông Khánh đã vi phạm lời thề ấy. Ông ấy đã bán tài liệu địa chất một cách tinh vi, biến nguồn tài nguyên khoáng sản của quốc gia thành “con trâu chết” để người ta xẻ thịt.

Thấy ông có vẻ trầm tư, thiếu phụ hỏi:

- Bác sao thế ạ?

- Bác không sao. Minh này, lúc nãy cháu nói, dịp nào bố cháu lên Cao Bình chỉ mỏ cho người ta, cháu sẽ đi cùng lên đó à?

- Vâng, bố cháu sắp có chuyến đi ạ.

- Vậy bác chúc cháu có một chuyến đi bổ ích. Lên đó cháu sẽ thấy cụ thể hơn về Cao Bình và những gì bác nói.

Bất giác, ông thấy lòng mình buồn rượi. Gần hết đời rồi, mà ông còn chưa hiểu nổi một người bạn, thì ông hiểu được ai?

Nguyễn Văn
(TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 415

Ý Kiến bạn đọc