Thầy thuốc Văn nghệ

Loét dạ dày

 

Loét dạ dày là vết loét ở lớp lót bên trong dạ dày và phần trên của ruột non.

Các nguyên nhân phổ biến của loét dạ dày là nhiễm vi khuẩn HP (Helicobacter pylori) và sử dụng lâu dài aspirin hay thuốc chống viêm không steroid.

Triệu chứng loét dạ dày thường là đau thượng vị, có cảm giác đầy hơi hay ợ hơi, không ăn được thức ăn béo và hay buồn nôn. Axit dạ dày làm cho cơn đau tồi tệ hơn, nhất là khi dạ dày trống rỗng. Cơn đau thuyên giảm khi ăn một số loại thực phẩm đệm axit dạ dày hay uống thuốc giảm axit. Cơn đau tồi tệ hơn giữa các bữa ăn và vào ban đêm.

Đôi khi loét dạ dày gây ra các dấu hiệu nghiêm trọng như nôn ra máu, phân có màu đen như hắc ín.

Ống tiêu hóa phủ một lớp chất nhầy bảo vệ chống lại axit. Nhưng nếu lượng axit tăng lên hay lượng chất nhầy giảm, ta bị loét dạ dày. Nguyên nhân phổ biến bao gồm vi khuẩn HP sống trong lớp nhầy. Vi khuẩn gây viêm lớp bên trong dạ dày và đưa đến loét dạ dày.

So-549--Anh-minh-hoa---Loet-da-day---Anh-1

Vi khuẩn HP lây truyền từ người này sang người khác qua tiếp xúc gần gũi như hôn hít. Mọi người cũng nhiễm HP thông qua thực phẩm và nước, nói nôm na là ăn chung và uống chung.

Uống aspirin cũng như thuốc chống viêm không steroid gây kích ứng và viêm niêm mạc dạ dày và ruột non. Những loại thuốc này bao gồm ibuprofen, naproxen và ketoprofen. Loét dạ dày thường gặp ở người lớn tuổi dùng các loại thuốc giảm đau này thường xuyên để điều trị viêm xương khớp.

Dùng một số loại thuốc khác như steroid, thuốc chống đông máu, aspirin liều thấp, thuốc ức chế tái hấp thu serotonin và alendronat cũng gây loét dạ dày.

Không điều trị, loét dạ dày có thể biến chứng chảy máu trong gây thiếu máu hay mất máu nghiêm trọng.

Loét dạ dày có thể gây một lỗ thủng xuyên qua thành dạ dày hay ruột non gây nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng khoang bụng gọi là viêm phúc mạc.

Để phát hiện loét dạ dày, thầy thuốc hỏi tiền sử bệnh nhân và khám sức khỏe tổng quát. Sau đó, thầy thuốc làm xét nghiệm trong phòng thí nghiệm tìm vi khuẩn HP bằng xét nghiệm máu, phân hay qua hơi thở. Kiểm tra hơi thở là phương pháp chính xác nhất. Xét nghiệm máu nói chung là không chính xác và không nên sử dụng thường xuyên.

Nội soi là phương pháp kiểm tra hệ thống tiêu hóa trên. Trong khi nội soi, thầy thuốc đưa một ống nội soi xuống thực quản, dạ dày và ruột non tìm vết loét.

Nếu phát hiện vết loét, các mẫu mô sinh thiết được lấy ra để kiểm tra trong phòng thí nghiệm. Sinh thiết cũng xác định HP có trong niêm mạc dạ dày hay không.

Đôi khi thầy thuốc chụp hình ống tiêu hóa có chất cản quang, gọi là chất barium. Loạt tia X tạo ra hình ảnh rõ ràng của thực quản, dạ dày và ruột non.

Thông thường việc điều trị liên quan đến tiêu diệt vi khuẩn HP, ngưng sử dụng thuốc kháng viêm và giúp vết loét lành lại bằng thuốc.

Thuốc kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn HP bao gồm amoxicillin, clarithromycin, metronidazol, tinidazol, tetracyclin và levofloxacin.

Ta cần dùng kháng sinh trong hai tuần kèm theo các loại thuốc bổ sung để giảm axit dạ dày bao gồm thuốc ức chế bơm proton. Thuốc này làm giảm axit dạ dày bằng cách ngăn chặn hoạt động của tế bào sản xuất axit. Những loại thuốc này bao gồm omeprazol và pantoprazol.

Thuốc chẹn axit còn gọi là thuốc chẹn histamin H-2 làm giảm lượng axit dạ dày giải phóng vào đường tiêu hóa giúp giảm loét dạ dày và chữa lành. Thuốc bao gồm ranitidin, famotidin và cimetidin.

Thuốc kháng axit trung hòa axit dạ dày và giúp giảm đau nhanh chóng. Tác dụng phụ bao gồm táo bón hay tiêu chảy.

Bs Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 549

Ý Kiến bạn đọc