Thầy thuốc Văn nghệ

Loãng xương

 

Loãng xương làm cho xương trở nên yếu, giòn và dễ gãy đến mức chỉ cần ngã nhẹ, cúi xuống hay ho cũng gây ra gãy xương. Xương là mô sống liên tục bị phá vỡ và thay thế. Loãng xương xảy ra khi việc tạo xương mới không theo kịp việc loại bỏ xương cũ.

Loãng xương ảnh hưởng đến nam giới và phụ nữ. Nhưng phụ nữ châu Á đặc biệt là phụ nữ lớn tuổi mãn kinh có nguy cơ cao nhất. Thuốc, chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục giúp ngăn ngừa loãng xương.

Thông thường không có triệu chứng trong giai đoạn đầu. Nhưng khi xương đã bị suy yếu, các dấu hiệu bao gồm đau lưng, mất chiều cao, tư thế khom lưng và dễ gãy xương.

So-538--Anh-minh-hoa---Thay-thuoc-van-nghe---Loang-xuong---Anh-1

Xương luôn ở trong trạng thái đổi mới liên tục. Khi còn trẻ, cơ thể tạo ra xương mới nhanh hơn phá vỡ xương cũ nên khối lượng xương tăng lên và đạt đỉnh cao vào năm 20 tuổi. Khi già đi, khối lượng xương mất nhanh hơn so với được tạo ra. Khối lượng xương đỉnh càng cao, ta càng có nhiều “xương trong ngân hàng” và càng ít mắc bệnh loãng xương.

Nồng độ nội tiết tố giới tính giảm có xu hướng làm suy yếu xương. Việc giảm nồng độ estrogen ở phụ nữ khi mãn kinh là một trong những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh loãng xương. Đàn ông cũng giảm dần nồng độ testosteron khi có tuổi.

Quá nhiều nội tiết tố tuyến giáp cũng gây loãng xương.

Loãng xương cũng có liên quan đến tuyến cận giáp và tuyến thượng thận.

Thiếu canxi đóng vai trò trong sự phát triển của bệnh loãng xương.

Gãy xương là biến chứng nghiêm trọng nhất của bệnh loãng xương. Gãy xương hông thường do té ngã và dẫn đến tàn tật thậm chí tử vong.

Trong một số trường hợp, gãy xương cột sống xảy ra ngay cả khi không bị té ngã. 

Dinh dưỡng tốt và tập thể dục thường xuyên là điều cần thiết để giữ cho xương khỏe mạnh trong suốt cuộc đời.

Trọng lượng dư thừa làm tăng nguy cơ gãy xương ở cánh tay và cổ tay.

Mật độ xương được đo bằng máy sử dụng tia X thấp để xác định tỷ lệ khoáng chất trong xương. Người bệnh nằm trên bàn khi máy quét lướt qua cơ thể.

Nếu nguy cơ không cao, điều trị tập trung vào việc sửa đổi các yếu tố nguy cơ gây loãng xương và té ngã.

Đối với cả nam giới và phụ nữ có nguy cơ gãy xương, thuốc trị loãng xương được kê đơn rộng rãi nhất là bisphosphonat bao gồm alendronat và risedronat.

Tác dụng phụ bao gồm buồn nôn, đau bụng và ợ nóng. Các dạng bisphosphonat tiêm tĩnh mạch không gây khó chịu cho dạ dày nhưng gây sốt, đau đầu và đau cơ 3 ngày.

Estrogen bắt đầu ngay sau khi mãn kinh giúp duy trì mật độ xương. Tuy nhiên, liệu pháp estrogen làm tăng nguy cơ đông máu, ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú và bệnh tim.

Raloxifen bắt chước tác dụng có lợi của estrogen đối với mật độ xương ở phụ nữ sau mãn kinh mà không có một số rủi ro như estrogen.

Ở nam giới, chứng loãng xương liên quan đến suy giảm testosteron. Liệu pháp thay thế testosteron giúp cải thiện các triệu chứng của testosteron thấp.

Nếu thất bại với phương pháp điều trị trên cho bệnh loãng xương, thầy thuốc đề nghị thử dùng denosumab. So với bisphosphonat, denosumab cho kết quả tốt hơn và làm giảm khả năng gãy xương. Denosumab được tiêm dưới da 6 tháng một lần.

Teriparatid mạnh mẽ tương tự như nội tiết tố tuyến cận giáp và kích thích sự phát triển xương mới. Thuốc được tiêm hàng ngày dưới da. Sau 2 năm điều trị bằng teriparatid, thầy thuốc dùng một loại thuốc trị loãng xương khác để duy trì sự phát triển xương mới.

Bs Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 538

Ý Kiến bạn đọc