Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Lịch sử và viết sử

Tình cờ được đọc những lời phát biểu đăng tải trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 19 và 20 tháng 8 vừa qua trong dịp giới thiệu bộ sách quan trọng “Lịch sử Việt Nam”, tôi xin được đóng góp một số ý kiến sau đây để rộng đường dư luận. Tôi không nói đến việc xem xét lại những gì được ghi trong bộ sách vì được biết các cơ quan hữu quan đang xúc tiến, mà tôi chỉ nói lên quan điểm của tôi đối với những phát ngôn được đăng tải 2 ngày liền trên mặt báo ngõ hầu phân biệt đúng sai.

A. Về thực thể 2 chính quyền từng tồn tại trên đất nước Việt Nam mà Tiến sĩ Trần Đức Cường đã đặt câu hỏi.

Tất cả mọi người đều biết sau Cách mạng tháng Tám (19/8/1945) thành công thì ngày 23/9/1945, nhân dân ta lại bắt đầu ngay cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945-1954), và sau khi đánh bại quân Pháp ở Điện Biên Phủ (7/5/1954), lại tiếp tục kháng chiến chống Mỹ xâm lược (1954-1975).

Có lẽ không có dân tộc nào trong 3 thập kỷ của thế kỷ XX ấy phải chịu đựng liên tiếp 2 cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc của 2 cường quốc số 1, số 2 phương Tây như vậy. Cũng có thể nói không phải chịu 2 mà là hơn 2 cuộc rưỡi chiến tranh, nếu kể cả chiến tranh thế giới thứ II.

Trong 2 cuộc kháng chiến này thì đất nước Việt Nam là bên bị xâm lược, còn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là bên đi xâm lược, điều này chắc các nhà viết sử thế giới cũng không ai có thể phủ nhận. Và trong 2 cuộc chiến tranh đã đi vào lịch sử thế giới thế kỷ XX ấy, các Chính phủ Pháp và Mỹ qua các đời Tổng thống tuy có khác nhau trong phương thức xâm lược, nhưng đều phải dựng lên, dựa vào, sử dụng, nuôi dưỡng và bảo vệ một “chính thể chính trị” bản xứ cam chịu làm bù nhìn, tay sai cho họ, công khai và tàn bạo đối địch lại dân tộc Việt Nam, xâm phạm sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam…

Lịch sử cho thấy, trong cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp, tháng 5/1948 lại có thêm một “thực thể chính quyền” được Toàn quyền Pháp cấp tốc dựng lên, đi giầy Tây, khoác áo veston đứng ra làm chỗ dựa pháp lý cho thực dân Pháp trong cuộc chiến chống lại Việt Nam: đó là “chính quyền” “Quốc gia” Bảo Đại. Thế thì lai lịch của cái “thực thể” này là như thế nào?

Xin được trích một đoạn sau đây trong tập sách “Lịch sử Nam bộ kháng chiến” do đồng chí Võ Văn Kiệt làm Chủ tịch Hội đồng Biên soạn:

“Giải pháp Bảo Đại (con bài vừa của Pháp vừa của Mỹ) đã được Bollaert (Pháp) chuẩn bị từ cuối năm 1947: tháng 12/1947, Bollaert thương lượng với Bảo Đại ở vịnh Hạ Long; tiếp xúc với Bảo Đại 5 lần từ tháng 1/1948, sau đó dựng lên chính phủ trung ương lâm thời do Nguyễn Văn Xuân đứng đầu (ngày 27/5/1948 tại Hong Kong). Chính phủ này được Hội đồng Bộ trưởng Pháp công nhận. Ngày 5/6/1948, tại Vịnh Hạ Long có mặt Bảo Đại, Bollaert cùng với Nguyễn Văn Xuân ký một thỏa ước công nhận Việt Nam “độc lập”. Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ hy vọng những thủ đoạn “trao độc lập” như vậy có thể tạo vốn chính trị cho Bảo Đại để đánh bại kháng chiến. Thế nhưng, phong trào đấu tranh chống giải pháp Bảo Đại diễn ra khắp nơi, nhất là Sài Gòn – Chợ Lớn…” (Lịch sử Nam bộ kháng chiến, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành, trang 418-419).

Anh-minh-hoa---Lich-su-va-viet-su
Bộ sách Lịch sử Việt Nam của Viện Sử học – Ảnh: baoquangngai.vn

Tuy được người Pháp gọi là một chính quyền của một quốc gia độc lập, nhưng cái thực thể chính quyền này không hề có quốc hội, cũng không có hiến pháp. Bản thân cái gọi là quân đội quốc gia cũng hoàn toàn do người Pháp trả lương và trang bị, do quân đội Pháp chỉ huy theo các kế hoạch tác chiến của họ. Như thời kháng chiến chống Pháp, Tiểu đoàn 302 chúng tôi đã nhiều lần tác chiến chống các tiểu đoàn BVN (Bataillons Vietnamiennes – nghĩa chữ Việt là Tiểu đoàn người Việt) của Bảo Đại mà chúng tôi thường gọi là ngụy, cùng với các đơn vị quân đội Pháp, dưới sự chỉ huy thống nhất của các sĩ quan Pháp, càn quét vào các vùng căn cứ kháng chiến ở miền Đông Nam bộ. Và bản thân tôi khi còn là học sinh trung học cũng từng có “duyên nợ” với cái thực thể này trong vụ đàn áp học sinh – sinh viên của chính quyền Trần Văn Hữu, giết chết Trần Văn Ơn và làm bị thương nhiều học sinh khác ngày 9/1/1950.

Còn phía Pháp, họ đã đánh giá Bảo Đại như thế nào? Trong báo cáo tường trình lên Chính phủ Pháp của viên đại tướng 4 sao Revers nói về Bảo Đại có viết: “Con bài Bảo Đại hiện nay đã tỏ ra lỗi thời. Chế độ của ông ta mang quá nhiều tai tiếng, ăn chơi sa đọa” (Giở lại hồ sơ vụ án Revers Mast – xem Mùa thu rồi ngày 23 của Nguyễn Thị Bình).

Rõ ràng người Pháp cũng chỉ nhìn nhận chính phủ Bảo Đại như là một “con bài”, không hơn không kém. Ngay trong Hiệp định quân sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam tại Hội nghị Genève năm 1954, chỉ có Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tạ Quang Bửu và Thiếu tướng Delteil thay mặt Tổng Tư lệnh quân đội Liên hiệp Pháp tại Việt Nam đứng ra ký kết, còn phía “Quốc gia Việt Nam” thì không được phép.

Còn con đường hình thành chính quyền Ngô Đình Diệm, khởi thủy của chính phủ “Việt Nam Cộng hòa” là như thế nào?

Lần theo lịch sử thấy con bài Ngô Đình Diệm đã được Mỹ chuẩn bị từ năm 1949 nhưng mãi vẫn không thành do sự không đồng tình của Pháp. Cho đến năm 1954, trước sức ép không cưỡng nổi của Mỹ, Pháp và Bảo Đại phải chính thức mời Ngô Đình Diệm về Sài Gòn. Ngày 6/7/1954, với sự ủng hộ của Mỹ, Ngô Đình Diệm lập nội các đầu tiên ở Sài Gòn do chính ông ta làm Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội vụ và Quốc phòng. Mục tiêu và yêu cầu cơ bản được người Mỹ đặt ra ngay từ khi có Hiệp định Genève là phải lập lên một chính quyền riêng biệt ở Việt Nam, mang hình thức “độc lập dân chủ” để thực hiện mưu đồ của Mỹ, dùng chính quyền ấy để phá hoại cuộc tổng tuyển cử vào năm 1956 theo các điều khoản của Hiệp định Genève, vĩnh viễn chia đôi nước Việt Nam (Xem tập 12, từ trang 162 trong bộ “Lịch sử Việt Nam” do Trần Đức Cường chủ biên).

Tháng 1/1955, Mỹ chính thức viện trợ quân sự trực tiếp cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Đế quốc Mỹ đã sinh ra và nuôi dưỡng Ngô Đình Diệm nhằm phục vụ âm mưu lâu dài của họ đối với đất nước Việt Nam.từ tố cộng, diệt cộng, lắp sông Bến Hải, “Nối dài biên giới Hoa Kỳ đến tận vĩ tuyến 17”… gây nên biết bao tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Thế nhưng, khi nhận thấy không còn tác dụng thì ra tay hạ sát không thương tiếc “đứa con” từng một thời ngoan ngoãn với mình. Ngô Đình Diệm bị giết ngày 2 tháng 11 năm 1963 tại Sài Gòn bằng một cuộc đảo chính quân sự.

Từ những điều dẫn giải trên đây thấy rằng cả 2 chính quyền Bảo Đại và Ngô Đình Diệm – Việt Nam Cộng hòa đều do ngoại bang là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ dựng lên làm bù nhìn tay sai bán nước, và quyết định số mệnh, không có gì khác.

Còn câu nói của Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hà trong bài báo Tuổi Trẻ cùng ngày: “Tôi từng ủng hộ việc từ bỏ cách gọi chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chính quyền Sài Gòn là ngụy quân, ngụy quyền từ lâu rồi. Cách gọi chính quyền này là “ngụy” rõ ràng mang tính biểu cảm, miệt thị, vẫn còn hơi hướng của đấu tranh quan điểm. Chính quyền Việt Nam cộng hòa có tham gia Liên Hiệp Quốc, tham gia các cuộc đàm phán Paris. Chúng ta phải thừa nhận có một thực thể chính quyền từng tồn tại như vậy. Trước đây do đấu tranh ý thức hệ, phía chính quyền Sài Gòn cũng gọi người lính Miền Bắc là Việt Cộng, Cộng quân. Nhưng bây giờ cần thay đổi cách gọi với tinh thần hòa hợp, hòa giải dân tộc, không mang tính thù hằn chia rẽ nữa”.

Sao lại cho rằng cuộc chiến đấu 21 năm giữa ta với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai chỉ xuất phát từ “đấu tranh quan điểm” hoặc “ý thức hệ”? Nếu không tự cho mình là người đứng ngoài cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thì cần phải khẳng định chính vì bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước mà nhân dân ta phải hy sinh đổ ra biết bao xương máu. Còn việc “Chính quyền Sài Gòn cũng gọi người lính Miền Bắc là Việt Cộng, Cộng quân” – chỗ này xin bổ sung cho Tiến sĩ là họ còn dùng danh từ đó cho những chiến sĩ cách mạng ở miền Nam chớ đâu chỉ ở miền Bắc. Xét ra thì điều này họ nói rất đúng, bởi vì những người được họ gán cho cái danh xưng như trên đều là những chiến sĩ, những đảng viên đang chịu sự lãnh đạo và luôn trung thành với Đảng Cộng sản, cũng tức là trung thành với Tổ quốc Việt Nam. Nhưng lẽ nào lại lấy cách nói của những ngụy quân ngụy quyền để mà so sánh với bên ta rồi đánh đồng giữa phi nghĩa và chánh nghĩa?

Còn “ngụy hay không ngụy”, nên có cách gọi thế nào cho đúng với bản chất?

Chiếu theo chữ nghĩa mà giải thích, nếu gọi đó là những chính quyền bù nhìn tay sai bán nước thì không có gì phải bàn, vì đó là thực chất. Nhược bằng gọi chính quyền của Bảo Đại là “Quốc gia”, của Ngô Đình Diệm là “Việt Nam Cộng hòa” thì đó là ngụy tạo, bởi các chính quyền đó đâu còn gì là “Quốc gia”, là “Việt Nam”, cả hai đều do ngoại bang dựng lên, hay nói theo cách dân gian là “đẻ ra”, để làm tay sai bán nước. Cho nên con Tây, con Mỹ thì phải đặt tên Tây, tên Mỹ, còn cho nó mang cái tên “Quốc gia”, tên “Việt Nam” thì chỉ là mị dân, cốt lấy cái vỏ để lừa bịp mọi người.

Há chẳng phải Hồ Chủ tịch từng gọi đích danh “Ngụy” trong câu thơ chúc Tết: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” đó sao? Bác là người dùng chữ, dùng từ rất chặt chẽ, cho nên dùng chữ “ngụy” để chỉ bọn bù nhìn tay sai bán nước là rất chuẩn, không ai có thể cãi. Đối với “chính quyền Việt Nam Cộng hòa”, trước đây đã gọi như thế và mãi mãi cũng vẫn phải gọi như thế, không bao giờ có thể dùng chữ “từ bỏ”. Việc “từ bỏ cách gọi ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn” là quyền tự do của mỗi người, nhưng chớ bao giờ quên những đau thương mất mát của dân tộc Việt Nam trong quá khứ và những nguyên nhân của nó. Nhưng dứt khoát vẫn phải lên án những ai vin vào lý do hòa giải, hòa hợp mà mập mờ đánh lận con đen, cố tình từ bỏ chữ “ngụy” đối với chính quyền Sài Gòn trước đây để bóp méo lịch sử nhằm bào chữa, chạy tội cho những thế lực tay sai từng phạm những tội ác tày trời đối với nhân dân, bởi làm như thế thì vô hình trung họ đã trở thành đồng lõa.

B. “Không đánh giá nhà Nguyễn phiến diện như trước” (Trần Quốc Cường), và “Nếu cứ nói chính quyền nhà Nguyễn là Ngụy thì chúng ta bảo vệ chủ quyền thế nào khi chủ quyền được trao truyền qua nhiều thế hệ khác nhau? (Dương Trung Quốc).

Ở đây vô tình hay cố ý lẫn lộn mà cả hai đều cùng chung một luồng ý nghĩ? Lấy làm lạ đây là lần đầu tiên tôi được nghe câu nói ấy, mà lại từ miệng của một nhà sử học, bởi xưa nay có bao giờ chúng ta gọi nhà Nguyễn là “Ngụy” vì chúng ta luôn đánh giá rất xứng đáng công lao khai bờ mở cõi của các triều đại nhà Nguyễn. Nhưng cũng rất công bằng khi kết luận Nguyễn Ánh đã có tội lớn vì đã “rước voi giày mả tổ”, cầu viện quân Xiêm và quân Pháp, và một số vua chúa sau này ươn hèn nhu nhược để mất nước vào tay Pháp bằng Hiệp ước Harmand chấp nhận lời “nghị hòa” của Triều đình Huế với điều khoản đầu tiên quy định quyền bảo hộ của người Pháp: “Từ nay, Việt Nam không còn là nước độc lập tự chủ nữa. Từ nay, tất cả các quyền nội trị, ngoại giao đều về tay Pháp…” (Trần Văn Giàu – Luận về những nguyên nhân Việt Nam mất nước về tay Pháp). Chẳng lẽ đánh giá như thế là phiến diện?

Xin nhớ cho rằng Bảo Đại đã thoái vị vào ngày 23 tháng 8 năm 1945, cũng tức triều đại nhà Nguyễn đã kết thúc kể từ ngày đó. Còn việc Bảo Đại đứng ra thành lập “chính quyền Quốc gia” tay sai Pháp là ở vị thế của một người từng là vua, chớ không phải đang là vua để có thể đại diện cho nhà Nguyễn, mà chỉ là một người Việt Nam họ Nguyễn có tên Vĩnh Thụy, thế thôi.

Cho nên nếu cố tình gán ghép cái chính quyền “ngụy” Quốc gia Bảo Đại vào nhà Nguyễn thì dễ làm cho người ta nghĩ rằng mình đang có dụng ý lấy công lao dựng nước và giữ nước của các bậc tiền nhân để khỏa lấp và chạy tội cho Bảo Đại, bởi Bảo Đại chỉ có tội chớ làm gì có công?

C. Về câu “Phục vụ chính trị mà cắt xén lịch sử thì không còn là lịch sử nữa” của GS.NGND Vũ Dương Ninh.

Phải chăng vì đã có chứng cứ cắt xén lịch sử để phục vụ chính trị hay sao mà Giáo sư lại đề cập đến vấn đề này, không khéo lại gieo vào lòng người sự hoài nghi đối với những bộ sách lịch sử được viết trước đây, nhất là những bộ sử đã qua thẩm định bởi các cơ quan được Nhà nước ủy quyền. Nghĩ rằng với vị trí và uy tín của mình, Giáo sư có thể chỉ ra những vấn đề cụ thể, và có những kiến nghị cụ thể đến những người có trách nhiệm.

Lịch sử là một tồn tại khách quan tự thân nó đã hoàn chỉnh như nó vốn có, còn làm thế nào để có được một bộ lịch sử hoàn chỉnh được công nhận thì cần phải bàn, bởi vì bản thân việc đánh giá từng vụ việc vốn rất khó, rồi đáng đưa hay không đáng đưa vào sách sử thường có ý kiến khác nhau, chớ nên nghĩ rằng những việc mà bản thân mình thấy đáng ghi mà chưa được ghi thì vội quy là cắt xén hoặc né tránh.

Theo như tôi được biết thì bất cứ nước nào trên thế giới này cũng vậy, đối với những vấn đề, nhất là những vấn đề chính trị được cho là “nhạy cảm” thì những người lãnh đạo rất thận trọng trong việc phổ biến, có khi là rộng rãi, có khi là hạn hẹp, có khi ngậm miệng đến cả năm bảy chục năm, chớ đâu phải lúc nào cũng nói tuồn tuột ra hết, lại còn ghi thành chữ thành nghĩa, lý do là phải luôn cân nhắc đến nhiều yếu tố đối nội cũng như đối ngoại, đó là việc thường thấy. Điều này tất nhiên có tác động đến việc viết sử, cho nên dứt khoát là trên chừng mực nào đó, trong những lĩnh vực nhất định, trong những khoảng thời gian nhất định, đành phải chấp nhận những “khoảng trống lịch sử” trong những bộ sách viết về lịch sử. Vấn đề ở chỗ cần có cách đánh giá thật sáng suốt, cân nhắc thiệt hơn về thời gian và yêu cầu đưa một nội dung nào đó vào sử sách. Chúng ta đang sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mà quyền lợi chung của dân tộc luôn được đặt ở vị trí tối thượng, đại diện cho quyền lợi đó là Đảng Cộng sản cầm quyền, cho nên một mặt yêu cầu dân chủ minh bạch, đó là điều chính đáng, nhưng mặt khác cần có niềm tin, không chỉ trong việc viết sử, bởi một khi đã thiếu niềm tin thì rất dễ nghi ngờ và có khi còn quy chụp quá đáng. Bên cạnh đó cũng phải hết sức tỉnh táo đề cao cảnh giác đối với tác động của những kẻ luôn tìm cớ xuyên tạc, xúc xiểm. Nghĩ rằng điều tôi nói ra trên đây có thể có người đồng tình, mà cũng có người không đồng tình, nhưng xin cho phép tôi cứ giữ quan điểm của mình, bởi như tôi đã nói ngay từ đầu là “để rộng đường dư luận”. Nhớ hoài việc Quang Trung đã đi nước cờ triều cống nhà Thanh sau khi đã giành thắng lợi quyết định trên chiến trường, lý do đâu phải là ngu muội, hèn nhát; còn Hồ Chủ tịch đâu có vui vẻ gì, nhưng cũng thật sáng suốt khi quyết định đứng ra tuyên cáo trước toàn dân: “Hồ Chí Minh không bán nước”. Giở lại lịch sử lắm lúc cảm thấy thật là đau!

Nhân đây, với tư cách là một người lớn tuổi và cũng có thể gọi là đồng hương, xin có đôi lời nhắn nhủ với Dương Trung Quốc, người gốc Bến Tre: Là nhà sử học lớp kế cận, nếu có điều kiện thì nên về Bến Tre tìm đọc các trước tác của Cố Giáo sư Ca Văn Thỉnh, nhà sử học kỳ cựu cùng thời với Trần Huy Liệu, Phạm Thiều, Đặng Thai Mai. Cụ Thỉnh đã có nhiều bài viết về Nguyễn Huệ và Gia Long, có thể giúp bổ khuyết những “lỗ trống” trong hiểu biết lịch sử, ngõ hầu sau này có thể tránh được sai sót như kể trên, cũng như trong việc tư vấn công trình nhà thờ tự họ Đặng ở Long Hưng (Đồng Tháp), cùng một lúc đúc tượng thờ cho cả Quang Trung và Nguyễn Ánh mà tôi từng nói đùa là không khéo có lúc các ông vụt hóa thân rồi đánh nhau tơi bời, sập luôn cả nhà cả cửa.

TP. Hồ Chí Minh, 28/8/2017

Nguyễn Long Trảo
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 467

Ý Kiến bạn đọc