Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Lịch sử rối rắm

Có bạn viết trên Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh đại ý GS. Phan Huy Lê và các vị ở Hội KHLS Việt Nam đã làm rối rắm các vấn đề lịch sử. Đang lành sửa què tức là rối rắm. Xem lại bài Ý nghĩa công pháp quốc tế của các bản Hiệp ước mà triều Nguyễn đã ký với phương Tây (Xưa & Nay, số 487, tháng 9-2017), thì thấy đúng như thế.

Trước hết sự rối rắm bắt đầu từ thay đổi quan điểm cơ bản của sử học mà GS. Phan Huy Lê đưa ra, rằng phải vượt qua rào cản ý thức hệ để nhìn nhận khách quan trung thực về lịch sử, xem Tuổi Trẻ ngày 23-10-2011. Chỉ có người ngoài hành tinh mới suy nghĩ như vậy. Trong thời đại này, nếu vượt qua ý thức hệ này thì sẽ rơi vào một ý thức hệ khác. Làm gì có chỗ trống phi ý thức hệ. Toàn cầu hóa về kinh tế tất kéo theo vấn đề chính trị. Nhưng như thế không có nghĩa là xóa bỏ mọi rào cản ý thức hệ. Quy luật giá trị và thị trường đi tới đâu thì ý thức hệ của giai cấp hữu sản, tài phiệt tài chính đi tới đó. Nó đã đến sông Thị Vải (Đồng Nai) từ mấy năm trước. Nó đã vào cảng nước sâu Vũng Áng (Hà Tĩnh). Suýt nữa thì nó cắm chốt ở chân đèo Hải Vân. Bây giờ nó đang xẻ thịt bán đảo Sơn Trà. Lời thú nhận của ông Võ Kim Cự, nguyên Bí thư – Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh, rằng cứ tưởng họ đầu tư một số tiền lớn như thế thì họ sẽ làm ăn nghiêm chỉnh, ai ngờ… có phải là ý thức hệ đã bị đồng tiền đầu tư làm mờ nhòe đi không? Ngày nay có vẻ nhiều người không muốn nói đến ý thức hệ vì không còn chiến tranh lạnh, chủ nghĩa tư bản không còn đối thủ sau khi Liên Xô và CNXH ở Đông Âu sụp đổ. Nhưng vấn đề dân tộc và xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà nền tảng lý luận là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có là vấn đề ý thức hệ hay không? Tại sao những thế lực chống Cộng ở nước ngoài vẫn thâm thù: Xưa chống Cộng để cứu nước. Nay chống Cộng để kỳ vọng giành lại nước (Giải oan lập một đàn tràng. Hoa Kỳ – 2001), có là một hàng rào ý thức hệ không?

Đây là vấn đề then chốt, nền tảng, định hướng của toàn bộ khoa học xã hội Việt Nam hiện nay, trong đó Sử học và Giáo dục – Đào tạo là hai lĩnh vực quan trọng bậc nhất. Đề nghị GS. Phan Huy Lê hãy nghiêm túc trả lời trước công luận và bạn đọc. Cụ thể trong lĩnh vực Sử học, nếu vượt qua rào cản ý thức hệ thì sẽ biên soạn bộ Quốc sử theo quan điểm nào? Nguyên tắc toàn diện toàn bộ là không thuyết phục. Thậm chí nó có thể là cái bình phong để đưa vào đó những cứ liệu lịch sử ít giá trị hoặc phản giá trị mà chúng tôi sẽ nói dưới đây, qua bài viết của ông Nguyễn Văn Kim. Đó là việc dựng dậy, hồi sinh cho các thây ma lịch sử như các Hiệp ước 1862, 1874 và Élysée.

Ông Nguyễn Văn Kim tỏ ra rất dài dòng sách vở về tiêu chuẩn của một quốc gia độc lập, theo Công ước Montevideo năm 1919, lấy đó để ca ngợi các Hiệp ước 1862 và 1874 là minh thị (explixit), “rõ ràng về một quốc gia Đại Nam có đầy đủ các tiêu chí, đặc tính của một quốc gia độc lập” (Etat independent). Cần gì phải thế. Trước khi ký các Hiệp ước trên thì nước Đại Nam, do nhà Nguyễn nắm quyền đã là một nước độc lập, có chủ quyền. Việc bang giao với phương Bắc – nhà Thanh – và các nước kế cận ở phương Nam chủ yếu là Xiêm-la (Thái Lan) hoặc chuyến đi sứ của Cao Bá Quát đến Mã Lai Đa Đảo, tuy ông chỉ là một nhân viên thường (Hiệu lực quân vụ) đã chứng tỏ Đại Nam là một quốc gia độc lập. Chuyến đi sứ của Nguyễn Du thời Gia Long còn minh thị hơn các Hiệp ước đầu hàng bán nước thời Tự Đức. Còn tiêu chuẩn của một quốc gia độc lập thì ở Việt Nam đã có từ lâu lắm, từ thời nhà Lý, nhà Hậu Lê. Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như nước Đại Việt ta từ trước / Vốn xưng nền văn hiến đã lâu / Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc – Nam cũng khác… Dĩ nhiên là thời đại mới cũng phải xem thiên hạ mới, nhưng cũng đừng quá vọng sách vở bên ngoài. Điều cần phải nhìn nhận nghiêm túc là: Các Hiệp ước 1862 và 1874 về thực chất là các Hiệp ước đầu hàng bán nước và phía kia là xâm lược cướp nước. Mặc dù lời lẽ rất xu mị: nền hòa bình bất tuyệt… Đã chịu để mất đất mất nước mà còn nói đến minh thị, đến một quốc gia độc lập… thì có phải lịch sử của phép thắng lợi tinh thần (A.Q) hay không?

Quan-Phap-rut-khoi-thanh-Ha-Noi-thao-Hoa-uoc-15-3-1874-va-Thuong-uoc-8-1874-ky-voi-trieu-dinh-Hue---Anh-1
Quân Pháp rút khỏi thành Hà Nội theo Hòa ước 15-3-1874 và Thương ước 8-1874
ký với triều đình Huế – Ảnh tư liệu

Vấn đề nghiêm túc của Sử học là phải đặt lại câu hỏi: Tại các Hiệp ước đó (cách nhau một giáp, tức 12 năm), nước Đại Nam có còn là một quốc gia độc lập có chủ quyền hay không? Dân tộc Việt Nam, các thế hệ người Việt Nam từ đó đến nay quan tâm đến sự thực lịch sử: Các Hiệp ước đó là chấp nhận đầu hàng, là bán nước (Phan – Lâm mãi quốc). Đã đầu hàng, để mất nước thì 4 tiêu chuẩn của Công ước Montevideo còn có ý nghĩa gì? Sao lại vẽ rắn thêm chân, dựng thây ma lại cùng nhau nhảy múa hò hét rồi cùng vỗ cùng khen? Chúng tôi chú trọng đến thực tiễn vì từ Hiệp ước 1862 đến Hiệp định Genève (1954), đến Hiệp định Paris (1973), một dòng một chữ của Hiệp ước phải đánh đổi biết bao xương máu của dân tộc. Nếu chỉ giở các Hiệp định, các Công ước ra mà bình luận, thì nghiên cứu lịch sử hóa ra nhẹ nhàng, sạch sẽ, thơm tho quá. Cứ cho rằng, các Hiệp ước 1862, 1874 phía Pháp tôn trọng chủ quyền của nhà Nguyễn, nước Đại Nam đủ tiêu chuẩn đặc tính của một quốc gia độc lập, và Hiệp ước đó là thuận tình kết ước giữa hai bên. Vậy thì GS. Phan Huy Lê, ông Nguyễn Văn Kim và các cộng sự hãy thay mặt Triều Nguyễn trả lời trước dân tộc rằng, vì cớ gì mà Triều Nguyễn nhượng hẳn cho Pháp từ ba tỉnh miền Đông cho đến cả Nam kỳ lục tỉnh? Vì cớ gì mà Đồng Khánh nhượng hẳn cho Pháp các vị trí yết hầu của quốc gia là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng? (Chỉ dụ 1888). Điều 15 – Hiệp ước 1874 – với danh nghĩa giúp Đức vua An Nam chống lại các cuộc phiến loạn, thực dân Pháp đã dùng vũ lực đàn áp tàn bạo phong trào yêu nước của nhân dân ta. Từ 1930, Pháp đã đưa máy bay ném bom đến Việt Nam và đã ném bom xuống Hưng Nguyên (Nghệ An), Cổ Am (Kiến An), đã lập ra hệ thống nhà tù “địa ngục trần gian” từ Côn Đảo đến Sơn La, Hỏa Lò (Hà Nội), Buôn Ma Thuột (Tây Nguyên)… Trên thực tế đó mà nói đến chủ quyền của nhà Nguyễn và quốc gia Đại Nam độc lập đủ tiêu chuẩn quốc tế thì đúng là hài hước, như ông Cao Đức Trường đã nói. Từ văn bản các Hiệp ước đến thực tế trên từng thước đất, từng thân phận con người Việt Nam cách nhau một trời một vực, những núi xương sông máu… Xin hỏi GS. Phan Huy Lê và các cộng sự: Các ông nghiên cứu “tạo dựng những trang sử trên cứ liệu lịch sử” từ văn bản sách vở hay từ thực tiễn đời sống, trên từng tấc đất của Tổ quốc, từng sinh mệnh của người dân? Khẳng định chủ quyền trên văn bản trong khi thực tế không còn chủ quyền. Khẳng định tiêu chuẩn quốc gia độc lập trên văn bản khi thực tế quốc gia không còn độc lập… quả là thứ logic lịch sử kỳ quái núp dưới chiêu bài “nguyên tắc toàn diện toàn bộ”!

Thừa nhận ý nghĩa công pháp quốc tế của các Hiệp ước 1862 và 1874 còn là sự biện hộ cho thực dân Pháp. Không phải Pháp xâm lược Việt Nam, đô hộ Việt Nam mà là được Triều Nguyễn thỏa thuận kết ước. Được nhượng hẳn Nam kỳ và các đô thị Hà Nội – Hải Phòng – Đà Nẵng. Được thỏa thuận cho đóng quân, lập các cứ điểm quân sự trên toàn cõi Trung kỳ và Bắc kỳ khi thấy cần thiết. Từ đồn Mang Cá (Huế) cho đến Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau này. Nếu căn cứ vào văn bản Hiệp ước, theo Chỉ dụ của Đồng Khánh (1888), Pháp có thể đưa ra Tòa án Quốc tế đòi lại Hà Nội – Hải Phòng – Đà Nẵng… thì GS. Phan Huy Lê và các cộng sự phải tranh tụng như thế nào?

Đến đây thì ta thấy không phải ông Cao Đức Trường dại dột mà chính là GS. Phan Huy Lê và các cộng sự đã tiếp tay cho thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sau này. Vì họ chỉ giúp cho đồng minh, cho các ông Ngô Đình Diệm, Phan Huy Quát, Nguyễn Văn Thiệu chống lại sự xâm lăng của Bắc Việt thôi. Ông Đông La nói đại ý Nguyên Ngọc tự nguyện làm miếng giẻ lau vết máu trên gót giày quân xâm lược. GS. Phan Huy Lê lại nối gót Nguyên Ngọc hay sao?

Về Hiệp ước Élysée (1949), nhiều người đã bình luận rất thấu đáo. Nhất là loạt bài Pháp lý hay phi lý? của ông Cao Đức Trường trên VN TP.HCM vừa qua. Ở đây chúng tôi xin nhấn mạnh đến sự tai hại của quan điểm “vượt qua rào cản ý thức hệ” và “thiên chức cao cả của sử học là tạo dựng nên những trang sử từ các cứ liệu lịch sử khách quan trung thực”.

Trên văn bản Hiệp ước, năm 1949 phía Pháp trả lại Nam kỳ cho quốc gia Việt Nam.

Cũng trên văn bản, Tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946 khẳng định Nam bộ là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam.

Trên thực tế, cuối tháng 8-1945, Nam bộ đã thuộc quyền quản lý của chính quyền Cách mạng. Sau bầu cử Quốc hội tháng 1-1946 và tiếp đó, chính quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hợp hiến hợp pháp đã có hệ thống từ trung ương đến địa phương. Sài Gòn – Gia Định và các tỉnh Nam bộ đều có chính quyền, Ủy ban Hành chính – Kháng chiến từ cấp khu, cấp tỉnh đến huyện, xã (cơ sở) đều hoạt động liên tục thực thi quyền lực và trách nhiệm của mình cho đến ngày thi hành Hiệp định Genève (1954), tạm thời phân chia hai miền Nam – Bắc. Nam bộ và toàn miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào do chính quyền miền Nam quản lý. Như vậy, từ khi Cách mạng Tháng 8-1945 cho đến Hiệp định Genève (1954), Nam bộ thuộc quyền quản lý hợp hiến hợp pháp, không gián đoạn của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc Pháp trao trả Nam kỳ lại cho Quốc gia Việt Nam là vô giá trị trên cả pháp lý và thực tế:

- Các Hiệp ước 1862, 1874 đã bị Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố xóa bỏ. Trước đó, chính Triều Nguyễn, Nhà Nguyễn cũng tuyên bố xóa bỏ các Hiệp ước này. Xem Tuyên cáo độc lập của Triều Nguyễn ở Hội nghị Cơ mật ngày 12-3-1945 (Phạm Khắc Hòe. Từ Triều đình Huế đến Chiến khu Việt Bắc). Dựng lại các Hiệp ước 1862, 1874 để trả lại Nam kỳ cho Bảo Đại là việc làm phi pháp về mặt luật pháp và thực tiễn.

Ông Nguyễn Văn Kim phải thừa nhận Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại làm Quốc trưởng chỉ là biện pháp đối phó với dư luận do Pháp dựng lên. Thực chất là tay sai bù nhìn. Chính thể này hoàn toàn vi hiến, phi pháp. Nó là một trò hề để lừa bịp dư luận. Cái Hiệp ước giữa một tên cướp và một tên đầy tớ tay sai thì có giá trị gì đối với công cuộc đấu tranh giải phóng của cả dân tộc ta?

Cũng trên thực tế, Nam bộ của Việt Nam đã được độc lập thống nhất là thành quả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Việc Pháp trả lại Nam kỳ cho Bảo Đại vào năm 1949 là hoàn toàn vô nghĩa. Chẳng những thế, đây còn là sự can thiệp trắng trợn của Pháp đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên thực tế, năm 1946, Pháp phải thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp. Quân Pháp theo chân quân Anh và được Anh – Mỹ ủng hộ, trở lại chiếm Sài Gòn là một thực tế. Vấn đề Nam bộ đang là tâm điểm bất đồng giữa hai bên vì phía Pháp đã dựng lên cái gọi là Nam kỳ quốc. Quá trình đàm phán không thành do phía Pháp ngoan cố, cố tình cướp nước ta một lần nữa. Từ Nam bộ kháng chiến (23-9-1945) cho đến Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) và kết quả như thế nào, mọi người đều biết.

Vì vậy, dựng lại Hiệp ước Élysée, xem là cơ sở pháp lý để Pháp trả lại Nam kỳ cho Quốc gia Việt Nam và cũng là khẳng định chủ quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên vùng đất này là việc làm phản lịch sử, xuyên tạc lịch sử, bất chấp sự thực lịch sử để biện minh cho Quốc gia Việt Nam và sự hào hiệp biết điều của thực dân Pháp (!).

Dù thực dân Pháp cố tình chia để trị, nhưng Nam bộ trên thực tế vẫn là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam từ trước khi Pháp can thiệp và xâm lược Việt Nam. Đưa ra luận điểm Pháp trả lại Nam kỳ cho Quốc gia Việt Nam là phản lịch sử và không kém phần nguy hiểm. Điều mà lịch sử hiện thực, bằng xương máu cả dân tộc Việt Nam phải xóa bỏ thì nay GS. Phan Huy Lê và các cộng sự lại cố tình khôi phục lại. Sự bất chấp lịch sử đến như thế thì người ta có thể tiến lên bất chấp tất cả. Đối với người Việt Nam có lương tri thì Tuyên ngôn Độc lập 1945 là thiêng liêng. Thiêng liêng bởi nó phản ánh đúng đắn lịch sử và khát vọng ngàn năm của cả dân tộc. Từ chiếu dời đô (1010) đến Tuyên ngôn Độc lập (1945) là một hành trình lịch sử không thể nói hết được bằng giấy tờ văn bản, không thể cảm nhận thấu hiểu hết được với những đầu óc lạnh lùng vị lợi đầy thiên kiến. Phải chăng đã đến lúc lập những “đàn tràng giải oan” phục hồi lại những Phạm Thượng Chi, Ngô Đình Diệm, Phan Huy Quát và Nguyễn Văn Thiệu…? Phải chăng đã đến lúc có thể hay chuẩn bị lật ngược lại lịch sử? Đặt Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh là ngang nhau (Dương Trung Quốc), đặt Hồ Chí Minh và Vũ Hoàng Chương là ngang giá trị (TS. Nguyễn Bá Thành).

Chúng tôi hiểu rằng lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến nay là vô cùng rộng lớn. Rất nhiều nội dung phong phú và phức tạp. Trong những năm chiến tranh và sau đó, do những điều kiện khó khăn đến ngặt nghèo, việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử chưa thể đáp ứng được những kỳ vọng của khoa học và của bạn đọc. Cộng đồng dân tộc Việt Nam có đến hơn 50 dân tộc anh em. Dù sự riêng có khác nhau nhưng đã đoàn kết với nhau chung lưng đấu cật dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước được như ngày hôm nay. Lịch sử Việt Nam phải mô tả, phản ánh được quá trình đó, với vị trí và sự đóng góp của mỗi tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trên mảnh đất Việt Nam, có thể nói đến một tính chất cực kỳ quí báu hiếm hoi của một vùng địa văn hóa, đó là tính đoàn kết, hòa đồng bầu ơi thương lấy bí cùng, tính Việt hóa kỳ diệu. Các thái thú Hồ Hưng Dật, tổ họ Hồ; Vũ Hồn, tổ họ Vũ từ phương Bắc tới, đất lành người ở, đã đóng góp rất nhiều cho Tổ quốc Việt Nam. Cụ Tổ của nhà văn Ông Văn Tùng là thầy học của vua Quang Tự nhà Thanh. Khi sang Việt Nam, đã hòa đồng đến mức, năm trước, tàu Hải giám của Trung Quốc xâm nhập lãnh hải Việt Nam, cụ đã tuyên bố, trên báo Văn Nghệ, dù đã vào tuổi bát tuần (80 tuổi), cụ sẵn sàng xếp bút nghiên ra trận. Nhà thơ Hồ Dzếnh đã để lại tình yêu thương cho bạn đọc Việt Nam. Một dân tộc như thế, gạo trắng nước trong, ở một vùng đất lành như thế, không bao giờ kỳ thị, thù hận.

Truyền thống Việt Nam là nhân nghĩa, có lý có tình. Không vì tình mà quên lý. Không vì lý mà bỏ tình. Và mọi sự phải rõ ràng, minh bạch. Lê Lợi vừa thái thịt vừa bốc ăn nhục bất phương vẫn thực, nhưng lịch sử vẫn tôn vinh là anh hùng dân tộc, bậc sáng thế.

Nhà Nguyễn và Chúa Nguyễn cũng phải được nhìn nhận như thế. Để mất nước, dân lầm than… là tội lỗi không thể giảm khinh. Công tích dù lớn như trời bể mà để mất vào tay ngoại bang, thì công tích đó có giá trị gì với đương thời và hậu thế. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã giành lại Tổ quốc từ tay Nhật – Pháp, không phải thừa hưởng trực tiếp từ Triều Nguyễn. Vậy thì ca tụng công tích lịch sử của Nhà Nguyễn có phải là xuyên tạc và xúc phạm lịch sử hay không?

Trong khoa học lịch sử không thể đánh đồng tất cả. Càng không thể dương cái này để lấn át quên lãng cái kia. Trong lịch sử Việt Nam chưa có một vị hoàng đế nào bán nước cầu vinh như Gia Long – Nguyễn Ánh: cầu viện Pháp, cầu viện Xiêm, tiếp viện cho quân Thanh. Cũng không có vị nào như Bảo Đại, đến mức tự nhận mình là con điếm đích thực. Cái đó không nên quên càng không nên tìm cách bào chữa. Và cũng không quên các vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, các hoàng thân quốc thích có lòng yêu nước, có hành động xả thân vì nước… Hải Triều Nguyễn Khoa Văn, Nguyễn Khoa Điềm là cháu đời thứ tư, thứ năm của vua Minh Mệnh. Bà Đạm Phương tức Tôn Nữ Đồng Canh là cháu nội vua Minh Mệnh. Không có vị đại thần nào văn hay chữ tốt nhưng bạc nhược như Phan Thanh Giản. Nhưng hậu duệ đời thứ tư của ông, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt là bậc khai quốc thời nay, được nhân dân kính phục. Cháu nội của Hoàng Cao Khải là vợ của một nhà ngoại giao hàng đầu. Con trai của Phạm Quỳnh là những bậc tài danh như GS. Phạm Khuê và nhạc sĩ Phạm Tuyên. Con rể, cháu rể của Tổng đốc Vi Văn Định là những nhà khoa học yêu nước như GS. Hồ Đắc Di, GS. Nguyễn Văn Huyên, GS. Anh hùng lao động Tôn Thất Tùng… Ở Việt Nam, người và việc, tình và lý cứ đan xen như thế. Nhưng Lê Lợi không che chở được cho Lê Chiêu Thống. Lê Hoàn không che chở được cho Lê Ngọa Triều. Đấy cũng là logic bất biến của lịch sử. Mong rằng Sử học dù đổi mới đến đâu cũng phải tôn trọng các sự thực bản chất của lịch sử. Những điều phải nói với GS. Phan Huy Lê và các cộng sự của ông chỉ mong có như thế. Bởi khi việc và người hiện rõ thì tình lý đều thông. Đó là điều chúng tôi kỳ vọng vào Hội KHLS Việt Nam.

Hà Nội, mùa đông 2017

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 481

Ý Kiến bạn đọc