Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Lịch sử dân tộc không có chỗ cho kẻ “rước voi giày mả tổ”!

Phan Huy Lê, trong bài “Đột phá trong nhận thức về chúa Nguyễn, triều Nguyễn” (Báo Vietnamnet, cập nhật lúc 21 giờ 26 ngày 16-10-2008) đã cho rằng: “Đúng là trong cuộc đấu tranh chống Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã đưa quân Xiêm vào. Trước đây có quan điểm cực đoan gọi đây là hành động “cõng rắn cắn gà nhà”, là “bán nước”. Đúng là không thể biện hộ cho hành động “không sáng” này, cũng có thể coi là một tì vết trong sự nghiệp của Nguyễn Ánh”. Nhưng “phải nhìn nhận công bằng. Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử” (?!). Tiếp đó, Phan Huy Lê cho rằng: “Đã đến lúc cần nhìn rõ công, tội của nhà Nguyễn… Cái gì mà trong một tình thế thời sự nào đó ta phải tôn vinh hoặc hạ thấp thì nó chỉ tồn tại trong một điều kiện nhất định nào đó”.

Nguyen-Anh--cau-vien-Phap-danh-Tay-Son
Nguyễn Ánh cầu viện Pháp để đánh Tây Sơn, mang một mối họa cho nước Việt sau này,
hiện thực đó diễn ra dưới thời Tự Đức – Tranh minh họa.

Người viết xin có đôi lời về những quan điểm này của Phan Huy Lê.

Không có chuyện “việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử” nước ta

Việc Nguyễn Ánh rước quân Xiêm vào nước ta được Phan Huy Lê cho rằng là do “việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử” là nhằm xóa bớt tội của nhân vật lịch sử này, bởi lẽ trong lịch sử Việt Nam, những kẻ cầu viện ngoại bang để giết hại đồng bào của mình chỉ vì muốn giành lại vương vị ngoài những kẻ như Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh thì trước đó không có ai. Có chăng thì có hai kẻ là Trần Ích Tắc và Trần Thiêm Bình.

Khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Việt Nam lần thứ hai (1285), ngày 15-3-1258, Trần Ích Tắc, là một quý tộc nhà Trần, vì sợ chết đã đem cả gia đình đi hàng giặc, được đưa về Trung Quốc và được Hốt Tất Liệt phong làm “An Nam quốc vương” và chờ ngày đưa trở về nước như một cái cớ xâm lược. Sau khi quân Nguyên Mông đại bại, Trần Ích Tắc phải ở lại Trung Quốc và chết ở tuổi 76.

Tiếp đó, bản thân Trần Thiêm Bình chỉ là gia nô của Trần Tông vậy mà cũng mạo xưng là con vua Trần Nghệ Tông để kéo giặc Minh vào xâm lược nước ta. 5000 quân Minh đưa Trần Thiêm Bình về nước làm vua đã bị nhà Đại Ngu đánh cho tơi bời và bản thân Trần Thiêm Bình bị xử lăng trì. Đó là kết cục được nhân dân mong đợi của kẻ bán nước cầu vinh.

Về Lê Chiêu Thống, đã bị nhân dân ta lúc bấy giờ đánh giá: “Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế”.

Khai-Dinh---ten-vua-om-chan-Phap
Khải Định, tên vua ôm chân Pháp – Ảnh: gallica.bnf.fr.

Không những là Phan Huy Lê, Trần Văn Chánh trong “Một quan điểm đánh giá về Nguyễn Ánh và triều Nguyễn” (Báo Văn hóa Phật giáo, số 216, ra ngày 1-1-2015) cũng biện hộ về việc cầu viện ngoại bang, “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày mả tổ” của Nguyễn Ánh. Trần Văn Chánh viết: “Việc cầu cứu Xiêm, cầu viện Pháp để diệt Tây Sơn, có lẽ là điểm khó biện hộ nhất cho Nguyễn Ánh. Tuy nhiên, nếu chịu nhìn nhận vấn đề trên một quan điểm hoàn toàn thực tế và cận nhân tình, người ta sẽ dễ dàng thấy đây cũng là một lẽ tất nhiên trong lịch sử khi có hai thế lực đối đầu nhau mà một bên trước hết cần thủ thắng, rồi sau đó mới tính chuyện khắc phục hậu quả” (?!).

“Tấm gương xấu” đã có nhưng Nguyễn Ánh vẫn lún sâu vào!

Được Nguyễn Ánh cầu viện, sau khi chiếm được một phần đất Gia Định, quân Xiêm đã tìm mọi cách cướp bóc, hãm hiếp phụ nữ, giết hại dân chúng. Trong bức thư gởi cho giáo sĩ người Pháp J.Liot, Nguyễn Ánh đã tỏ ra lo lắng: “Bọn lính Xiêm chạy theo cái cuồng vọng của chúng: Cướp bóc, hãm hiếp đàn bà con gái, vơ vét của cải, giết hại bất kỳ già trẻ. Vì vậy sức mạnh của quân “phiến loạn” càng ngày càng tăng lên trong khi quân Xiêm càng ngày càng yếu đi”. Khi quân Xiêm bị Quang Trung đánh tan tại trận Rạch Gầm – Xoài Mút vào đêm 19 rạng 20-1-1785 thì Nguyễn Ánh không còn trông mong gì vào Xiêm nữa vì “người Xiêm từ sau cuộc bại trận này, miệng thì nói khoác mà lòng thì sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”. Trong bài “Nguyễn Ánh – một ẩn số của lịch sử Gia Long và triều Nguyễn – một thực thể vương quyền Đại Việt” (Tạp chí Sông Hương, cập nhật lúc 16 giờ 7 phút ngày 2-6-2009), tác giả Trần Cao Sơn đã nhận định rất đúng rằng: “Nguyễn Ánh chỉ biết lo cho quyền lợi cá nhân, lại cầu cứu quân Xiêm sang giúp đánh Tây Sơn. Đấy là chưa tính đến hành động giúp lương thảo cho quân Thanh không thành sau khi được tin quân Thanh đã tiến vào Thăng Long cuối năm 1788”.

Ngo-Dinh-Nhiem---bu-nhin-do-My-dung-nen
Ngô Đình Diệm, bù nhìn do Mỹ dựng nên – Ảnh: Báo Life.

Đến ngày 28-11-1787, sau khi giao con trai là Hoàng tử Cảnh cho Giám mục Bá Đa Lộc làm “con tin” cho Pháp, tại cung điện Versailles, Thượng thư Bộ Ngoại giao Pháp là Armand Marc, Bá tước de Montmorin, thay mặt vua Pháp ký với đại diện của Nguyễn Ánh là Giám mục Bá Đa Lộc bản hiệp ước “Tương trợ tấn công và phòng thủ” (thường gọi là Hiệp ước Versailles). Hiệp ước này gồm có 10 khoản, nội dung chính là về việc vua Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến loại frégaté cùng 1.200 bộ binh, 200 pháo binh và 250 lính Cafres (lính da đen châu Phi) và các phương tiện trang bị vũ khí tương ứng. Ngược lại, Nguyễn Ánh chấp thuận nhường cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp, cho phép người Pháp được quyền tự do buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài ở Việt Nam, cung cấp lương thực và quân nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông. Và sau này nước Pháp lại vin vào Hiệp ước Versailles để có cớ xâm lược nước ta, bắt triều đình Huế ký những hiệp ước dâng nước ta cho chúng.

Như vậy, việc bán nước ta do đó không chỉ là từ thời Tự Đức mà là ngay thời Nguyễn Ánh, một nhân vật chỉ vì lợi ích cá nhân mà bán rẻ đất nước. Sau khi lên làm vua, Gia Long đã “trả ơn” bọn xâm lược bằng cách lưu dụng một số người Pháp làm quan lại trong triều và để cho giáo sĩ người Pháp tự do truyền đạo trong nước. Số người Pháp làm quan trong triều giữ liên lạc với chính quyền Pháp. Chúng nhận nhiệm vụ vận động triều đình Huế ký những điều ước ngoại giao, thương mại có lợi cho chủ nghĩa tư bản Pháp. Đặc biệt, Hội truyền giáo nước ngoài và bọn gián điệp đội lốt tôn giáo nấp dưới chiêu bài truyền đạo càng đẩy mạnh hoạt động do thám và gây dựng cơ sở phản động trong nước ta…

Nguyen-Van-Thieu---ke-keu-goi-Nixon-men-bom-tan-nat-mien-Bac
Nguyễn Văn Thiệu, kẻ kêu gọi Nixon ném bom “tan nát” miền Bắc – Ảnh: history.com.

Trước đó, trong tác phẩm “Lịch sử nước ta” (1941), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Ánh như sau:

“Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi giày mả, thiệt là ngu si”

Cần phải kể thêm, không chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà các nhân sĩ, trí thức thời ấy cũng đã lên án triều đình Nguyễn. Chẳng hạn như Ngô Đức Kế qua bài thơ liên châu (4 bài liên tiếp), trong đó có một bài như sau:

“Ai về địa phủ hỏi Gia Long
Khải Định thằng này phải cháu ông?
Một lễ tứ tuần vui lũ trẻ
Trǎm gia ba chục khổ nhà nông
Mới rồi ngoài Bắc tai liền đến
Nǎm ngoái qua Tây ỉa vãi vùng?
Bảo hộ trau dồi nên tượng gỗ
Vua thời còn đó, nước thời không!”

Ở Huế, nhân dân đã truyền tụng câu ca dao phổ biến về Khải Định:

“Tiếng đồn Khải Định nịnh Tây
Nghề này thì lấy ông này tiên sư”

Cho nên: Lịch sử dân tộc không có chỗ cho kẻ “rước voi giày mả tổ”!

Huế, ngày 7-3-2017

Nguyễn Văn Toàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 444

Ý Kiến bạn đọc