Người tốt - Việc tốt

Le Paria – tờ báo đặc sắc do Nguyễn Ái Quốc sáng lập

Kỷ Niệm 97 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2022)

 

Nhằm “tập hợp và hướng dẫn cho mọi người dân các xứ thuộc địa hiện sống trên đất Pháp để soi sáng cho những người dân ở thuộc địa về tình hình mọi mặt ở nước Pháp nhằm mục đích đoàn kết họ; thảo luận và nghiên cứu tất cả những vấn đề chính trị và kinh tế của thuộc địa”, tháng 10/1921, Nguyễn Ái Quốc và một số bạn chiến đấu người Algeria, Tunisia, Morocco… đã sáng lập Hội Liên hiệp Thuộc địa tại Paris. Cuộc họp đầu tiên của Hội được triệu tập vào ngày 9/10/1921.

Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động cách mạng ở các nước thuộc địa, tháng 1/1922, Hội Liên hiệp Thuộc địa cho xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) ngay tại Paris, thủ đô nước Pháp. Giải thích lý do đặt tên báo, Nguyễn Ái Quốc viết: “Người xứ Nghệ nhà choa hay chơi chữ. Nhân dân Pháp cũng thích chơi chữ. Nay ra tờ báo nhỏ ở ngay Paris tuy là tiếng nói đầu tiên của dân chúng thuộc địa, nhưng chưa có thanh thế, thì lấy tên báo là Paria là hay nhất! Paria nguyên là tiếng của Ấn Độ dùng để gọi những người đã mất hết quyền lợi về tôn giáo và xã hội. Nghĩa rộng người Pháp dùng để gọi những ‘Người cùng khổ’” (1).

Trong lời kêu gọi đăng trong số 1, ra ngày 1/4/1922, Le Paria đã nêu rõ tôn chỉ, mục đích của mình: “Báo Le Paria ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Madagascar, ở Đông Dương, ở Antilles và Guyane.

Báo Le Paria tố cáo sự lạm quyền về chính trị, độc đoán về hành chính, bóc lột về kinh tế mà nhân dân trên các lãnh thổ rộng lớn ở hải ngoại là nạn nhân. Báo kêu gọi họ đoàn kết lại để đấu tranh cho sự tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ, hô hào họ tổ chức lại nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi những lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và hữu ái…

Báo Le Paria là vũ khí để chiến đấu. Sứ mạng của nó đã rõ ràng: Giải phóng con người” (2).

Le Paria xuất bản bằng tiếng Pháp. Tên báo viết bằng chữ Pháp ở giữa, bằng chữ Ả Rập ở bên trái, còn ở bên phải thì viết bằng chữ Hán: Lao động báo. Đầu tiên, báo lấy tiêu đề “Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa” (số 1 đến số 20), sau đổi là “Diễn đàn của vô sản thuộc địa”, rồi sau lại đổi là “Cơ quan của nhân dân bị áp bức các thuộc địa” (số 36, 37). Số cuối cùng, số 38 thì lại là “Cơ quan của Hội Liên hiệp Thuộc địa”. Từ tháng 4/1922 đến tháng 4/1926, báo hoạt động được 4 năm, và ra được tất cả là 38 số. Báo xuất bản mỗi kỳ khoảng trên dưới 5.000 bản.

tapchi28--LeParia-to-bao-dac-sac-do-Nguyen-Ai-Quoc-sang-lap---Anh-1
Chủ tịch Hồ Chí Minh và tờ báo Le Paria. (Ảnh tư liệu lịch sử)

Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (tác giả: Trần Dân Tiên): “Việc xuất bản tờ báo Người cùng khổ là một vố đánh vào thực dân”. Bởi trên thực tế, tờ báo được sự đồng tình và ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp; nó được sự giúp đỡ tích cực về mọi mặt của những Việt kiều yêu nước đang sinh sống và hoạt động ở Pháp.

Le Paria bị cấm không cho đưa vào các thuộc địa. Những người đọc nó ở các thuộc địa, nhất là Đông Dương, bị bắt giam và báo ấy bị tịch thu. Bất chấp mọi sự theo dõi, đe dọa, ngăn cấm của nhà cầm quyền Pháp, mặc dù có nhiều khó khăn về tài chính, Le Paria vẫn tiếp tục hoạt động và phát triển.

Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và quản lý tờ báo. Là người tham gia sáng lập và trực tiếp chỉ đạo tờ báo, Người đã viết cho báo nhiều bài thuộc nhiều thể loại khác nhau, bao gồm xã luận bình luận truyện ngắn, tin tức… Người còn vẽ cả tranh châm biếm đả kích. Nhiều bài báo của Người được người đọc đánh giá rất cao như: Động vật học, Những kẻ đi khai hóa, Thù ghét chủng tộc, Phụ nữ Việt Nam và sự đô hộ của Pháp, Khai hóa giết người, Sở thích đặc biệt, Nhân đạo thực dân, Về câu chuyện Xiki, Những người bản xứ được ưa chuộng, Thư ngỏ gửi ông Léon Archimbaud, Bộ sưu tập động vật, Y như nước mẹ, Lòng ngay thẳng của chính phủ thuộc địa, Viện Hàn lâm Thuộc địa, Tinh hoa của xứ Đông Dương, Các vị thống trị của chúng ta, Không phải chuyện đùa, Diễn đàn Đông Dương, Trò Merlin, Tệ độc đoán ở Đông Dương – người được bảo hộ và người đi bảo hộ (từ bài này, Nguyễn Ái Quốc không trực tiếp phụ trách Le Paria nữa), Ách áp bức không từ một chủng tộc nào, Ông Albert Sarraut và bản tuyên ngôn nhân quyền, Lenin và các dân tộc phương Đông, Giáo dục quốc dân…

Trong bài Động vật học (đăng ngày 1/5/1922), Nguyễn Ái Quốc chua chát viết: “Các nhà bác học của B.I.Z.A (British Imperial Zoological Association – Hội Động vật đế quốc Anh) vừa cho biết rằng loài thỏ trước bên bờ Ấn Độ Dương và Bờ biển Libya, vùng biển Đỏ, bắt đầu tỏ ra có những tiến hóa rõ rệt: nó không chịu để người ta bắt một cách dễ dàng nữa và trốn tránh cảnh làm gia súc. Hiện tượng mới đó không khỏi gây lo ngại cho các giới công nghiệp – khoa học trên thế giới, và đặc biệt là cho những giới đó ở đô thị, vì tuy thịt loài vật này không ăn được vì không ướp lạnh được, nhưng máu và mồ hôi của nó lại đã trở thành những thứ không thể thiếu để làm béo những cái máy làm dồi thịt. Để tóm tắt bản trình bày ngắn này, chúng tôi xin nói rằng tên chủng loại của cái giống vật dị kỳ đó là Dân bản xứ thuộc địa (Colonial Indigéna) nhưng tùy theo từng vùng mà nó có tên gọi khác nhau: người An Nam, người Madagascar, người Algeria, người Ấn Độ…”.

Còn trong bài Khai hóa giết người (đăng ngày 1/8/1922), ở phần “T.B” (Tái bút?), tác giả mỉa mai: “Trong khi tính mệnh của một người An Nam bị xem như thân con chó, không đáng giá một đồng trinh, thì ngài Tổng thanh tra Réna bị sướt có một chút da ở cánh tay mà được lĩnh 120.000 franc tiền bồi thường. Ôi, bình đẳng! Bình đẳng quý hóa thay!”. Cũng trên số này, trong bài Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó, đem ra đối xử với trẻ em và phụ nữ, lại càng bỉ ổi hơn nữa. Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi ta thấy rằng văn minh dưới nhiều hình thức khác nhau, như tự do, công lý… – được tượng trưng bằng hình ảnh một người đàn bà dịu hiền và được một hạng người nổi tiếng là hào hoa phong nhã ra sức điểm tô – lại đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người đàn bà bằng xương bằng thịt và xúc phạm một cách vô liêm sỉ tới phong hóa, trinh tiết và đời sống của họ”.

Viết bằng lối văn giản dị, trong sáng và sinh động, những bài báo của Nguyễn Ái Quốc có một nội dung súc tích, phong phú, có tính chiến đấu cao và tính quần chúng sâu sắc. Nêu ra những việc thật, người thật lấy từ trong đời sống hàng ngày ở các thuộc địa, chủ yếu là Đông Dương, bằng những số liệu cụ thể, những chứng cứ rõ ràng, có lý lẽ đanh thép, dùng phương pháp so sánh và lối châm biếm chua cay, Người đã lên án cái gọi là “nền văn minh” của chủ nghĩa đế quốc nói chung và đế quốc Pháp nói riêng. Những lời mà Người dùng để buộc tội đế quốc “nóng hừng hực như một cái súng phun lửa” (3). Dưới ngòi bút sắc bén của Người, bộ mặt giả nhân giả nghĩa của đế quốc Pháp ở các thuộc địa bị vạch trần, cái mà chúng ta gọi là “khai hóa văn minh” thực chất là khai hóa giết người. Những bài báo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc nung nấu lòng căm thù của nhân dân các nước thuộc địa đối với bọn đế quốc xâm lược; kêu gọi họ vùng lên đấu tranh tự giải phóng; biểu lộ những tình cảm sâu sắc đối với nhân dân bị áp bức; và nói lên niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh quật khởi của nhân dân các nước thuộc địa nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng.

Có một trí thức người Pháp, luật sư Max Clainvill Bloncourt (1887 – 1974) đã nhận xét: “Tất cả những bài và tranh ký tên Nguyễn Ái Quốc trên báo Người cùng khổ mang một màu sắc đặc biệt: đó là tinh thần đấu tranh cách mạng triệt để và quyết tâm chống chủ nghĩa thực dân. Xem và đọc những bài và tranh đó, người ta thấy rõ tác giả có một tinh thần tiến công rất chủ động và rất thông minh” (4).

Nguyễn Ái Quốc thực sự là linh hồn của báo Le Paria. Nguyễn Ái Quốc là người phụ trách chính trong việc xuất bản của báo, từ việc tổ chức ban biên tập, tòa soạn, viết bài, sửa chữa, đi in, đem báo về tòa soạn, cho đến việc gửi đi các thuộc địa. Mặc dù trong phần lớn thời gian sống tại Paris, điều kiện sinh hoạt rất khó khăn, thiếu thốn nhưng Người vẫn ủng hộ đều cho báo mỗi tháng 25 franc đúng như đã hứa lúc đầu ra báo. Người nói: “Chúng ta phải bằng bất cứ giá nào làm cho tờ báo sống. Nó mất đi sẽ là một thiệt hại to lớn đối với tổ chức và nhất là đối với công tác tuyên truyền lúc này cần thiết hơn lúc nào hết”.

Khoảng tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc thôi phụ trách Le Paria. Người đã viết thư để lại: “Tôi từ giã các bạn. Tôi xa các bạn, nhưng lòng tôi luôn luôn gần các bạn. Các bạn tha lỗi cho tôi không hôn các bạn trước khi đi. Các bạn biết rằng tôi bị theo dõi riết. Khi các bạn được thư này, Nguyễn của các bạn ít nhất cũng đã xa nước Pháp 24 giờ rồi. Đại, người đồng hương của tôi, sẽ giao lại cho ông B. thìa khóa của tòa báo, giấy tờ và tài liệu của Hội và của tờ báo, cũng như quỹ của tờ báo. Tôi đã trả tiền thuê nhỡ cho tòa báo đến cuối năm. Tiền in cũng đã thanh toán. Chúng ta không mắc nợ ai. Sổ thư viện để ở trong ngăn kéo bên phải. Sách cho mượn đã lấy về, trừ những sách cho những hội viên đi nghỉ mượn. Nói tóm lại, các việc đều đâu vào đấy trước khi tôi đi” (5). Có lẽ nhiều người đọc sẽ cảm động với đoạn trích này, càng thấy yêu quý và kính trọng Bác Hồ của chúng ta, một người đã làm việc quên mình cho tổ chức, cho tập thể bằng tinh thần chu đáo và trách nhiệm cao nhất trong những tình huống khó khăn, thử thách.

Xin nói thêm về tình cảnh hoạt động của báo. Khoảng đầu năm 1923, khi sơ kết tình hình hoạt động của Le Paria sau 9 tháng, Nguyễn Ái Quốc đã báo cáo: tổng thu là: 1.771,4 franc; tổng chi là: 2.845,4 franc. “Ngoài số chi nói trên còn ba quý tiền thuê nhà hết 900 franc do sự ủng hộ của các đồng chí đài thọ, đặc biệt do số tiền 450 franc đồng chí Bloncourt nhận được từ Dahomey… Xin nhận xét rằng, trong 9 tháng qua, trong số 8 đồng chí hứa cho tiền hằng tháng, thì có: 1 đồng chí đi vắng không đóng xu nào, 1 chưa đóng, 1 mới đóng 1 tháng, 2 đóng 2 tháng, 1 đóng 4 tháng, 1 đóng 5 tháng, 1 đồng chí đóng đầy đủ. Để trả được số nợ cũ cho chủ nhà in và tìm một nhà in khác với điều kiện thuận lợi hơn cho báo, thì các đồng chí cần giữ đúng những lời đã hứa góp tiền” (6). Người duy nhất đóng đủ đó chính là Nguyễn Ái Quốc!

Cùng với cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp và những bản tham luận của Người, báo Le Paria đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Marx – Lenin vào Đông Dương và các nước thuộc địa khác. Nó đánh dấu một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta và các nước thuộc địa của Pháp. Đó là một luồng gió mới thổi đến nhân dân các nước bị áp bức.

Báo Le Paria chỉ hoạt động được 4 năm. Có người đã mạnh dạn gọi nó là tờ báo cách mạng của Việt Nam đầu tiên chứ không phải tờ Thanh niên, bởi tuy nó ra đời ở Pháp, viết bằng tiếng Pháp nhưng do một người Việt Nam tham gia sáng lập, tổ chức và điều hành, có nội dung hướng về Việt Nam rất rõ nét. Nhìn nhận đó có thể còn tranh luận nhưng hẳn nhiều người chấp nhận đánh giá: Le Paria có nhiều đóng góp cho phong trào giải phóng dân tộc thế giới, trong đó có Việt Nam, nhất là ở việc truyền bá chủ nghĩa Marx – Lenin! Bởi vậy, đó là một tờ báo đặc sắc!

Nguyễn Minh Hải
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 28

—————
(1) Nguồn: http://btlsqsvn.org.vn/DesktopModules/News.Display/Print.aspx?bai-viet=nguyen-ai-quoc-va-to-bao-le-paria-nguoi-cung-kho-3837
(2) Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 1 (1920 – 1945), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.46-47.
(3) Nhận xét của giáo sư triết học người Nhật Bản Shingo Shibata (1930 – 2001) trong Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng.
(4) Trần Quân Ngọc, Bác Hồ với bạn bè quốc tế, Nxb. Tổng hợp TP.HCM, 2013, tr.100.
(5) Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.209.
(6) Báo cáo gửi Ban Biên tập về hoạt động của báo Le Paria, Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, tr.196.

Ý Kiến bạn đọc